PUSHKIN- SUY TƯ VÀ ĐAU KHỔ CŨNG LÀ MỘT LẼ SỐNG - NXB Hội Nhà Văn

PUSHKIN- SUY TƯ VÀ ĐAU KHỔ CŨNG LÀ MỘT LẼ SỐNG

“Знакомый незнакомец” – “người lạ mặt quen biết”, đó là nhận xét ngắn gọn mà chính xác của nhà phê bình thiên tài Belinsky về nhà thơ thiên tài Pushkin.

Viết bởi: Vũ Thế Khôi

“Знакомый незнакомец” – “người lạ mặt quen biết”, đó là nhận xét ngắn gọn mà chính xác của nhà phê bình thiên tài Belinsky về nhà thơ thiên tài Pushkin. Mỗi năm, với mỗi tuổi đời thêm lên, với mỗi trang sách mới, ta lại như phát hiện thêm những điều mới mẻ về một Pushkin vốn quen biết đã từ lâu…

Cuộc khởi nghĩa của các sĩ quan quý tộc ngày 14 Tháng Chạp 1825, vốn đều là những con cưng của chế độ, dẫu thất bại hoàn toàn, vẫn khiến triều đình chuyên chế Nga hoàng hoảng sợ. Hoàng đế Nikolai I chẳng những khủng bố tàn bạo, mà còn thực thi chính sách bóp nghẹt tự do tư tưởng. Một không khí nơm nớp sợ hãi bao trùm nước Nga mênh mông. Người đương thời Aleksandr Herzen, về sau trở thành một lãnh tụ tư tưởng của phái Dân chủ - Cách mạng, nhớ lại trong hồi ký: “Những năm đầu tiếp sau năm 1825 thật khủng khiếp. Phải cần đến hơn chục năm sau người ta mới có thể hoàn hồn… Một sự tuyệt vọng chung sâu sắc đã choán lấy tâm hồn mọi người”[1].

Ngay sau khi thi hành các án tử hình và khổ sai đối với các chiến sĩ Tháng Chạp, ngày 18/09/18126 Nikolai I sai hiến binh điệu Puskin từ nơi đày ải ở làng Mikhailovskoye về thẳng Ngự tiền văn phòng để trực tiếp thẩm vấn. Lúc này tiếng tăm Pushkin đã vượt qua biện giới nước Nga đến châu Âu, nên muốn tỏ ra trước con mắt thế giới văn minh là Nga hoàng liên tài, Nikolai I tuyên bố tha thứ cho nhà thơ mọi tội lỗi liên can các nhà Tháng Chạp, cho phép tự do sáng tác, nhưng sẽ trực tiếp kiểm duyệt các tác phẩm của nhà thơ. Cuối năm 1833 ngài ngự còn ban cho nhà thơ chức Thị đồng, thường chỉ dành cho trẻ vị thành niên. Chức Thị đồng bắt buộc phải chầu hầu trong cung, như vậy Nikolai I đã một mũi tên nhằm hai đích: vừa hạ nhục vừa cột chặt nhà thơ cùng cô vợ giai nhân vào chốn cung đình. Gia cảnh sa sút không kham nổi cuộc sống xa hoa của “nữ hoàng vũ hội”; cảnh sát bóc trộm thư từ của nhà thơ; xã hội “thượng lưu” ngồi lê đôi mách, bắt đầu xì xầm về sự ve vãn của đám công tử đàng điếm xung quanh “thiên thần hiền thục” nhưng còn quá non nớt (Natalia lúc ấy mới 21 tuổi) trước những cạm bẫy của xã hội thượng lưu…

