Tĩnh lặng

Thi tập Tĩnh lặng cùng lời bình chú dường như là dấu ấn độc đáo trong địa hạt chuyển ngữ và bình giải văn chương. Chính cái tên Tĩnh lặng đã thu hút sự chú ý của bất kỳ người đọc tình cờ nào.

Viết bởi: Tiến sĩ Ramesh Chandra Mukhopadhyaya

TĨNH LẶNG

Thơ MAI VĂN PHẤN

Bản dịch thơ tiếng Anh: LÊ ĐÌNH NHẤT-LANG

Biên tập bản dịch thơ tiếng Anh: SUSAN BLANSHARD

Bản dịch thơ tiếng Pháp: DOMINIQUE DE MISCAULT

 

 Bình chú: RAMESH CHANDRA MUKHOPADHYAYA

(dựa trên bản dịch thơ tiếng Anh)

Biên tập bình chú tiếng Anh: SUSAN BLANSHARD

Dịch bình chú ra tiếng Pháp và minh họa:
DOMINIQUE DE MISCAULT

Dịch bình chú ra tiếng Việt:

PHẠM MINH ĐĂNG (1 ~ 19) & TAKYA ĐỖ (20 ~ 45 & Lời tựa)

Thi tập Tĩnh lặng cùng lời bình chú dường như là dấu ấn độc đáo trong địa hạt chuyển ngữ và bình giải văn chương. Chính cái tên Tĩnh lặng đã thu hút sự chú ý của bất kỳ người đọc tình cờ nào. Tĩnh lặng ngụ ý một cuộc sống xa rời những bon chen ti tiện của đám đông điên loạn. Nhưng có lẽ cái tên ấy hàm ý nhiều hơn thế. Các giác quan của chúng ta lúc nào cũng bận rộn giao tiếp với những cảnh tượng và âm thanh của cuộc sống trần tục. Những tác nhân kích thích từ thế giới bên ngoài ào ạt xô vào và buộc chúng ta phải hồi đáp khác nào những cú điện thoại di động không mong đợi từ công sở buộc chúng ta phải nghe.

Nhưng hãy thử tưởng tượng một thế giới không có điện thoại di động, không có internet. Thậm chí sự giao tiếp giữa các giác quan với thế giới bên ngoài cũng bị chặn lại. Các giác quan sẽ lập tức dõi vào bên trong. Tai có thể nghe thấy giai điệu Siêu tâm thức[1] – là Lời[2] khi thế giới được Đức Chúa Cha sáng tạo. Có lẽ người này thì ngửi được mùi hương hoặc người kia thì thấy được ánh sáng, thứ ánh sáng chẳng khi nào có ở biển cả hay nơi đất liền[3]. Một khi sự giao tiếp giữa các giác quan ngừng lại thì tâm thức thành vô ưu vô lự và nó có thể phiêu du vào nội tâm. Vậy nên Tĩnh lặng là tập thơ có thể đưa đường chỉ lối cho chúng ta vào những đồng cỏ tươi xanh mà văn xuôi hay văn vần chưa từng cố thử. Và người đọc là tôi, Tiến sĩ Ramesh Chandra Mukhopadhyaya, chẳng thể làm gì khác ngoài nghiền ngẫm tập thơ trân quý này trong Tĩnh lặng. Và tôi cho rằng mỗi bài trong tập thơ này là một thành tựu của nghệ thuật thi ca dẫn dắt người đọc đến những bến bờ tư tưởng và hiện thực lạ lùng của bản ngã.

