Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt

...dù biết còn nhiều nghiệt ngã nhưng cuộc đời dường vô vị khi phải bỏ hết si mộng, ái cuồng mà Huỳnh Thu Hậu thể hiện trong Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt.

Viết bởi: ThS. Nguyễn Thành Trung

Nàng Ma-Đăng-Già trong văn học nghệ thuật Việt Nam đương đại

 (Suy nghĩ về Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt của Huỳnh Thu Hậu)

                                                                                                    ThS. Nguyễn Thành Trung

                                                                                       Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

 

 

1. Nàng Ma-đăng-già và định mệnh tình yêu

 Ma-đăng-già là cái tên quen thuộc trong cả truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Kinh Ma-đăng-già, Kinh Ma-đăng nữ giải hình trung lục sự, Kinh Ma-đăng nữ, kinh Xá đầu gián) và Phật giáo Phát triển (Kinh Lăng nghiêm, Phật nói kinh Ma-đăng-già nữ). Nhưng Ma-đăng-già chỉ là họ (Matanga); tên gọi của nhân vật này có người cho là Bát cát đế (prakrti, Pakati) – nghĩa là bản chất, căn tính, người đã yêu và mê hoặc Anan. Không có một cái tên, không được quyền yêu, không được mưu cầu hạnh phúc; những ghi chép về nàng thực chất là những diễn ngôn nam quyền không dung nạp hệ giá trị khác; Ma-đăng-già (đành tạm gọi vậy), vì thế, mang một bi kịch định mệnh với tên gọi là tình yêu. Người con gái này đã làm gì? Cô đã dám có một tình yêu sâu sắc và mãnh liệt, cô dám lên tiếng đấu tranh cho tình yêu của mình, cô dám hy sinh để đạt mục đích (cạo đầu, vào tăng đoàn).  Nhưng nếu không có nàng, Anan đã không thể có một trải nghiệm quý báu trên con đường tu học, đại chúng không thể nghe Phật thuyết Pháp, và quan trọng nhất, có lẽ đã không có Lăng nghiêm kinh để người ta truyền tụng đến tận ngày nay.

 Đam mê văn chương, tự nó, đã là một định mệnh khi đặt niềm yêu vào một người tình đỏng đảnh, có khả năng làm người ta say mê đến tận cùng nhưng cũng đau thương vô bờ bến. Làm bạn với văn chương như con ong hút mật say mê rồi bỏ đi, nhưng sống với văn chương chính là một kiểu thiêu thân – nhận đau thương để say mê ngay trong cái chết. Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt của Huỳnh Thu Hậu mang đến dư vị của định mệnh tình yêu ấy. Nếu kết quả tình yêu của Ma-đăng-già là Lăng nghiêm kinh thì từ Cánh đồng mật ngữ, Cuộc phiêu lưu của chữ, Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đến Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt là hành trình của thân phận tình yêu mở dần về phía tận hiến của Huỳnh Thu Hậu. Quan tâm đến những vẻ đẹp khác biệt, Huỳnh Thu hậu qua những bài tiểu luận, phê bình của mình luôn đấu tranh một cách mạnh mẽ cho sự song hành của những hệ giá trị đối lập, của linh hồn và thể xác, của ánh sáng và bóng tối, của tình yêu và cái chết, v.v. Để rồi cuối cùng, chúng trở thành những mặt sáng long lanh không ngừng giao cắt lẫn nhau rồi cùng toát lên nét đa sắc của viên kim cương tình yêu, dù có là định mệnh, mà Huỳnh Thu Hậu dùng như một biểu tượng ở bìa sách để lấy ngôn ngữ tạo nên một thực tại riêng mình đa mang.

 2. Thần chú Phạm thiên hay sức mạnh cải biến thực tại của ngôn ngữ

  Nàng Ma-đăng-già được cho là dùng thần chú Phạm thiên để mê hoặc Anan; dường như sợ ảnh hưởng đến thanh danh vị đại đệ tử này, người ta còn kể nàng pha cả bùa cho Anan uống để làm ông mê mẩn tâm trí mà theo nàng vào phòng, lên giường. Thần chú là lời nói mang sức mạnh tác động đến sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp. Cũng như Ma-đăng-già dùng thần chú để vượt nên những ràng buộc giai cấp hình thành bởi xã hội Ấn Độ thần quyền mà đấu tranh cho tình yêu, Huỳnh Thu Hậu bằng thứ ngôn ngữ đầy khát khao, khiêu khích vượt qua những tường thành bí mật cá nhân để cùng say, cùng cảm với Đêm nguyệt bạch, Vàng phai một thuở, Giấc mơ màu diệp lục… rồi nhận ra tiếng vọng của Hồ Xuân Hương, Lưu Quang Vũ từ xưa kéo dài đến Sương Nguyệt Minh, Hữu Đạt đang gieo vào lòng mình nhưng vòng tròn lan tỏa, khi phảng phất Thiền vị, lúc phập phồng hồn yêu.