Tình cảnh ấy nhà thơ cảm nhận như sự mất tự do tuyệt đối, tức mất cả quyền tối thiểu của con người là được độc lập “suy tư và đau khổ”, chỉ còn là thân “nô lệ mỏi mòn” (Bạn đời ơi, đến lúc rồi…, 1834), chỉ như một kẻ điên dại bị nhốt cũi, bị xích tay xiềng chân, không khác gì một con thú (Lạy trời đừng bắt tôi phát điên, 1833). Cho dù trong bài thơ Gửi tới Sibiri, Ca sĩ Arion (1827, sáng tác đúng 3 ngày sau tròn 1 năm các lãnh tụ Tháng Chạp bị hành hình) nhà thơ khẳng định dẫu đơn thương độc mã, ông vẫn “ca khúc quân hành ngày trước”, tức vẫn thủy chung với những tư tưởng tự do của phái Tháng Chạp, nhưng giờ đây ông lạc lõng cô đơn như Tiếng vọng (1831), hồi âm đối với mọi âm thanh nhưng bản thân không bao giờ có hồi âm. Thực tế khắc nghiệt buộc Pushkin lựa chọn một phương châm xử thế khác, tâm sự trong bài thơ Em ơi, đã đến lúc rồi…(1834), nhắc lại trong thư cùng năm gửi vợ ngày 18 - 5: “Cầu Chúa cho anh được gặp lại em khỏe mạnh, các con đều nguyên vẹn và an toàn! Rồi ta sẽ nhổ toẹt vào Peteburg, rồi ta sẽ cáo hưu, rồi chuồn về Boldino, rồi sống cuộc đời một ông điền chủ…!”  Giọng hơi bông lơn như trong nhiều bức thư nhà thơ viết cho người vợ yêu dấu, nhưng đó là tâm trạng thật, phản ánh trong sự nghiệp sáng tác từ sau cái mốc lịch sử trên. Nhà Pushkin học lão thành, GS Gorodetsky có một nhận xét khái quát chính xác về giai đoạn mới trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ sau cái mốc lịch sử trên. Nhà Pushkin học lão thành, GS Gorodetsky có một nhận xét khái quát về giai đoạn mới trong sự nghiệp sang tác của nhà thơ: “từ khẳng định niềm vui sống chuyển dần sang tính bi kịch của cuộc đời”.

Thay vì tiếp tục kêu gọi đứng lên đập tan nền chuyên chế, xóa bỏ chế độ nông nô, nhà thơ viết bài thơ Stansy – Tản khúc (“Hy vọng vào vinh quang và thiện tâm”…, 1826), gây nên cuộc tranh cãi kịch liệt suốt hai trăm năm nay. Vào đầu bài thơ Pushkin nêu rõ sự tương đồng bối cảnh đăng quang của Pyotr Đại đế và Nikolai I: cùng phải dung đại bác đàn áp đẫm máu những người khởi nghĩa chống lại vương triều, Pyotr là cuộc bạo loạn của quân xạ thủ (1698), Nikolai – là cuộc khởi nghĩa Tháng Chạp (1825). Tiếp theo, nhà thơ ca ngợi Pyotr đã sớm khắc phục được sự khởi đầu “ảm đạm cả nhân gian”, bằng ý chí kiên cường, trí tuệ sáng láng và quan trọng nhất là “ngự trên ngai vẫn mải miết lao công”, nên đã đưa được nước Nga phát triển thành đế chế “vinh quang và thiện tâm”. Cuối cùng, ông kêu gọi tân hoàng “nối nghiệp tổ tông”, đặc biệt là “cũng như Người, quên hằn thù, rộng lượng” – ngụ ý xử khoan dung với các chiến sĩ Tháng Chạp.