Đúng là tôi đang phát biểu trên quan điểm của riêng mình bởi bất kể điều gì tôi nói đều không phải là chân lý phổ quát. Tuy vậy, bất kể điều gì tôi nói thì các bạn đọc của tôi đều có thể chia sẻ quan điểm với tôi. Và chính là tôi đã bình chú những bài thơ này theo quan điểm của trường phái Đọc nghiền ngẫm[1]. Ở đây cần phải nói đôi điều về việc bình chú. Đầu tiên là văn bản ở đâu? Văn bản không nằm trong ấn phẩm. Có bao nhiêu người đọc sẽ có bấy nhiêu văn bản, vì rằng mỗi người đọc sẽ đọc ra tâm ý của mình trong văn bản ấy. Tôi viện dẫn Thuyết Tiếp nhận[2] trong văn học. Mỹ học Ấn độ cho rằng “Kaavyam rasaatmakam – vaakyam[1]”. Thi ca là những lời khơi gợi rasa trong người đọc. Rasa hay niềm hân hoan vui thích cư ngụ trong tâm người đọc. Lời một bài thơ chỉ khơi dậy niềm hân hoan vui thích và tình cảm của người đọc hay nói cách khác là rasa vốn sẵn hiện hữu trong lòng người đọc rồi.

Như chúng ta đã thấy rằng mỗi người đọc đọc ra tâm ý của chính mình trong bất kỳ văn bản nào, nên bất kỳ văn bản nào đều có khả năng hàm chứa ý nghĩa ở n cấp độ. Và những bài thơ mà Mai Văn Phấn viết ra bằng tiếng Việt đã khơi gợi tâm trí tôi, một người Ấn Độ, ở cách Hà Nội hơn ba ngàn cây số, khiến tôi bồng bềnh trôi vào đại dương hoan lạc xanh thẳm mà ở nơi cõi tục ta chẳng thấy bao giờ. Và hiển nhiên độc giả là tôi chẳng thể làm gì khác ngoài chia sẻ niềm hoan lạc với các bạn đọc của mình và chia sẻ cả những lời bình chú nữa. Kinh thánh – tiếng nói cao quý nhất trên đời – nói rằng: “Ban đầu có Lời và Chúa phán rằng “Phải có ánh sáng” liền có ánh sáng[2]”. Chẳng phải chúng ta đã đặt câu hỏi từ ban đầu đó sao, rằng “văn bản ở đâu”? Với Mai Văn Phấn thì toàn bộ hiện tồn là văn bản. Năm dòng đầu của bài thơ đầu tiên trong tập Tĩnh lặng viết:

         Trang sách

         Mở mặt đất chữ

         Rừng núi

         Sông hồ

        Những con đường chữ

             (Bài 1)

 Và nhà thơ dường như thể đang tìm cách giải mã hiện tồn. Và ở tâm điểm của cuộc sống phàm trần ồn ào hoạt náo nơi cõi thế, Tĩnh lặng dường đang ngự trị.

       Mạch nước nhỏ trong núi

       Chảy đều

       Xuống lòng hồ không tiếng động

       (Bài 2)

 Cuộc đời của mỗi cá nhân dường như thể một mạch nước chảy đều đều xuống lòng hồ không tiếng động. Và trong tĩnh lặng đó hay dưới chân ngôi tháp thiêng nhà thơ nhận thấy một luồng sáng đang vây lấy ông (Bài 3). Hiện tồn là dòng chảy không ngừng nghỉ. Cái thứ tưởng như cố địnhtrong một tình huống đặc biệt có thể bay như sương hoặc mây. Một chiếc bàn bốn chân với mặt bàn phẳng khi được đặt lên những ngọn sóng thì bồng bềnh như những chiếc lá reo. Chẳng một loài vật nào, dù là động vật hay con người hay côn trùng, là không bị xáo động. Trong một giấc mơ, nằm trong vỏ trứng, nhà thơ dần dần biến thành kiến, chim chóc, gia cầm, ấm áp dưới đôi cánh ấp ủ của mẹ. Chúng ta chẳng thấy hình dáng Thánh linh của Đức Chúa Trời hay chim Bồ câu[1] dang đôi cánh trên hiện tồn đó sao? (Bài 5). Như vậy, Mai Văn Phấn là một nhà thơ rất khác biệt. Lời cất tiếng qua ông và thơ của ông giống như một nhà truyền bá Phúc Âm có thể dẫn dắt chúng ta đi qua hoang mạc hiện tồn đến đỉnh hoan lạc và ân phúc cao ngất trùng mây.

