VÍA LÀNG

Tôi tin rằng các làng cổ ấy vẫn chứa trong lòng đầy ắp những sự tích, những nếp ăn ở… mà không phải một sớm một chiều có được! Ấy là những hồn, vía của làng.

Viết bởi: Đỗ Hàn

Bao nhiêu năm rồi, tôi vẫn nhớ hình ảnh bà ngoại tôi, Người mặc chiếc váy thâm, nó là vải diềm bâu, nhuộm trầu không rồi dấn bùn, màu nó không đen nhưng nhức mà bàng bạc như đêm sắp bão. Người khoác vội chiếc áo cánh nâu ra ngoài cái yếm sồi, tức tốc chạy ra sân, hú to: “- Hú ba hồn, bảy vía ông K. ở đâu mau về với vợ với con, ơ… hú ba hồn bảy vía…” Tiếng hú lanh lảnh, vang xa, hút vào đêm lạnh. Sau này học triết học, học về tín ngưỡng, tôi mới hiểu thế nào là hồn, là vía, là phách… chứ ngày ấy, trong tâm hồn đứa trẻ thôn quê, tôi chỉ thấy một cái gì ghê gớm, linh thiêng. Nhưng qua cái vẩy tay, cái quầy quả, cái dáng chạy khơi khơi của bà ngoại, tôi lại thấy vừa vui vui, vừa bí hiểm thế nào đó!

Làng tôi nằm bên dòng sông Thao. Con sông mà nhiều người giải thích là vì chảy qua phủ Lâm Thao, nên có tên thế. Tôi lại thấy dòng sông đỏ màu phù sa, uốn lượn vắt qua các cánh đồng ngô xanh mướt, những bãi mía xanh lơn, nó như dải lụa của cái quai nón mà nhiều vùng châu thổ gọi là “nón thúng quai thao…” Khi qua Vật Trì, sông Thao nhận thêm nước của sông Đà, sông Lô nên vàng đậm lại, vừa đùn lên từng đụn phù sa hồng hào, tươi tắn!

Có lẽ chảy qua các làng mạc từ thượng nguồn đến làng tôi, sông đã đón nghe bao nhiêu tiếng hò, tiếng hát giao duyên, tiếng rì rầm kể chuyện của bao nhiêu thế hệ con người tần tảo ở hai bên bờ sông! Nhất là sông chắc đã nghe các câu chuyện cười, lúc dí dỏm, bông lơn, khi sâu sắc, thâm thúy… của các làng cổ có từ thời Hùng Vương dựng nước! Đó là các “ Kẻ”- Cái từ gợi sự cổ kính, gợi sự thôn dã đến nao lòng. Nào Kẻ Cánh, Kẻ Đọ, Kẻ Dăm, Kẻ Lầm, Kẻ Giang, Kẻ Mỏ…Tôi tin rằng các làng cổ ấy vẫn chứa trong lòng đầy ắp những sự tích, những nếp ăn ở… mà không phải một sớm một chiều có được! Ấy là những hồn, vía của làng.

Làng Cửa Ao của tôi nằm trong dòng chảy xuôi của người Việt cổ theo dòng sông mở cõi. Làng Cửa Ao cũng chứa bao nhiêu những bí ẩn mà chỉ khi lớn khôn, tôi mới biết, mới hiểu.

Ngày bé, cha tôi vẫn hay hát ru anh em tôi bằng những câu dân ca. Ngoài “ Con cò bay lả bay la…” tôi ngấm vào lòng những câu vừa du dương, vừa hài hước như thế này: “ Cái cò là cái cò quăm/ mày hay đánh vợ đêm nằm với ai/ Có đánh thì đánh sớm mai/ Chớ đánh chập tối không ai cho nằm…”. Rồi những câu về một việc rất trang nghiêm: “ Hôm nay 14 mai rằm…” nhưng lại đùa cợt: “Ai muốn ăn oản lên nằm với sư…” lại nữa: “ Hôm nay mười bốn mai rằm/ Ai muốn ăn oản thì năng lên chùa/ Lên chùa thấy tiểu mười ba/ thấy sư mười bốn, vãi già mười lăm…” đầy hài hước và dí dỏm. Rồi những câu chuyện về những ông ba bị, những bà Dở, thằng Hốt, cái Chum…

