Bến Hải- Dòng sông chảy trong máu và nước mắt

Văn của Nguyễn Ty Niên không cầu kỳ, không chau chuốt, nó cứ chân chất như cuộc sống vốn vậy...

Viết bởi: Đỗ Hàn

                           DÒNG SÔNG LUÔN VỖ SÓNG

( Đọc Hồi ức “ Bến Hải- Dòng sông chảy trong máu và nước mắt” của Nguyễn Ty Niên)

 

Trong cuộc sống và trong công việc, tôi may mắn được tiếp xúc với không ít các tập hồi ký, hồi ức, nhật ký… của các bậc đàn anh đã qua các cuộc chiến tranh. Có tập dày hàng nghìn trang, có tập chỉ mấy chục trang. Có tập đầy ắp các tư liệu về các trận đánh, các cuộc hành quân, có tập lại chan chứa những tâm tư, tình cảm của tác giả với hậu phương xa xôi…Đọc nhiều thành quen, đôi khi cũng không còn nao nức nữa. Nhưng khi cầm tập bản thảo nhỏ nhắn, chưa đầy 50 trang khổ A4 là những hồi ức của tác giả Nguyễn Ty Niên, đã làm tôi thực sự bất ngờ.

Bất ngờ thứ nhất là tác giả viết nó khi đã vào tuổi 80; mà viết trực tiếp trên bàn phím máy vi tính. Bất ngờ thứ 2 là cái tên của tập sách “ Bến Hải- Dòng sông chảy trong máu và nước mắt”. Phải gắn bó thế nào với dòng Bến Hải lịch sử, tác giả mới có được cảm xúc dòng chảy của con sông trong mình, vỗ sóng trong mình đến vậy trong suốt mấy mươi năm!

Tôi đọc một mạch hết cuốn sách trong buổi tối mùa hè oi nồng. Đôi lúc tôi phải dừng lại, đọc to cho cả nhà cùng nghe. Ấy là những đoạn văn mà tôi thấy cảm động đến rưng rưng. Các câu chuyện trong trang sách nhỏ ấy có sức lôi cuốn lạ kỳ. Sức lôi cuốn không phải vì tác giả dựng hình ảnh hấp dẫn, cũng không phải giọng văn ma mị hay quyến rũ. Sự hấp dẫn ở đây là các câu chuyện có những chi tiết chân thật đến nao lòng. Toàn bộ sự khốc liệt của cuộc chiến trên mảnh đất Vĩnh Linh anh hùng được lột tả qua chỉ vài nét chấm phá của các chi tiết chuyện, chuyện riêng của tác giả!

Mảnh đất Vĩnh Linh đã được nhiều nhà báo, nhà văn, các nhà làm phim, dựng kịch kể lại, viết lại về sự tàn khốc của nó trong những năm tháng chiến tranh. Do đặc thù địa chính trị, từ năm 1955 Chính phủ ta  đặt Đặc khu Vĩnh Linh, một địa danh đặc biệt; nơi có giới tuyến là con sông Bến Hải chia hai miền Nam Bắc; con sông chia đất Vĩnh Linh thành 2 mảng, chia một huyện, chia một làng, thậm chí chia một gia đình người Vĩnh Linh làm 2 ngả. Nơi có khu phi quân sự nhưng chỉ trên giấy tờ, nơi áp sát hàng rào điện tử Mắc Namara trải dài chém ngang thân đất Việt. Nơi chịu đựng hàng chục làn hỏa lực của pháo và bom Mỹ Ngụy dội xuống hàng ngày. Pháo từ Cồn Tiên, Dốc Miếu Quảng Trị bắn ra; pháo từ Cửa Việt, từ Hạm đội 7 bắn vào, Rốc két từ máy bay phản lực bắn xuống, bom từ pháo đài bay B52 rải thảm, biệt kích địch theo đường bộ mò ra, theo đường biển lần vào… Đủ mọi phương tiện chiến tranh trên thế giới hầu như đã được đối phương thể nghiệm trên đất Vĩnh Linh. Mảnh đất đặc khu hơn 10 vạn người, có lúc chỉ để lại 4 vạn người để vừa chiến đấu giữ đất vừa sản xuất để tự nuôi mình và chi viện cho Miền nam. Mảnh đất dừng chân của bao lớp chiến sỹ “ Ngày Bắc đêm Nam” kiên cường bám trụ và cũng dũng cảm xông vào nơi quân thù chiếm đóng. Giữa nồng nặc khói bom, giữa gầm gào đạn pháo các câu chuyện của Nguyễn Ty Niên vẫn thì thầm nho nhỏ nhưng cứa vào lòng bạn đọc. Đó là căn hầm mà anh cán bộ thủy lợi  đến giúp cô dược sỹ, con gái Hà Nội mảnh dẻ, trắng trẻo, bị các đồng nghiệp gán ghép, ai ngờ lại là căn hầm cho đôi vợ chồng trẻ  làm căn nhà đón đêm tân hôn. Cảnh đám cưới trên hào giao thông nối với địa đạo. Gói kẹo và chén nước của tiệc cưới nằm chông chênh bên bờ đất chiến hào. Đám cưới không kéo dài quá 30 phút vì sự an toàn của những người đến dự. Rồi đôi vợ chồng trẻ quấn quýt trong các buổi sáng chia tay mà không biết buổi tối có còn sống mà về với nhau không. Rồi chuyện bạn bè dùng cuốc, dùng tay vừa bới vừa gào gọi tên vợ anh, khi căn hầm pha chế thuốc bị bom Mỹ đánh sập. Thế rồi chị nghẹn ngào bước ra từ căn hầm của nhà hàng xóm. Chỉ vì nồi sắn luộc vừa chín, biết chị nghén thèm ăn sắn, vợ chồng anh chị hàng xóm đã kéo chị sang ăn sắn trước đó mấy phút. Nồi sắn luộc đã cứu vợ anh thoát chết. Rồi vợ anh được ra K10 sơ tán, hai vợ chồng với cái xe đạp cà tàng đèo nhau vượt trên 500 cây số trong tiếng gào thét của máy bay Mỹ. Ấy là chị đang mang thai con so tháng thứ 8. Bà con Vĩnh Linh nghèo khó, người nải chuối, người rổ sắn, người cái khăn, cái tã đùm túm cho anh mang theo, lo chị sinh nở dọc đường…