Thật lạ kỳ là những bài bình chú này được viết sau khi nghiền ngẫm bản dịch tiếng Anh của những bài thơ nguyên được viết bằng tiếng Việt. Tiếng Việt về căn bản là ngôn ngữ đơn lập và có thanh điệu. Dịch từ ngôn ngữ ấy sang một ngôn ngữ như tiếng Anh, thứ ngôn ngữ đầy ắp những từ có vần điệu nhưng không đơn lập và được chi phối bởi những trọng âm, là việc vô cùng gian nan. Các dịch giả dịch thơ của Mai Văn Phấn từ tiếng Việt sang tiếng Anh đã làm một công việc phi thường. Văn chương ở bất kỳ quốc gia nào đều mang dấu ấn của văn hóa và triết học của quốc gia đó. Và mỗi nền văn hóa có nền văn chương của riêng nó. Ai là người có thể bắc cây cầu nối hai nền văn hóa hay hai tác phẩm văn chương với nhau? Chính là các dịch giả tài ba. Và bản dịch là vùng giao thoa giữa hai nền văn chương đó. Trong cái thế giới mà đa văn hóa là mục đích tất yếu thì các dịch giả ắt phải có một vị thế đặc biệt. Và thêm đôi lời về dịch thuật ở đây chắc cũng không thừa. Một bản dịch bao hàm một ngôn ngữ nguồn và một ngôn ngữ đích. Mục đích của dịch giả là chuyển nội dung từ ngôn ngữ nguồn sang cách diễn đạt của ngôn ngữ đích. Và bản dịch nào cũng là một thí dụ về sự sáng tạo không trung thành với nguyên bản. Sự mơ hồ là thiết yếu với ngôn ngữ và đặc biệt là với ngôn ngữ thi ca. Những người theo chủ nghĩa hình thức của Nga cho rằng khi ta nói chỉ để biểu thị lời nói thì đó là thơ. Và nhà thơ Pháp Mallarmé[1] cho rằng thi ca được viết bằng lời chứ không phải bằng ý. Và Anu Gita[1] trong cuốn sử thi Ấn Độ lừng danh Mahabharata cho rằng ngôn từ có thể dẫn dắt ta tới những mỹ cảnh mà tâm thức ta chưa từng biết đến.

          Sthaavaram jangamam chaiva vindhyute manasi mama

           Sthaavaram matsakaase vai jangamam visaye tava

          Visayam gachhen mantro varnah svaropi vaa

          Tanmano jangmonama tasmadapi gariyasee[2]

Mai Văn Phấn đã đạt đến tài nghệ này trong thi ca của ông. Và đương nhiên một bản dịch trực nghĩa của bất kỳ bài thơ nào cũng chẳng thể cho chúng ta ý nghĩa đích thực của bài thơ. Và cũng bởi ngôn ngữ về căn bản là mơ hồ, trừ phi ngữ cảnh được xác định rõ ràng. Thường thì một câu, hay một từ hoặc một cụm từ có nhiều hơn một nghĩa. Những nhà phê bình như Derrida[3] chơi chữ vàdiễn giải một đoạn văn xuôi hay một bài thơ bằng hai cách khác nhau. Và cả hai cách đều hợp lý.

Ở đây cũng cần lưu ý rằng chẳng có ý nghĩa nào là cuối cùng cho một bài thơ. Một người có thể viết một ý nghĩa (M1) cho một bài thơ. Ý nghĩa đó có thể được diễn giải tiếp (M2). M2 có thể sinh ra M3. Cứ thế ý nghĩa của ý nghĩa của ý nghĩa hay bình chú của một bài thơ có thể được bình đi bình lại hết lần này đến lần khác. Quá trình ấy có thể tiếp diễn cho đến ngày Tận thế. Cứ thế lặp lại, ý nghĩa của một bài thơ không bao giờ có thể là cuối cùng. Thật thú vị những bài bình chú do tôi viết cho những bài thơ vô song ấy đã được hai dịch giả là Phạm Minh Đăng và Takya Đỗ dịch ra tiếng Việt. Chúng cũng đã được Dominique De Miscault dịch ra tiếng Pháp.