Bây giờ sinh con, các cặp vợ chồng thường đặt tên cho con những cái tên gần gũi, đáng yêu, như con Gạo, cái Vừng, cu Tít, thằng Bin…và đi học thì có tên theo những nhà toán học, ca sỹ, cầu thủ, những người nổi tiếng… mà cha mẹ chúng kỳ vọng.  Đó cũng chính là lối đặ tên có từ xa xưa của các làng cổ bên sông chúng tôi. Xưa, trẻ hay ốm đau, thuốc thang ít và hiếm nên dân làng nào cũng đặt tên cho con những cái tên thật xấu, mong rằng như thế các con ma, con mãnh, quan ôn không bắt chúng đi. Đấy là các cái tên nghe rất buồn cười, như cái Rắm, cu Bẹn, cái Hĩm, thằng Cò…

Thì ra, trong các làng xóm đã luôn chứa ẩn những tiếng cười. Nó là những cái tên, là những câu chuyện gần gũi với cuộc sống, nó chính là cuộc sống ngồn ngộn, tươi rói. Hơn nữa, nó không chỉ là sản phẩm của dân làng sáng tạo ra, mà nó lại được các thế hệ người làng ở khắp nơi lưu truyền, gìn giữ và làm giàu không ngừng trong cuộc sống đầy sôi động và biến chuyển…

Một cụ ở làng bảo tôi, cái hồn làng nó như nếp ăn nếp ở, như cách xúc gạo cho vay thật đầy đặn, như cách có bát canh ngon bê sang cho hàng xóm, tức là nó ẩn bên trong mỗi thành viên của làng. Còn cái vía thì nó như những câu cười, tiếng ví von hằng ngày, nó cứ lồ lộ ra đấy mà cũng thâm trầm ngấm trong mỗi con tim của người làng. Nó là tiếng cười, là lòng trắc ẩn trong mỗi câu hát, trong các câu chuyện kể…

Các câu đố, câu hát, câu chuyện cười ở vùng tam giác châu thổ quê tôi không như các câu chuyện ở các làng cười vùng trung du như Bắc Giang hay Phú Thọ. Ở làng Văn Lang, Phú Thọ, các chuyện cười cơ bản dùng thủ pháp phóng đại, ngoa dụ để khoe các sản vật của vùng quê ấy. Dạng như “ trèo lên ngọn cây rau dền, nhìn thấy cột cờ Hà Nội bay phấp phới!...” Ấy là làng Văn Lang cách Hà Nội đến trên 100 cây số! Hay là “có củ sắn mọc xuyên qua đường cái quan, bẻ một góc, dắt vào cạp quần, mang về đến nhà giở ra nó bở tơi bùng bục…” Chuyện cười ở quanh làng tôi cũng ít khi đi theo kiểu nói lái, nói triết tự. Nó cơ bản có mấy nét như sau. Ấy là cách nói ngược. Khi người ta bảo cái này tốt, thì chuyện sẽ chê xấu, rồi dẫn dắt mọi người nhìn thấy cái xấu đó một cách hài hước. Ngược lại cũng thế! Khi thiên hạ bảo cái này xấu thì câu chuyện của làng sẽ khen tốt, nhưng mà dạng khen “ đểu”, nói như bây giờ là khen cho mày chết! Thủ pháp nữa là suy diễn. Nói quá lên, nối dài câu chuyện, nhưng mà vẫn có lý và ẩn ý để người nghe chấp nhận được, buột ra câu: thật mà như bịa ấy nhỉ??? Cũng có cách nữa là nôm na bằng văn vần. Dạng như: “ chim khôn khôn cả cái lông, khôn đến đáy lồng, người xách cũng khôn…” hay là: “ Một giọt mủ vàng hơn cang nước cống…” biến thể của “ Một giọt máu đào hơn ao nước lã!” Bây giờ nghe các câu văn vần: “ Ông đây già tóc già râu, nhìn sang chỗ khác còn lâu mới già” hay là: “ Muốn cho con của tốt tươi, phải chăm thể dục, chớ lười thể thao…” thì tôi tin là do các con dân của các làng trong hoặc quanh vùng châu thổ bắc bộ làm nên. Nó khác với thơ Bút Tre của Phú Thọ là bẻ chữ, cắt dòng, ép vần gây bất ngờ cho người nghe; Những con dân của các làng quê vùng tôi vẫn mang các câu chuyện, các câu văn vần ấy đưa đến khắp nơi, ngoài niềm tự hào quê hương, nó còn góp phần thanh lọc cuộc sống, như phép thử trước những bất cập, thái quá; những thói hư tật xấu của con người để con người sống khỏe khoắn hơn, sáng trong hơn. Khi viết sê ry trên 100 truyện hài về anh chàng Phòm trưởng thôn làng Cửa Ao, tôi cũng lấy từ những tiếng cười dân dã của dân làng vùng tôi như thế !