Rồi công tác chuyên môn của người cán bộ Thủy lợi với bộn bề công việc. Phát hiện việc đắp đập trên cát để giữ mạch nước ngầm của người tiền nhiệm có cơ sở khoa học, anh cán bộ ty Thủy lợi Nguyễn Ty Niên đã năng nổ lao vào khắc phục sự cố vỡ đập Bàu Nhum. Lúa lên xanh ở bờ bắc sông Bến Hải nhờ có nước đập Bàu Nhum cũng là gieo niềm tin yêu của đồng bào Vĩnh Linh bên bờ nam hướng về miền Bắc XHCN. Rồi hàng chục công trình hồ chứa nước từ miền tây của đồng bào Vân kiều đến vùng cát trắng của các ngư dân bám biển bám ruộng đã được anh cùng các đồng nghiệp xây nên. Có công trình như đập La Ngà đến hôm nay vẫn nguyên tác dụng dù thời gian đã qua quá nửa thế kỷ.

Những câu chuyện nho nhỏ, cảm động của những đêm cùng dân chống hạn, những ngày lặn lội về từng Hợp tác xã để bàn chuyện tưới tiêu cho đồng ruộng. Hình ảnh Hiếu,đồng đội anh nhận con vịt do cơ sở bán lại, chưa kịp trả tiền mà bạn đã lặng lẽ hy sinh; Hình ảnh cô cán bộ tên Giao vừa ấm hơi chồng 1 tháng thì chồng  hy sinh, Lập, cùng cảnh ngộ khi vợ ở bên kia giới tuyến trong 1 trận chống càn, đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Cơ quan muốn tác hợp cho 2 mảnh đời tơi tả ấy, cử họ đi công tác cùng một chuyến. Nhưng như định mệnh, trận bom B52 đã cướp đi cả 2 con người với những nỗi đau tột cùng của họ về nơi thăm thẳm...Cái chết của Giao, của Lập, của Hiếu, của nhiều đồng chí đồng nghiệp cứ ám ảnh anh, cứ phập phồng tromg mỗi nhịp tim anh. Tất cả các câu chuyện ấy cứ như một dòng sông vừa vỗ sóng, vừa thầm thì về xuôi.

Xuyên suốt các câu chuyện tưởng như rất nhỏ nhẹ, đời thường ấy là tình nghĩa đồng đội, đồng chí, đồng nghiệp của người cán bộ Thủy lợi ngày đêm bám sát cơ sở. Không mang súng ra chiến trường như bộ đội, không lặn ngụp trong mưa bom để làm đường như Thanh niên xung phong, nhưng người cán bộ nhà nước ở Vĩnh Linh khi ấy vẫn phải vừa tránh bom đạn , vừa bám sát dân, bám sát đồng ruộng, sản xuất, giữ đất, giữ dân. Gian khó và khốc liệt không có gì so sánh. Trong gian khổ ấy, tình người nổi lên như ánh sáng soi đường cho những bước chân đi tiếp. Sự vững vàng ấy ông đã mang đến tận hôm nay!

