NGƯỜI THỔI SÁO MÙ

Tôi chỉ biết tôi đã nhận một ân hưởng lớn lao từ mênh mông vũ trụ này. Ân hưởng đó đến từ mặt đất mà tôi đang đặt hai chân mình ở đó với quá nhiều bóng tối bủa vây...

Viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Khi những ngọn gió thu thổi qua thị xã Hà Đông tôi lại nhớ đến một người đàn ông mù thổi sáo rong kiếm sống. Ông đã dừng lại trước tôi đang ngồi uống cà phê, nâng sáo thổi một khúc rồi ra đi.

Những văn nghệ sỹ sống ở Hà Đông chúng tôi thường ngồi uống cà phê ở một quán vỉa hè có tên là Cà phê Paris Phố cũ vào các buổi tối và đặc biệt các buổi sáng cuối tuần. Thi thoảng lại có một nhà văn, nhà thơ hay nghệ sỹ ngoại quốc hoặc một văn nghệ sỹ người Việt sống ở nước ngoài đến quán này uống cà phê với chúng tôi. Thực ra tên quán là Cà phê Phố cũ. Nhưng không biết ai trong chúng tôi đã thêm chữ Paris vào. Chữ Paris thì cụ thể, nhưng khi thêm vào tên quán bỗng làm cho cái quán trở về xa xôi và cổ kính. Nhà thơ , dịch giả Diễm Châu sinh thời mỗi khi viết thư cho tôi đều hỏi thăm bạn bè văn nghệ sỹ Hà Đông mặc dù ông chỉ mới gặp mình tôi. Khi ông in một chùm thơ dịch trên tờ Văn Nghệ, ông đã nhờ tôi dùng số tiền nhuận bút đó mời anh em văn nghệ sỹ Hà Đông uống cà phê. Ông hẹn với tôi sẽ về Việt Nam và đến uống cà phê ở cái quán ấy. Ông bảo ông sống ở Paris quá nửa đời người nhưng cái quán Cà phê Paris Phố cũ ở thị xã Hà Đông lại gợi không khí hơn bất cứ quán cà phê nào ở Paris. Thế nhưng ông chưa kịp về uống cà phê và trò chuyện với bạn bè ở Hà Đông thì ông đã lên xe mây về tận cuối trời. Chuyến xe đó luôn luôn đúng giờ mà không ai được phép đến sớm hơn hay muộn hơn. Vì thế, cho dù mong muốn đến nhường nào chúng tôi cũng không giữ ông ở thêm một khắc trên cái bến trần gian này.

Họa sỹ Lê Thiết Cương có lần nhờ tôi gửi lời đề nghị tới ông chủ quán Cà phê Paris Phố cũ là : ngày nào mà các văn nghệ sỹ Hà Đông không đến uống cà phê thì ông treo những chiếc ghế của họ lên một tường của quán. Một ý tưởng quá xuất sắc. Nó mở ra một không gian nghệ thuật sắp đặt vô cùng mới lạ và ấn tượng, sau đó nó mở ra một không gian khác còn ấn tượng hơn. Không gian ấy là gì cho tới bây giờ tôi vẫn chưa nghĩ ra tên gọi.

Và ở Cà phê Paris Phố cũ, trong một buổi sáng sang thu mươi năm trước, tôi đã gặp người thổi sáo mù. Ở quán cà phê này, tôi vẫn thường xuyên gặp những người hát rong đi qua. Bây giờ, hầu như những người hát rong đều có sự trợ giúp âm thanh, có những nhóm người hát rong giống như một ban nhạc đường phố. Họ hát những bài thời thượng và có bản phối âm phối khí ghi trong đĩa CD. Nhưng người thổi sáo mù đi qua thị xã Hà Đông trong buổi sáng mùa thu ấy chỉ có một cây sáo trúc đã thẫm màu thời gian. Ông mặc một bộ quấn áo mỏng, tối màu và đeo một chiếc mũ lá sau lưng. Không hiểu sao, cho đến bây giờ tôi vẫn tin buổi sáng mùa thu ấy ông đã từ dãy núi cao đi xuống thành phố.

Khi đi qua chỗ chúng tôi ngồi uống cà phê, ông dừng lại. Quả thực lúc đầu tôi không để ý nhiều đến ông. Ông thổi một bài dân ca quen thuộc. Và tôi lơ đãng. Khi ông thổi xong, một người trong chúng tôi lấy một tờ bạc đưa cho ông. Ông rướn đôi mắt mù về phía chúng tôi và cám ơn. Nhưng khi ông định quay đi, tôi bỗng đứng dậy đến trước ông. Tôi kéo ghế mời ông ngồi và khẩn khoản nói với ông rằng tôi muốn nghe ông thổi một bản nào đó mà ông muốn thổi nhất. Nghe vậy, ông hơi ngước lên nhìn tôi. Và khoảnh khắc ấy, tôi thấy một đôi mắt khác vừa mở trong chính đôi mắt mù của ông.

Người thổi slo 1, sơn dầu trên toan, khổ 70 x 90cm. NQT

Tôi không nhớ rõ cảm xúc của tôi buổi sáng ấy ra sao. Nhưng tôi nhớ tôi đã muốn nghe một cái gì đó mà như từ lâu rồi tôi không được nghe nên lòng luôn luôn mang một nỗi phiền muộn. Nhưng lời cầu khẩn của tôi lúc đó có lẽ chỉ là một sự trỗi dậy của một cái gì đó da diết và mãnh liệt trong tôi chứ không phải tôi nghĩ rằng người thổi sáo mù kiếm ăn kia lại có thể mang đến cho tôi những gì tôi chờ đợi.