Trở lại hình ảnh bà ngoại tôi tất tả gọi hồn khi trong nhà có người ốm đau. Giờ không thấy ai làm thế nữa. Nhưng ở các làng quanh vùng tôi, khi đắp mộ xong cho người quá cố, bao giờ cũng có đoàn các vãi già vừa đi quanh mộ 7 lần hay 9 lần tùy người quá cố là nam hay nữ, vừa vảy gạo, rắc muối vừa gọi hồn người chết về nhập mộ. Và như từ vô thức, khi nói về sức khỏe của người nào ốm đau hay khen trẻ con nào bụ bẫm, bao giờ người làng cũng thêm câu “ Trộm vía!” trước khi nói!

 Lại nhớ, lần ấy, tôi cùng vợ chồng ông anh họ vào một huyện ở Tây nguyên để đưa hài cốt một ông anh là liệt sỹ chống Mỹ về quê. Lãnh đạo địa phương đề nghị gia đình lặng lẽ bốc mộ rồi để in ắn bia mộ ở đó. Họ nói để cho liệt sỹ vẫn còn chút hình bóng với nơi liệt sỹ đã hy sinh. Đêm cuối tháng 10 âm lịch trời đã lạnh, vùng Tây nguyên càng lạnh. Chúng tôi lặng lẽ bật đèn ắc quy, lặng lẽ châm hương, đốt trầm rồi chuyển tiểu sành chứa hài cốt liệt sỹ ra khỏi mộ, lau sạch để chuẩn bị đưa vào túi du lịch. Bỗng chị dâu bảo tôi, chú làm văn hóa mãi chú biết chứ, phải gọi hồn anh ấy nhập vào hài cốt để về quê! Tôi chững lại mấy giây, rồi như từ sâu thẳm dáng bà ngoại tôi thuở nào hiện về, tôi đứng bật dậy,huơ nắm hương, hướng ra tám hướng, hướng lên trời, hú to giữa đêm thăm thẳm: “ Hú ba hồn bảy vía anh T. ở đâu về nhập cốt để ra bắc, về với vợ với con, về với quê hương bản quán anh ơi… hú hú…”

 Cái dáng thập thõm, huơ huơ tay của tôi lúc ấy chắc trông cũng buồn cười lắm, như bà tôi thuở nào…

                                                                                                                                Cuối năm Mậu Tuất

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 28/12/2018

Tin khác

DIỄM CHÂU - NGƯỜI ĐÃ VỀ TỚI NHÀ MÌNHDIỄM CHÂU - NGƯỜI ĐÃ VỀ TỚI NHÀ MÌNH
TRONG KHOẢNG GIAO THOA ĐẠO LẪN ĐỜITRONG KHOẢNG GIAO THOA ĐẠO LẪN ĐỜI
NHÀ VĂN THANH CHÂU SỐNG VÀ VIẾTNHÀ VĂN THANH CHÂU SỐNG VÀ VIẾT

Tin mới nhất

NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!
NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!

Cái thứ nước mắm này vô ảnh, vô hình, vô mùi, vô vị, nhưng nó có tác dụng rất xấu là làm rối tung thị trường nước mắm, gây khó cho hàng vạn ngư dân và người sản xuất nước mắm thủ công.

Sách mới

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019

viết bởi: Nhà xuất bản

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019
Chương trình nghị sự

viết bởi: Nhà xuất bản

Chương trình nghị sự
Ác quỷ Nam Kinh

viết bởi: Nhà xuất bản

Ác quỷ Nam Kinh