CÓ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ LƯU LẠC ...

Số phận đã đưa chị Thủy đến mảnh đất này, và chị đã cất riêng những câu chuyện buồn của số phận, và đang vươn lên, bén rễ, dâng tặng cuộc sống những tinh hoa của ẩm thực Việt.

Viết bởi: Nguyễn Phan Quế Mai

Đoàn tàu thở hắt một hồi còi dài, rồi rùng mình, nặng nhọc trườn đi, kéo theo những phận người mệt nhoài sau một ngày dài bươn chải. Ngoài kia, ánh hoàng hôn đang phủ lớp áo ảo mờ lấp lánh vàng son lên màn nước phẳng lặng của vịnh Manila. Nhưng sẽ rất ít người có cơ hội chạm vào tấm áo hào nhoáng ấy. Họ là những người nông dân đã bỏ làng mạc và những hòn đảo thanh bình rải rác khắp Philippines, trôi dạt về thủ đô Manila để kiếm sống. Trong số những phận người lưu lạc ấy, có một người phụ nữ đến từ bên kia bờ đại dương, với cái tên thật dịu dàng: Nguyễn Thị Thanh Thủy.
Chị đã nài nỉ tôi đừng về nhà chị, rằng để viết một bài báo, tôi cần gì phải vất vả thế. Nhà chị xa lắm, tồi tàn lắm, đi bằng phương tiện công cộng phải mất hơn hai giờ đồng hồ. “Em cứ ngồi trong cái nhà hàng máy lạnh này phỏng vấn chị đi, chị sẽ trả lời các câu hỏi của em”. Chị đã nói thế với tôi ở cửa hàng Phở Bắc, nơi chị làm đầu bếp, nơi tôi thường xuyên ghé qua để đắm mình vào những hương vị thơm phức, ngọt bùi của quê hương, của những món ăn đậm chất Việt Nam như phở, hủ tiếu, gỏi cuốn, chả giò, bánh xèo, bún cá, cháo hải sản, chè bà ba... mà chị nấu. Khi tôi đến, bao giờ chị cũng hồn hậu chạy ra từ bếp, vừa chạy vừa lau khô hai tay vào
tạp dề để có thể ôm choàng lấy tôi. Rồi chị dọn những món ngon nhất cho tôi ăn, và luôn làm tôi nghẹn ngào vì bàn tay, giọng nói và sự quan tâm của chị khiến tôi nhớ mẹ mình quay quắt. Cứ mỗi lần đến đó, tôi cũng phải thuyết phục rất lâu, chị mới để tôi trả tiền. Tôi biết những đồng lương của chị làm gì đủ để có thể thết đãi tôi những món ăn thịnh soạn này – chúng phải sử dụng một số nguyên liệu đã trải qua hàng ngàn cây số để đến đây từ xứ Việt.
Chị sinh ra ở vùng ven Sài gòn vào năm 1955. Tuổi thơ của chị là những tháng ngày ngơ ngác, vô định vì chị không biết mặt cha – hình như ông là một người nước ngoài nào đó, và mẹ chị, vì không chịu nổi những lời dè bỉu của xóm giềng, đã bỏ chị ra đi. “Sống với người dì, tôi trống vắng lắm. Nhưng tôi không trách mẹ tôi, vì Chúa đã dạy tôi phải biết tha thứ, kể cả cho những lầm lỗi của những người thân yêu nhất”. Chị tâm sự với tôi rằng đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, cũng như tất cả các đạo tôn giáo đều hướng con người đến những mục đích tốt đẹp nhất. “Đạo khó thực hiện nhất là đạo làm người, phải không cô? Thật khó để sống sao cho ra con
người, để làm một con người tốt”, chị nói. Cũng vì theo đuổi “đạo làm người” mà giọng chị không hề biểu lộ sự than van, trách móc khi chị lật giở cho tôi những trang quá khứ đau buồn trong quyển tiểu-thuyết-cuộc-đời của chị. Những trang tiểu thuyết chưa từng được viết, và rất ít người được biết, về những ngày ấu thơ nơi chị bị chế diễu là “con lai”, nơi chị cô đơn tập tễnh trên con đường nhỏ dẫn đến ngôi trường dành cho trẻ mồ côi.
Nhưng, nhu cầu tồn tại của cuộc sống buộc chị phải nghỉ học khi lớp ba vừa kết thúc, và chị bị cuộc đời quăng quật từ đó. Một cô gái nhỏ nhắn là chị đã phải oằn lưng dệt cói, phải xe sợi bằng chân để bện võng. Cẳng chân tứa máu. Chị đã phải dùng một chiếc săm xe cũ quấn quanh chân, để tránh cho mình những vết thương mà cói và sợi đang cứa vào da thịt. Những trang ký ức của cuộc đời chị không chỉ có nỗi buồn mà còn mịt mù khói lửa chiến tranh. Và bây giờ khi nhớ về một nửa cuộc đời đã bỏ lại ở Việt Nam, chị nhớ nhất là tấm lưng của một người hàng xóm. Người ấy khi nghe còi báo hiệu đã chạy xuống hầm, nhưng sực nhớ về đứa con nhỏ, ông đã quay lại, bế thốc lấy con. Khi ông đang lui cui quỳ trên nóc hầm để trao con cho vợ ở dưới hầm, hỏa tiễn đã dội xuống ngôi nhà tranh của ông, dội xuống lưng ông. Ông đã che chở cho sự sống của tất cả các thành viên trong gia đình mình bằng tấm lưng rách nát, đẫm máu ấy.