Đôi lời về Dominique De Miscault ở đây hẳn không thừa. Dominique De Miscault, một nghệ sĩ nổi tiếng và một nhà làm phim, đã không quản ngại dịch không chỉ những bài bình chú do tôi viết, mà còn cả những bài thơ trong tập này từ bản tiếng Anh sang tiếng Pháp. Trong mọi bản dịch chắc chắn đều có sự sáng tạo không trung thành với bản gốc. Bởi vì bài bình chú bằng tiếng Anh khi được dịch ra tiếng Việt, thì cách diễn đạt và cách tư duy trong tiếng Việt phải được hiểu thông qua những chỗ hé mở trong bản tiếng Anh. Cũng vậy, cách tư duy và diễn đạt của tiếng Pháp đã thay thế cho cách của tiếng Anh chí ít cũng ở mức độ mà bản dịch tiếng Anh thơ Mai Văn Phấn và những bài bình chú này được dịch ra tiếng Pháp.

Song đó chưa phải là tất cả. Chúng ta đã thấy Dominique De Miscault là một nghệ sĩ, một họa sĩ, một nhiếp ảnh gia và một nhà làm phim. Chị là người đa tài. Chị đã minh họa cho những bài thơ ấy. Một bài thơ viết bằng lời. Nó chuyển dịch theo thời gian và hiển thị bằng thời gian. Cái hiển thị bằng thời gian ấy đã được chuyển ngữ thành những bức tranh, và bởi vậy nó hiển thị bằng không gian, đó đích thực là một tài nghệ tuyệt vời. Bằng cách ấy những bài thơ của Mai Văn Phấn trong tập thơ này đã được dịch và bình chú ở nhiều cấp độ cả hình ảnh và ngôn ngữ.

Tôi rất ngạc nhiên vì tài nghệ đáng kinh ngạc của chị Dominique De Miscault. Chị đã tặng chúng ta bản diễn dịch bằng hình ảnh của một tác phẩm nghệ thuật bằng lời. Xin chúc mừng chị. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc tới các dịch giả: Dominique De Miscault, Phạm Minh Đăng và Takya Đỗ, cũng như hai nhà thơ Lê Đình Nhất Lang và Susan Blanshard đã tặng cho chúng ta bản dịch tiếng Anh của thi phẩm này. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đến nhà thơ Mai Văn Phấn, người đã viết nên những bài thơ lay động con tim của những cư dân vùng núi – những cư dân Hy Mã Lạp Sơn và những cư dân ở phía bên kia các biển và các đại dương.

 

Tiến sĩ Ramesh Chandra Mukhopadhyaya







Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 06/07/2018

Tin khác

Cây ngọc bút vẫn nở hoaCây ngọc bút vẫn nở hoa
Trạm thu phí quái lạTrạm thu phí quái lạ
Sự im lặng của bầy cừuSự im lặng của bầy cừu

Tin mới nhất

CÀ CUỐNG
CÀ CUỐNG

Cà cuống, một con vật ẩn mình dưới bùn đen, lại vừa là biểu tượng, vừa là hiện thân của những triết lý sâu sắc. Cái biểu tượng của triết lý chính là khi chết, khi bị đốt thành tro than cà cuống mới càng cay ...

Sách mới

Ngược dòng

viết bởi: Trần Quang Quý

Ngược dòng
Khu vườn đêm của Tom

viết bởi: Nhà xuất bản

Khu vườn đêm của Tom
Cửa sổ hình tia chớp

viết bởi: Nhà xuất bản

Cửa sổ hình tia chớp