   Thực ra thần chú không phải dễ dùng và chẳng phải khi nào dùng cũng hiệu quả. Thể của thần chú là lời nhưng dụng của thần chú là tâm, tướng của thần chú là ngôn ngữ nhưng tánh của nó là chân tình người đọc dồn vào để kinh động trời đất, sai khiến quỷ thần. Nếu không có một tình yêu mạnh mẽ, một trái tim thiết tha đủ thì ngàn vạn lời thần chú cũng vô nghĩa, nếu không có khát khao mãnh liệt, ước mơ tận hiến thì ngàn chữ viết ra cũng rơi vào mê cung ngôn từ vô tình, vô cảm. Cứ như thế, Huỳnh Thu Hậu gợi nhớ đến một nàng Ma-đăng-già mạnh mẽ, quyến rũ, đầy dục tình nhưng chân thật, đầy cảm xúc nhưng không giả trá… vẫn ngày ngày góp nhặt lời yêu, chấp nhận đổi lấy một người tình vô vọng. Vì lẽ gì? Vì trái tim yêu cần được cất lời, như loài chim lạ mà Colleen McCullough kể trong Tiếng chim hót trong bụi mận gai, như rừng cúc họa mi mà Huỳnh Thu Hậu nâng niu trong ảnh bìa. Người thơ Huỳnh Thu Hậu khao khát cất tiếng để chịu giằng xé trong những truyện ngắn của Lê Trâm, để đành phiêu bạt theo Nhật ký gió cuốn của Phạm Tấn Dũng hay trực ngộ trong Một trưa ở Hội An của Vũ Quần Phương…

  Người ta biết đến Ma-đăng-già bởi cô dám cất lên lời nói để đấu tranh đòi quyền yêu, bất kể người tranh luận là Đức Phật. Huỳnh Thu Hậu cũng là một phụ nữ dám nói và đủ khả năng để nói như vậy. Vừa sáng tác vừa phê bình, vừa thể nghiệm vừa gián cách, Huỳnh Thu Hậu đau đáu với những giấc mơ lớn, những cực điểm, tột đỉnh… nên ngôn ngữ trong cả thơ và phê bình của cô đầy quyền lực. Người đọc không ngừng tiếp nhận nguồn năng lượng mạnh mẽ từ những riết róng, xác tín, tận hiến, bạo liệt, phập phồng, tuyệt đỉnh, cực đỉnh, vĩnh cửu, toàn triệt,… đến buồn thương giăng luyến, độc nhất vô nhị… trong Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt. Đặc biệt khuynh hướng nổi loạn, tìm kiếm giá trị mới mẻ, phá cách hiện hình lên cả văn tự với chữ Q rất đặc trưng mà cô dùng trong tập tiểu luận này. Chữ Q như căn cước Quảng Nam của Thu Hậu cũng như hàng loạt nghệ sĩ mà cô đề cập đến. Với Q có phần đuôi kéo dài như vượt thoát mọi ranh giới, Q còn thể hiện căn tính của Queen – nữ hoàng. Trong bộ bài Tarot, lá nữ hoàng tự trưng cho trí tuệ mang lại quyền lực, cho động lực làm sống tất cả những gì đang sống (Jean Chevalier, tr.708), nó là sự kết hợp giữa quyến rũ kiêu kỳ và lý tưởng hóa cao siêu, giữa dịu dàng linh động với tính thất thường biến đổi nặng cảm xúc. Khát vọng tháo cũi xổ lồng này, vì thế, thường trực trên những trng viết của Huỳnh Thu Hậu. Bởi thế, cô mạnh dạn hạ bút khi nói về Hồ Xuân Hương rằng: “Thiên tài là người phá vỡ mọi khuôn phép” (Huỳnh Thu Hậu, tr.77).