Chị Thủy nói với tôi rằng, ước nguyện lớn nhất của chị là được bình an, và không bao giờ phải chứng kiến những cảnh tượng hãi hùng ấy nữa. Nhưng những ngày tháng bình an khi ấy thật hiếm hoi, vì dù cố gắng chị cũng không thể nào tìm được công việc ổn định, không thể nào được người ta tin tưởng, chỉ vì cái mác “con lai”, “không cha không mẹ”.
Bình an chỉ đến khi chị gặp anh – một người đàn ông hiền lành đến từ đất nước Philippines xa xôi. Anh sang Việt Nam khi đó để làm thợ điện. Chị bập bẹ tên anh – Jerry Ramirez, một trong những từ nước ngoài đầu tiên mà chị biết. Dù không thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt, nhưng anh thấu hiểu chị tận cùng gan ruột. Và chị thấy mình đang được chạm vào bến đỗ bình yên.
Cũng chính bến đỗ bình yên ấy đã kéo con tàu cuộc đời của chị đến mảnh đất xa xôi này, nơi chị đã định cư ở đây từ năm 1983. “Gần 30 năm qua, tôi về Việt Nam khoảng ba lần thôi cô ạ. Về đó, quá khứ đau buồn lại sống dậy trong tôi, làm tôi chịu đựng không nổi”. Khi tôi hỏi chị về những ký ức đẹp ở Việt Nam, chị suy nghĩ rất lâu rồi lắc đầu. Và chị kể cho tôi nghe lần cuối cùng chị về, để tiễn đưa mẹ chị đến nơi an nghỉ cuối cùng. Dì chị đã báo tin, và chị đã dồn tất cả tiền tiết kiệm để về gặp mẹ. Khi hòn đất thả xuống quan tài mẹ rời tay chị, một phần cuộc đời của chị cũng úa tàn theo.

Ký ức về Việt Nam chẳng vui vẻ gì, nhưng cuộc sống của chị ở nơi đất khách quê người cũng chẳng dễ dàng. Hàng ngày, chị luôn thức giấc trước mặt trời, lúc 4 giờ sáng, đón 2 chuyến xe xích lô, 1 chuyến xe lam, và một chuyến xe lửa, để tới chỗ làm ở khu Makati. Nhà chị ở tận Fairview, cũng không quá xa nếu có xe riêng, nhưng đi lại với các phương tiện giao thông công cộng phải mất hơn hai tiếng mỗi chiều. Chị có mặt ở chỗ làm việc từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều, khi xong việc là tất tả đi bộ 30 phút để ra bến đỗ xe lửa. Khi về đến nhà, trời cũng đã tối vì đường rất xa. Công việc hàng ngày của chị ở nhà hàng khá nặng nhọc, vì chị phải liên tục đứng bếp, và chị luôn nỗ lực nấu thật ngon để làm hài lòng thực khách. Ẩm thực Việt được người Phi rất trân trọng, vì thế áp lực của chị rất lớn. “Là người Việt ở nhà hàng Việt Nam, mình phải làm việc gấp đôi, gấp ba người Phi, để nơi đây thực sự là nơi chốn tin cậy cho những thực khách yêu thích đồ ăn Việt”. Và ở đây, chị luôn rưng rưng khi gặp lại một giọng nói Việt Nam, đó có thể là một sinh viên Việt Nam, một người Việt sang đây làm việc, hoặc đơn giản là một người nước ngoài biết vài ba câu tiếng Việt.