Ngay lập tức Pushkin bị công luận tiến bộ đương thời lên án là “thối chí, đầu hàng, hai lòng”… Belinsky thất vọng thốt lên: “(Pushkin) chỉ cần vài ba bài thơ tỏ ra là thần dân trung tín, đã mất ngay lòng mến mộ của dân chúng”. Một thời sùng bái bạo lực cách mạng, người ta né tránh sự thay đổi lập trường chính trị ở Pushkin, cố công tô vẽ ông thành nhà thơ cách mạng kiên trung. Nhưng chính Pushkin khẳng định sự cần thiết thay đổi quan điểm khi tình thế đã đổi thay. Trong bài tiểu luận Aleksandr Radishev, viết ngày 3/04/1836 (tức chỉ 9 tháng trước ngày bị bắn tử thương) cho tờ Người cùng thời do chính mình xuất bản, nhà thơ khẳng định tính tất yếu lịch sử trong sự thay đổi quan điểm của “của nhà cách mạng Nga đầu tiên” (Lenin): “Chỉ kẻ ngu đần mới không thay đổi, bởi thời gian trôi không đem lại cho y sự phát triển, trải nghiệm sống không hề tồn tại đối với y”. Đã chứng kiến cảnh “dậy non, chết uổng” (dùng lời của chí sĩ cách mạng Phan Chu Trinh, cũng từng có thời bị phê phán là “cải lương tư sản”), ông quyết thay đổi phương châm xử thế, để có thể đem lại kết quả tích cực nhất trong tình thế khủng bố tiêu diệt tự do tồi tệ nhất. Giờ đây nhà thơ tập trung khai thác những vấn đề ở tầm sâu triết lý xã hội và nhân sinh, đặc biệt là vai trò của lớp tiên phong lãnh đạo và của nhân dân (hiểu theo nghĩa thời ấy là người thường dân, “chúng dân”[2]) trong quốc gia, tương quan của quyền lực với tự do cá nhân, của pháp luật với đạo lý…

            Mới bước vào tuổi tam thập nhi lập, nhà thơ đã khẳng định sự tất yếu đổi thay thế hệ và sẵn sàng nhường vị trí của mình, của thế hệ mình, vì “quá xa rời nhân dân” (Lenin) nên đã thất bại, cho thế hệ mới và hoan hỷ “cuộc sống mới thanh xuân bừng đua nở ”, bởi sự sống như bộ phận hữu cơ của thiên nhiên là bất diệt, “vẫn mãi lung linh sắc vẻ huy hoàng” (Khi lang thang trên phố phường ồn ĩ, 1829). Phận mình, ông xác định từ nay là suy tư và lao động sáng tạo (Khúc bi ca, 1830). Ngay cả trong chủ đề về tình yêu thì bây giờ “kẻ đa tình”, như chính nhà thơ từng tự nhận, cả một thời thanh xuân truy hoan với hết bông hồng này với bông hồng khác, giờ đây mới đi tìm vẻ đẹp thanh khiết và lâu bền của hoa huệ mà ông khẳng định như lý tưởng của tình yêu từ thuở mới 16 tuổi (Bông hồng, 1815). Giờ đây, khi thực sự đi tìm bến đỗ của tình yêu nhằm xây mái ấm yên bình cho suy tư và lao động sáng tạo, nhà thơ thiên về chiều sâu triết lý của tình yêu: vốn từng ca ngợi sức mạnh tình yêu đối với sự hồi sinh tâm hồn cá nhân (Gửi* , 1825), giờ đây ông khẳng định sức mạnh hướng thiện của “lửa lòng chợt bồi bùa hồi êm ái” đối với cả quỷ sứ (Thiên thần, 1827); khẳng định tình yêu trong trắng thủy chung là điểm tựa tinh thần để thoát khỏi sa ngã, khỏi “tình dối gian, khỏi phút đắm say cùng tội lỗi (Lá hộ mệnh, 1828), tình yêu là lòng khoan dung, vị tha, không vì mình nữa mà chỉ vì người (Nào có đáng gì cái tên anh, 1830) ; và hơn tất cả, tình yêu chân chính phải là sự hài hòa giữa tình yêu-hôn nhân-gia đình – cơ sở bền vững của hạnh phúc và lao động sáng tạo (Madona, 1830 ; Bí ca, 1830 ; Bạn đời ơi đã đến lúc rồi…, 1834) ; sự hài hòa giữa tình và nghĩa (Không, không, tôi không dám…, 1832 ; Trái tim tôi tưởng đã quên, 1835) – những ý tưởng thấm đậm hồn phương Đông. Dường như trở nên bình tĩnh hơn trước thời cuộc đảo điên, ít lâu trước khi phát súng định mệnh cắt ngang đời ông, Pushkin viết bài thơ Воды глубокие  (Nước sâu), ngắn nhất, chỉ 4 dòng với 8 từ, nhưng sâu sắc tính triết lí của người hiền Đông phương:

Во́ды глубо́кие                      Nước sâu

Пла́вно теку́т                         Không xiết

Лю́ди прему́дрые                  Hiền triết

Ти́хо живу́т                            An nhiên.

Trong giai đoạn sáng tác cuối cùng, chỉ trong một tháng 10 - 1833, ở làng quê Boldino, nơi ông mơ ước được lui về ẩn dật và sáng tác, cùng một số tác phẩm khác, chỉ trong một tháng 10/1833 Pushkin viết xong hai tác phẩm quan trọng, sâu sắc triết lý nhân sinh: 27 - 10 hoàn thành trường ca Angielo và 4 ngày sau, 31 - 10 trường ca Kỵ sĩ đồng. Cả hai trường ca đều khai thác chủ đề quyền lực và con người.

Có câu châm ngôn rằng: Thử thách ghê gớm nhất đối với con người là thử thách bằng quyền lực: muốn biết một người là ai, hãy trao quyền cho anh ta. Angielo là một thử nghiệm như vậy. Chỉ đến khi được trao quyền lực Tể tướng thì viên trọng thần Angielo công minh, luôn thượng tôn pháp luật mới hiện nguyên hình là một kẻ đạo đức giả, sắn sàng dùng quyền lực tối cao trà đạp pháp luật để thỏa mãn dục vọng. Bản trường ca này, ngay từ khi ra đời đã gây tranh cãi suốt hai trăm năm nay, hai chục năm trước mới được nhà thơ-dịch giả Thái Bá Tân chuyển ngữ sang tiếng Việt và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây do dịch giả Đoàn Tử Huyến sáng lập, công bố ở nước ta nhân 200 năm ngày sinh của thi hào Pushkin, trong tập I bộ Tuyển tập tác phẩm 5 tập (1999)…

Với trường ca Kỵ sĩ đồng Pushkin khai thác một bình diện khác trong mối tương quan quyền lực tuyệt đối của yếu tố lịch sử, với đại diện là Pyotr Đại đế, và quyền con người, dù là thân phận nhỏ bé nhất mà đại diện là nhân vật tiểu lại nghèo Evgeny. 

TS Trần Thị Phương Phương trong chuyên luận về thơ ca Nga có một nhận xét về phong cách của bản trường ca này: “Kỵ sĩ đồng là sự hòa trộn giữa phong cách trang nghiêm của những bản tụng ca thế kỷ XVIII (những đoạn viết về Pyotr) với phong cách của văn xuôi (đoạn viết về Evgeny), đoạn kết trường ca lại mang âm hưởng trầm buồn của bi kịch”[3].

Một nhận xét chính xác. Và lí thú. Lí thú ở chỗ cho thấy ngay sự đối lập của hai nhân vật trung tâm. Pyotr Đại đế là nhân vật vương giả từng được nhà thơ coi là lý tưởng minh quân, được ông ca ngợi trong trường ca Poltava nhằm nêu tấm gương cho Sa hoàng Nikolai I, hậu duệ của Pyotr Đại đế. Trong trường ca Kỵ sĩ đồng vị minh quân đó được tôn lên thành thần tượng, đại diện cho cái tất yếu lịch sử đối với nước Nga, đó là : dựng đô thành-pháo đài tại vùng đầm lầy ở nơi cửa sông Neva đổ vào biển Baltic, mở cửa biển cho nước Nga giao lưu với châu Âu để canh tân và phát triển. Trong bản trường ca mới, Pyotr Đại đế Pyotr Đại đế hiện diện dưới hai biểu tượng : 1) hình bóng lồng lộng trên cửa sông Neva thuở còn hoang vu và bức tranh toàn cảnh đô thành mới S-Peterburg tráng lệ mà công lao tạo dựng lại là vị “Thợ mộc trên ngai vàng”, vừa là vị vua chuyên chế tàn bạo nhân danh tất yếu lịch sử ; 2) Thần tượng đồng uy nghi trên ngựa đồng, trong tưởng tượng của chàng Evgeny loạn trí phóng ngựa rầm rập đuổi theo như muốn giẫm đạp lên con người nhỏ bé bất hạnh.