3. Phần thưởng quả vị - song đề mâu thuẫn

  Cuối cùng, khi từ bỏ tình yêu, Ma-đăng-già đạt quả vị A la hán – kết cục được cho là tốt đẹp suốt ngàn năm nay và có lẽ đến cả ngàn sau, nhưng lại gợi lên niềm tiếc nuối. Cô từ bỏ cũng như khi Tôn Ngộ Không đeo chiếc vành vàng, chấp nhận đứng vào hàng ngũ và hệ thống, từ bỏ cái tôi; lúc ấy Tây Du Ký mất hẳn cái hào sảng chọc trời khuấy nước, Ma-đăng-già mất đi sức hút của một cái tôi nguyện lấy tình yêu làm lẽ sống. Quả vị, vì thế, trở thành một song đề của lý trí và tình cảm. Mang định mệnh cảm xúc của tình yêu văn chương, Huỳnh Thu Hậu đem tình yêu ấy vào giảng đường, vào học thuật. Thế nhưng trong đề tài nghiên cứu của cô vẫn tuôn tràn Dòng sông ý niệm … ngát hương… lộng lẫy (Huỳnh Thu Hậu, tr.44) khi bàn về Địa đạo Phú An của Huỳnh Minh Tâm, vẫn đầy cảm xúc trăn trở về khát vọng được tận hiến với đời (Huỳnh Thu Hậu, tr.47) cùng Trương Vũ Thiên An và rung cảm cùng những câu thơ ma mị đánh thức giấc mơ bình yên (Huỳnh Thu Hậu, tr.56) của Đinh Huyền. Với Huỳnh Thu Hậu, quả vị quan trọng nhất dường như vẫn là tình yêu văn chương nồng nàn cảm xúc.

  Từ góc độ phê bình, Huỳnh Thu Hậu luôn cố gắng hòa quyện các thái cực đối lập; để khám phá vẻ đẹp khác biệt của diễn ngôn văn chương, cô đã chọn con đường phê bình trực cảm và phê bình đại học kiểu Lanson (trên nền tảng phân tâm). Thế nên khi đánh giá Lê Trâm, Thu Hậu đưa ra tiêu chí tình cảm và lý trí để đánh giá: “Tôi tin rằng những dòng văn ảo diệu trên sẽ chạm đến khối óc và tâm hồn của độc giả”. (Huỳnh Thu Hậu, tr. 30). Nghiêng về bờ cảm tính, cô quan sát kỹ những “trực giác tâm linh, ký ức, hoài niệm” (Huỳnh Thu Hậu, tr. 124) khi nghiên cứu Hữu Đạt và liên tục nhắc đến trực giác, giấc mơ, bóng (K.Jung) trong Nhật ký gió cuốn. Khởi đầu nghiên cứu bằng những cảm giác, ấn tượng cá nhân, Thu Hậu tiến tới tìm hiểu đặc điểm quê quán, tâm lý, thủ pháp ảnh hưởng lên sáng tác của các nghệ sĩ theo kiểu Lanson. Đây là con đường chung để cô khai mở thế giới nghệ thuật đất Quảng Nam và cả Việt Nam khi nhìn Lưu Quang Vũ trong trường Đà Nẵng, Sương Nguyệt Minh trong trường nghĩa chiến trường Tây Nam…