Lại nữa, trong ác liệt của chiến tranh, giữa cái chết cận kề, các đề tài khoa học, các sáng kiến trong lao động sản xuất vẫn luôn nẩy nở, giúp lãnh đạo khu, các cơ sở sản xuất có thêm sức mạnh để bám trụ trên mảnh đất thép anh hùng…

Văn của Nguyễn Ty Niên không cầu kỳ, không chau chuốt, nó cứ chân chất như cuộc sống vốn vậy. Hãy nghe những dòng tự sự của ông: “ Bầu trời, măt đất lúc nào cũng ầm ì tiếng máy bay, tiếng bom đạn nghe thành quen như nhịp thở cuộc sống và sự hy sinh cứ thế trong khoảnh khắc tự nhiên nó đến.! Nhưng rồi mỗi dịp lễ tết có một ngày ngừng bắn, với tôi những ngày đó lại là đáng sợ nhất! Ai đã sống trong không gian yên lặng, yên lặng một cách tuyệt đối giữa hai cuộc giao tranh mới thấy nỗi sợ, đó là thời gian của suy tư ập đến: Tình thương yêu và nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ vợ con da diết, tương lai số phận của vợ con và của bản thân mình…”

Nếu văn ấy cùng vốn sống ấy, được ông tổng hợp lại sắp xếp có bài bản hơn, chắc rằng chúng ta sẽ có được những tập sách dày dặn và có sức lan tỏa rộng hơn…

Nguyễn Ty Niên sinh năm 1939 trong một gia đình có truyền thống cách mạng, ông tham gia công tác từ rất sớm, đã từng trải qua các cương vị: Trưởng ty Thủy lợi khu Vĩnh Linh, Vụ trưởng vụ Kế hoạch Bộ Thủy Lợi. Khi nhập các Bộ Lâm Nghiệp, Nông Nghiệp, Thủy Lợi… thành Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ông giữ cương vị Cục trưởng Cục đê điều, Phòng chống Lụt bão thuộc Bộ NN&PTNT. Tuy đã nghỉ hưu gần 20 năm, nhưng ông vẫn đau đáu với vận mệnh đất nước trên nhiều lĩnh vực nhất là mảng chuyên môn mà mình từng trải qua. Các bài báo, bài tham luận của ông trên các Hội thảo Khoa học như “ Đồng bằng sông Cửu Long- Sự hòa thuận giữa con người với thiên nhiên” hay ý kiến phản biện của ông về phương án đề xuất đắp đập ngăn sông Hồng… đã có tiếng vang và có tác dụng tích cực cho các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước hoạch định chiến lược trên lĩnh vực thủy lợi.

Gặp và đọc ông, ta thấy mình như đang đứng trước một dòng sông hiền, dòng nước êm ả,  đẫm nặng phù sa. Dòng sông ấy luôn vỗ sóng ấm áp đôi bờ, như tính cách và văn của ông: Thầm thì, lặng lẽ, nghĩa tình. Dòng Bến Hải trong ông là một dòng sông chảy trong dòng sông; Bến Hải đã thành máu thịt, là nước mắt của ông không phải chỉ những năm tháng gian khó, mà chảy mãi đến hôm nay dẫu cuộc đời đã có bao biến đổi.

Ta tin dòng sông trong ông sẽ luôn và sẽ mãi vỗ sóng cho hôm qua, hôm nay và cho những ngày mai…

 

                                                                                                                                      Tháng 6/ 2019

                                                                                                                                              Đ.H

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 08/07/2019

Tin khác

Lời thì thầm của ba người con gái Huế xưaLời thì thầm của ba người con gái Huế xưa
Những người đẹp say ngủNhững người đẹp say ngủ
Mama - MẹMama - Mẹ

Tin mới nhất

CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA LÒNG QUẢ CẢM
CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA LÒNG QUẢ CẢM

"Bây giờ em là dâu của một gia đình Trung Quốc và mang quốc tịch Trung Quốc, nhưng anh hãy tin rằng em mãi mãi là người Việt Nam và sẽ tranh đấu bằng cách của mình cho sự thật."

Sách mới

Phan nhân 1972

viết bởi: Nhà xuất bản

Phan nhân 1972
Không thể sống mà không viết

viết bởi: Nhà xuất bản

Không thể sống mà không viết
Mối tình của ông Hire

viết bởi: Nhà xuất bản

Mối tình của ông Hire