Nhân vật thứ hai, thực ra là nhân vât hành động duy nhất trong bản trường ca, chính là chàng Evgeny kia, một con người nhỏ bé, hiền lành và cần mẫn, chỉ muốn được sống, được lao động đêm ngày, gây dựng một tổ ấm nhỏ bé để yêu chiều nàng Parasha con côi mẹ góa, mơ ước được cùng nhau sống đến đầu bạc răng long rồi dắt tay nhau xuống chung một huyệt để con cháu đắp mồ yên mả đẹp. Vậy mà không được. Đấng quyền uy tối cao nhân danh tất yếu lịch sử kia không tính đến, không đếm xỉa đến vận mạng của hàng vạn, hàng vạn con người nhỏ bé. Con sâu xéo lắm cũng uằn. Nến trong vở kịch lịch sử Boris Godunov (1825), “dân chúng im lặng” – một sự im lặng đáng sợ ! – khi Dmitri Giả Danh bước qua xác chết của con cái Godunov để lên ngôi, thì trong bản trường ca mới của “vầng mặt trời thi ca Nga”, kể câu chuyện tình yêu mãnh liệt của viên tiểu lại công sở Evgeny, coi thường cả hiểm nguy lũ lụt để đến với người mình yêu, thì chỉ còn thấy tận mắt  cảnh cửa nát nhà tan và chết đuối của mẹ góa con côi trong lũ lụt kinh hoàng, không cam chịu nữa, đã “ nổi loạn ”. Tất nhiên, mới là sự phản kháng đơn độc của kẻ loạn trí! Nhưng hãy đọc mấy câu nhà thơ miêu tả hành vi nổi loạn của Evgeny khi một đêm tình cờ lang thang qua quảng trường, bỗng ngước nhìn thần tượng đồng ngự trên ngựa đồng, và thế là đột nhiên:

                                        Mắt mờ đi tựa phủ màn sương đen,

                                        Một luồng lửa trong tim bỗng lan truyền,

                                        Máu sôi lên, mặt sa sầm ảm đạm,

                                        Nhìn thần tượng ngạo nghễ trên không trung.

                                        Bỗng nghiến răng, nắm chặt tay nổi xung,

                                        Thôi thúc bởi sức phi thường đen tối,

                                        Chàng thì thào,giọng run lên dữ dội:

                                        “Được lắm! - nhà xây dựng diệu mầu!

                                        Cứ liệu hồn!...”

Hơn ai hết, Nga hoàng Nikolai I hiểu thông điệp Pushkin nhắn gửi trong mấy vần thơ này, yêu cầu cắt bỏ cả đoạn nổi loạn của kẻ cùng đường thì mới cho phép xuất bản. Nhưng nhà thơ thà chấp nhận không công bố trường ca chứ không bỏ tình tiết trung tâm thể hiện ý đồ tư tưởng của Kỵ sĩ đồng. Một học giả nước ngoài, chuyên gia văn học Nga, từng lưu ý bức ký họa của Pushkin trên bản thảo một trường ca khác chưa hoàn thành: Pushkin vẽ đúng tượng đài Kỵ sĩ đồng, nhưng trên lưng con ngựa tung vó bên vực thẳm không có kỵ sĩ. Pushkin ngụ ý gì: kỵ sĩ đã xuống ngựa bị con ngựa hất xuống? Kỵ sĩ đó là Pyotr Đại đế cơ đấy!