 Ma-đăng-già ngộ đạo khi nhận ra tính vô thường của những vẻ đẹp nơi Anan từng làm nàng mê đắm, nhận ra ánh mắt rực rỡ ấy đi chung với ghèn bẩn, đằng sau cơ thể khỏe mạnh là thùng phân và nước tiểu… như lời Đức Phật giảng giải. Kể từ đó cô nhìn vạn pháp trung dung, vô yêu vô hận. Huỳnh Thu Hậu, như đã nói, vẫn khước từ quả vị ấy mà chọn đọa trầm luân cùng tình yêu và văn chương, thân phận và định mệnh. Đổi lại, cô được rung cảm trong hơi thở phập phồng của văn chương, được hòa vào cái đẹp mong manh nhưng xao lòng của đời sống. Thế nên trong phê bình, diễn ngôn cô ngồn ngộn sức mạnh, cuốn tất cả đối tượng vào ánh sáng hiện sinh, vào nhịp điệu trời đất. Huỳnh Thu Hậu chọn dừng lại mãi mãi cái đẹp của Anan để nhìn thấy tất cả những thủ pháp nghệ thuật, những ước mơ không cùng, những cuộc chơi thân phận của văn nghệ sĩ Quảng Nam và Việt Nam. Song, như từng có dịp đề cập, thơ ca và phê bình của Huỳnh Thu Hậu vốn mang một lời nguyền sân ga khi chẳng thể cất bước bởi đa mang đa cảm, lại bất khả níu giữ những thứ phải ra đi. Cũng như vẻ đẹp Anan vốn vô thường sẽ tiêu hao trước mắt Ma-đăng-già, những thủ pháp nghệ thuật tầm thế giới của các nhà văn mà Huỳnh Thu Hậu xác định vẫn phải chờ đợi thêm những yếu tố khác để mang giá trị tương ứng. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, vào thời điểm đó thì có lẽ khát vọng, sức sống, cái đẹp trong thơ ca và phê bình của Huỳnh Thu Hậu cũng phải mang màu sắc khác. Một lần nữa song đề quả vị – tình yêu của Ma-đăng-già, lý trí – cảm xúc của Huỳnh Thu Hậu, nửa mong vĩnh cửu  – nửa muốn vô thường của nhân loại, của người đọc, của chúng ta lại hiển hiện và hòa quyện trong sắc đẹp khó nắm bắt mà dễ phôi phai của văn chương nghệ thuật. 

   Tóm lại, những trang viết thấp thoáng dấu ấn Phật giáo của Huỳnh Thu Hậu thể hiện ở sắc bóng ảnh khi đọc thơ Phạm Tấn Dũng, mong manh giấc mộng cùng Nguyễn Bá Hòa và thứ đốn ngộ an nhiên khi cảm Mùa xuân và những cánh hoatrong thi ca đã làm cô gần gũi với nàng Ma-đăng-già trong nghĩa rộng nhất, tích cực nhất, tươi đẹp nhất cùng thứ tình yêu đam mê tận hiến, thứ can đảm lên tiếng cho cái đẹp và những giấc mộng dù viển vông nhất. Thế nên, bên cạnh Phật kinh, người ta còn lan truyền câu chuyện của Anan khi si mê một bóng nữ nhân đã nguyện hóa làm thạch kiều, chịu kiếp 500 năm gió thổi, 500 năm nắng đổ, 500 năm mưa sa chỉ nguyện người con gái đó một lần đi qua cầu. Cũng vậy, dù không thể phủ nhận giá trị đạo pháp nhưng người ta vẫn không khỏi xao lòng trước định mệnh tình yêu của nàng Ma-đăng-già, dù biết còn nhiều nghiệt ngã nhưng cuộc đời dường vô vị khi phải bỏ hết si mộng, ái cuồng mà Huỳnh Thu Hậu thể hiện trong Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt.

Tài liệu tham khảo

1. Chevalier Jean, Alain Gheerbrant. (1997). Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Phạm Vĩnh Cư (chủ biên dịch). Đà Nẵng: Đà Nẵng.

2. Huỳnh Thu Hậu. (2020). Diễn ngôn Văn chương – Những vẻ đẹp khác biệt. Quảng Nam: Hội Nhà Văn.

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 25/05/2020

Tin khác

Lý lẽ của tình yêuLý lẽ của tình yêu
Đất & ngườiĐất & người
Viết và đọc chuyên đề mùa xuân 2020Viết và đọc chuyên đề mùa xuân 2020

Tin mới nhất

Gặp lại ngày xưa tập 2
Gặp lại ngày xưa tập 2

...Nào, xin mời các bạn hãy cầm sách lên và hòa mình vào những trang viết của ông để thấy thật thú vị trước những sắc thái lý thú trải dài qua cuộc đời gần 90 năm của nhà thơ nhà báo Sĩ Ẩn!

Sách mới

Gặp lại ngày xưa tập 2

viết bởi: Cao Trường Thọ, Nguyễn Quang Vinh

Gặp lại ngày xưa tập 2
Viết và đọc chuyên đề mùa hạ 2020

viết bởi: Nhà xuất bản

Viết và đọc chuyên đề mùa hạ 2020
Chuyện của Phòm

viết bởi: TRẦN TRUNG

Chuyện của Phòm