Nhớ khi ở cửa hàng Phở Bắc, nơi tôi vào bếp cùng chị, nhìn chị thoăn thoắt chuẩn bị các món ăn, và hỏi liệu chị có mệt không, chị liền phẩy tay “đôi khi cũng mệt, nhất là buổi sáng phải dậy quá sớm. Nhưng phải tự nhủ mình hãy quên mệt đi, không nhớ tới cái mệt nữa. Làm việc nhiều thì lại đỡ mệt ngay, cô ạ”. Chị nói một cách giản dị. Và về câu hỏi tại sao chị lại ở xa nơi làm đến thế: “Ở nhà mình vẫn hơn chứ cô. Dù xa nhưng vẫn có nhà. May mà chồng tôi và tôi đã dành dụm để mua được mảnh đất nhỏ, vì không đủ tiền nên phải mua ở ngoại ô. Rồi chúng tôi vay mượn để cất nhà lên”.
Một con thuyền đã chở chị lênh đênh trên biển nhiều ngày nhưng chị không hề sợ hãi. Sau khi đến Philippines, chị đã được chồng bảo lãnh và đưa về vùng quê. “Cha mẹ người Phi của tôi tốt lắm. Họ là những người nông dân cần cù chân chất. Họ dạy tôi tiếng Phi, đối xử dịu dàng với tôi, bao bọc tôi như cha mẹ”. Cuộc sống khó khăn đã buộc anh và chị rời bỏ xóm thôn, lên thủ đô Manila kiếm sống. “Ban đầu chúng tôi ở cùng với bạn bè. Họ đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Rất đông người túm tụm trong một căn nhà nhỏ. Vui lắm. Người Philippines có câu “ăn thì nhiều nhưng ngủ có bao nhiêu”. Người Philippines tốt, tốt lắm”. Nụ cười hiền hậu hiếm hoi nở bừng khuôn mặt chị.

Khi chiếc xe xích lô đỗ xịch gần cửa nhà chị, và một lũ trẻ đen nhẻm túa ra, tranh nhau xách hộ chị những túi đồ đạc nặng trĩu. “Hàng xóm tôi dạy con họ phải giúp đỡ những người khác, nhất là giúp đỡ hàng xóm láng giềng. Tôi đi làm suốt, mấy đứa nhỏ hàng xóm cứ đem chổi quét, giúp dọn sạch lá cây và rác trước cửa nhà tôi. Họ luôn nhắc nhở các con “ở trường, thầy cô dạy các con sạch sẽ, vậy các con nhìn quanh xem khu xóm của mình đã sạch sẽ chưa?””. Đôi mắt chị ánh lên vẻ tự hào. Một cô bé xinh xắn ùa vào lòng chị, kéo tay chị đặt lên trán nó. Bắt gặp tia nhìn ngạc nhiên của tôi, chị thốt lên: “Cô bé này làm thế vì tôi là mẹ đỡ đầu của nó mà. Tôi có rất nhiều con đỡ đầu. Người Việt chưa ai nhờ tôi làm mẹ đỡ đầu, nhưng rất nhiều người Phi nhờ tôi làm mẹ đỡ đầu cho con họ. Người Phi yêu quý cha mẹ đỡ đầu lắm, họ còn có bài hát “Nì nang nì nung” dành tặng cha mẹ đỡ đầu đấy cô ạ!”.
Trong căn nhà nhỏ đơn sơ của chị và chồng, tôi đã gặp anh Jerry, một người đàn ông hiền lành ít nói. Chúng tôi chỉ có ít phút trò chuyện với nhau, vì anh phải rời nhà đi làm – anh đạp xe ba gác chở hàng và chở khách để kiếm sống.Chị cho tôi xem những dòng chữ viết tay nguệch ngoạc của chị - những công thức nấu ăn mà chị đã chép từ những quyển sách dạy nấu ăn. Không có tiền để mua sách, buổi trưa, chị ăn thật nhanh rồi qua cửa hàng sách bên đường. “Tôi tìm đến kệ sách, chọn một quyển, đọc cho đến khi phải quay lại chỗ làm. Tôi phải nhớ vị trí quyển sách và số trang tôi đang đọc, để bữa sau quay lại đọc tiếp. Mấy năm rồi, nhân viên cửa hàng sách biết tôi chẳng bao giờ mua sách, biết là tôi hàng ngày vào đó để đọc sách của họ, vậy mà họ chẳng bao giờ xua đuổi hay nhắc nhở. Họ vẫn tươi cười với tôi, tôn trọng tôi. Bao giờ khi tôi rời cửa hàng, họ cũng mở cửa cho tôi với một nụ cười “Cảm ơn bà, ngày mai bà lại tới nhé!” (Thank you, come again tomorrow!). Chị Thủy kể với tôi, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má.
Tôi rưng rưng khi cầm trên tay những dòng chữ của chị - đó là những ghi chép về các món ăn yêu thích của tôi, và cũng có những món ăn mới, những công thức Âu Á đó đây mà chị muốn học hỏi. Số từ vựng viết của chị Thủy rất ít vì chị mới học hết lớp ba, và chị bảo tôi, chị học chủ yếu qua hình ảnh. Còn các từ tiếng Anh thì chị học lỏm qua giao tiếp. Vậy mà vẫn tồn tại, vẫn sống, vẫn thích ở đây.
Chị bảo với tôi rằng thỉnh thoảng chị có gặp lại những người Việt Nam đã từng nương náu ở xứ này, rồi sau đó họ được tỏa đi các nước như Mỹ, Úc, Canada, và giờ đây họ tìm về Philippines – mảnh đất mà họ có bao ngày tháng không thể nào quên. Họ tìm về các ma xơ, những người đã giúp họ từ thưở ban đầu. Chính các ma xơ người Việt cũng đã giúp chị Thủy, đã hướng dẫn chị nấu ăn, rồi giới thiệu chị cho chị Nết, người chủ tốt bụng của nhà hàng Phở Bắc mà chị đang làm việc. Trong nhiều năm, các ma xơ đã tự làm chả lụa, giò và các món ăn để cung cấp cho các cửa hàng thực phẩm Việt Nam, rồi dùng số tiền đó giúp đỡ các thuyền nhân Việt Nam. Lồng ngực tôi chợt bật lên câu hỏi: “Chị rất thích sống ở Philippines, lấy chồng Phi, và chị đã sang đây gần 30 năm, vậy thì chị xem mình là người Việt, người Phi hay cả hai?”. “Chị luôn luôn là người Việt chứ, và chị tự hào mình là người Việt”, chị trả lời tôi không chút đắn đo. Cũng vì lòng tự hào đó mà chị không ngại ngần chia sẻ những bí quyết nấu thức ăn Việt Nam cho những người khác, đặc biệt là các phụ bếp người Phi trong nhà hàng Phở Bắc. Cũng vì lòng tự hào đó mà các món ăn do chị nấu được chị chăm chút với tất cả tình yêu thương, để nó thấm đẫm hương vị truyền thống của nước Việt.