Nguyên bản trường ca Kỵ sĩ đồng chỉ được khôi phục và công bố sau Cách mạng tháng Mười, vào năm 1919 (có tài liệu viết 1923).

*

Mới 38 tuổi đã chấp nhận sống an nhiên để suy tư và đau khổ mà cũng không xong. Linh cảm ngày rời trần thế tới gần, vài tháng trước, Pushkin viết bài thơ khẳng định mình đã thực hiện trọn vẹn trong thế kỷ bạo tàn sứ mệnh nhà thơ đối với nhân dân – “chúng dân trăm họ”, đó trước hết là là thức tỉnh lòng nhân, thứ hai là ca ngợi tự do, và cuối cùng, khơi gợi lượng cả khoan dung với những ai sa cơ lỡ bước (Đài kỷ niệm, 1836). Rõ ràng về cuối đời Pushkin đi đến một triết lý sống và sáng tạo rất gần với truyền thống minh triết nhân bản phương Đông – bởi nói “thức tỉnh thiện tâm”, có nghĩa quan niệm lòng nhân, tính thiện vốn có sẵn trong mỗi sinh vật là con người: “nhân chi sơ tính bản thiện” – minh triết nhân bản phương Đông khẳng định vậy mà! Bởi vậy thơ ca của ông sẽ bất diệt trước hết trong mọi tầng lớp “chúng dân” ở nước Nga rộng lớn và trên khắp thế gian mênh mông này: đài kỷ niệm ông “đường dân chúng tới thăm không mọc dầy cỏ dại” và ông có quyền tự hào chính đáng: “Chúng dân trăm họ sẽ mến yêu ta mãi mãi”.

                                                                                                                      V.T.K

 

 

 



[1] Герцен А.И.: Литература и общественное мнение после 14 декабря 1825г. – Собрание сочинений в 30-и томах, М., 1956, т.7, с.209 - 230.

 
[2] Từ điển Từ Nguyên cho từ “nhân dân” nghĩa cổ là “chúng thứ”, nghĩa là các loại thứ dân, tức dân thường, đối với “công”, chỉ các loại quý tộc, có chức tước). Bản thân Pushkin là quý tộc, sở hữu hai trăm nông nô mà ông đem cầm cố để có tiền lo của hồi môn
[3] Trần Thị Phương Phương. Thơ ca Nga - Từ khởi thủy đến hiện đại. – NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2010, tr. 175.

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 17/12/2019

Tin khác

NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾNHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ
NGUYỄN ĐỨC MẬU VÀ NHỮNG VẦN THƠ TRI ÂN ĐỒNG ĐỘINGUYỄN ĐỨC MẬU VÀ NHỮNG VẦN THƠ TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI
PGS. TS NGÔ VĂN GIÁ: NGƯỜI LÀM BÁO CẦN NHIỀU HƠN LÀ CHỮ TÀIPGS. TS NGÔ VĂN GIÁ: NGƯỜI LÀM BÁO CẦN NHIỀU HƠN LÀ CHỮ TÀI

Tin mới nhất

Những Khoảnh Khắc Cuộc Đời
Những Khoảnh Khắc Cuộc Đời

Truyện ngắn của Đỗ Thu Yên, dễ đi vào lòng người. Nhất là những người từng trải qua tình yêu trong chiến tranh, tình yêu người lính chiến. Đây là một trong những trường hợp hiếm. Đối với người chơi ở chốn văn chương xưa nay.

Sách mới

Những Khoảnh Khắc Cuộc Đời

viết bởi: Song Vũ Hoàng Phương

Những Khoảnh Khắc Cuộc Đời
Đá tự tình

viết bởi: Nguyễn Vũ Tiềm

Đá tự tình
Điệp khúc xuân dâng người

viết bởi: Lê Hồng Thiện

Điệp khúc xuân dâng người