Sau lời cầu khẩn của tôi, người thổi sáo mù thoáng chút lúng túng. Nhưng đôi mắt của ông vẫn nhìn thẳng về phía tôi. Cuối cùng ông nói khẽ như chỉ mình tôi nghe thấy : “ Tôi sẽ thổi”. Ông không ngồi xuống ghế. Ông lùi lại một bước gần phía gốc cây bàng đang đỏ lá. Dưới bóng lá thắm đỏ của cây bàng mùa đông và trong những ngọn gió heo may lùa qua thị xã, ông nâng cây sáo. Và âm nhạc đã đến như lần đầu tôi được biết.

Trước khi viết những dòng này, quả thực tôi đã viết rất nhiều lần với đủ loại mỹ từ để cố gắng tái hiện lại một chút gì đó giai điệu tuôn chảy từ cây sáo trúc thẫm màu của ông già mù. Nhưng tôi đã thất bại cho dù cho đến tận bây giờ, sau nhiều năm, âm nhạc ấy nguyên vẹn và tràn ngập tôi. Và thế tôi không viết gì nữa hay nói chính xác là tôi không có khả năng viết về âm nhạc ấy. Tôi chỉ biết tôi đã nhận một ân hưởng lớn lao từ mênh mông vũ trụ này. Ân hưởng đó đến từ mặt đất mà tôi đang đặt hai chân mình ở đó với quá nhiều bóng tối bủa vây. Ân hưởng đó đến từ bầu trời bất tận mà tôi từng ngước mắt nhìn những ngôi sao trong những đêm tối âm u. Những phiền muộn thuở ấy tan biến trong tôi và không bao giờ trở lại cho dù có lúc tôi vẫn nổi giận vì một vài điều gì đó. Nổi giận nhưng quả thực không phiền muộn nữa.

Tôi đã nói đến một đôi mắt mở trong đôi mắt mù của người đàn ông thổi sáo kia. Chính lúc tôi chợt nhìn thấy đôi mắt mở ấy, một thói xấu trong tôi lóe lên. Tôi nghi ngờ người đàn ông đó. Tôi nghĩ ông đã lừa tôi. Ông đã giả vờ là một người mù đi thổi sáo rong để đánh thức lòng thương xót của người đời và lợi dụng nó. Rồi thi thoảng ông lại mở mắt nhanh hơn một cái chớp mắt như để chế nhạo sự ngốc nghếch và tội nghiệp của kẻ đang đứng trước mình. Nếu không như vậy thì làm sao lại có một đôi mắt mở trong một đôi mắt mù. 
Tôi sẽ chẳng bao giờ hết ngốc nghếch và những thói xấu. Nhưng tôi hoàn toàn tin sự thật này : sự thật có một đôi mắt mở và thấu đến tận cùng trong chính đôi mắt mù ấy.

Từ buổi sáng thu đó, tôi đến uống cà phê nhiều hơn để hy vọng gặp lại người đàn ông mù thổi sáo. Nhưng mười năm đã đi qua, tôi không gặp lại ông. Trong khi đó tôi vẫn thường gặp lại những người hát rong khác. Nhiều năm trước, tôi cứ nghĩ có lẽ do ông đau ốm mà không đi hát rong nữa hay ông đã mất. Nhưng đến bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao ông không trở lại thị xã bé nhỏ của tôi. Vì ông chỉ đi qua và dừng lại trước tôi một lần để ban cho tôi ân hưởng ấy. Người ta chỉ có thể hoặc nhận biết hoặc không bao giờ. Và nhận biết chỉ là nhận biết chứ không bao giờ là nhận biết lần thứ hai hay lần thứ bao nhiêu cả. Chúng ta chỉ có một lần và không có lần thứ hai.

Tôi sẽ không bao giờ gặp lại ông cho dù tôi biến thành một ngìn tôi ngồi ở tất cả các quán cà phê của thị xã này suốt ngày suốt đêm chờ ông. Nhưng không phải vì ông không trở về và đi qua chốn này. Ông vẫn từ dãy núi cao trở về, đi qua thị xã và dừng lại trước một ai đó và nâng sáo. Âm nhạc lại đến. Ân hưởng lại đến với một người khác. Và cũng như tôi, người đó sẽ không bao giờ gặp lại ông thêm một lần nào nữa.

                                                                                                                        N.Q.T

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 22/10/2018

Tin khác

HƯƠNG NƯỚC TRONG CỎ XANHHƯƠNG NƯỚC TRONG CỎ XANH
QUAN HỆ CỘNG SINH CỦA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH, NHÌN TỪ TÁC PHẨM NGUYỄN NHẬT ÁNHQUAN HỆ CỘNG SINH CỦA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH, NHÌN TỪ TÁC PHẨM NGUYỄN NHẬT ÁNH
KHI NGƯỜI HỌC BỊ COI LÀ LỢN?KHI NGƯỜI HỌC BỊ COI LÀ LỢN?

Tin mới nhất

Lưng rồng
Lưng rồng

Lưng rồng

Sách mới

Lưng rồng

viết bởi: Nhà xuất bản

Lưng rồng
Thăm thẳm mùa hè

viết bởi: Nhà xuất bản

Thăm thẳm mùa hè
Vang bóng một thời

viết bởi: Nhà xuất bản

Vang bóng một thời