Chị Thủy ở một quán phở

Chia tay chị Thủy, tôi thầm cảm ơn chị đã cho tôi hạnh phúc được đi trên quãng đường dài về nhà chị, để tôi có thể chạm tay vào những trang tiểu thuyết cuộc đời của chị - những trang sách lưu lạc bởi sự va đập của số phận và thời gian, để rồi hôm nay tôi được nâng niu chúng trên tay với sự trân trọng và biết ơn. Trên chuyến xe dài đằng đẵng về nhà, lòng tôi đau đáu ý nghĩ về chiến tranh và số phận. Số phận và chiến tranh đã reo rắc những phận người Việt Nam đến khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng đâu phải ai cũng tìm được bến đỗ bình an. Dẫu sao chị Thủy cũng là người may mắn vì chị đã có được cõi riêng của mình, và tôi chợt nhớ đến góc công viên trước cửa hàng Phở Bắc nơi chị làm việc, nơi đó một lũy tre luôn xanh mướt rì rào bên những hàng cây đại đơm hương trắng muốt bên con đường tất tả ngược xuôi. Số phận đã đưa chị Thủy đến mảnh đất này, và chị đã cất riêng những câu chuyện buồn của số phận, và đang vươn lên, bén rễ, dâng tặng cuộc sống những tinh hoa của ẩm thực Việt.

Manila ngày 13/2/2012

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 03/08/2018

Tin khác

VỀ CÀ MAU "NHẬU" NGUYỄN NGỌC TƯVỀ CÀ MAU "NHẬU" NGUYỄN NGỌC TƯ
TRÁI TIM TÔI MỘT LẦN BỊ XÉ RÁCHTRÁI TIM TÔI MỘT LẦN BỊ XÉ RÁCH
NHÀ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC QUỐC TẾ HÀN QUỐC MANG TÊN CHANGWONNHÀ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC QUỐC TẾ HÀN QUỐC MANG TÊN CHANGWON

Tin mới nhất

NGƯỜI THỔI SÁO MÙ
NGƯỜI THỔI SÁO MÙ

Tôi chỉ biết tôi đã nhận một ân hưởng lớn lao từ mênh mông vũ trụ này. Ân hưởng đó đến từ mặt đất mà tôi đang đặt hai chân mình ở đó với quá nhiều bóng tối bủa vây...

Sách mới

Giai Hà Nội lặn lội LonDon

viết bởi: Nhà xuất bản

Giai Hà Nội lặn lội LonDon
Ta còn em

viết bởi: Nhà xuất bản

Ta còn em
Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam

viết bởi: PGS.TS.Hồ Thế Hà

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam