TÔI KHÓC NHỮNG CÁNH ĐỒNG RAU KHÚC

Với tôi, món bánh chân quê ấy chứa đựng bao ký ức xa xôi và thổn thức. Bởi trong đó có cuộc đời bà nội tôi, người bằng tình yêu thương vô bờ bến với đứa cháu mình đã động đến trời đất để trời đất cho tôi ở lại đến bây giờ.

Viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

  Mỗi lần nghe tiếng rao “ Ai khúc đây” trong đêm thị xã Hà Đông vào những đêm mùa đông, tôi lại nhớ về cánh đồng rau khúc xưa của làng tôi. Nhà tôi ở trong một ngõ sâu của thị xã nên tĩnh lặng và vì thế tiếng rao trong đêm thường vọng lại rất rõ nhưng cũng lại xa xôi như ở đường chân trời. Và cái xa xôi ấy luôn mang tôi, một người đàn ông đã luống tuổi, trở về cánh đồng làng mờ sương phủ đầy rau khúc.

   Thường thì vào cuối tháng Mười Một âm lịch, rau khúc đã bắt đầu nở lác đác trên cánh đồng. Nhưng phải sang tháng Giêng, tháng Hai rau khúc mới nở rộ. Đó là khoảng thời gian những làm mưa xuân ấm áp thường trở về cánh đồng lúc gần sáng. Hồi còn nhỏ, trong những đêm gần sáng như thế, không hiểu lý do gì mà tôi thường thức giấc. Bà tôi kéo chiếc chăn chiên nhiều lỗ thủng ủ kín tôi và nói “ Mưa ấm thế này, khúc lại nở trắng đồng”. Những lúc như thế, tôi nín thở dóng tai nghe mưa nhưng chỉ thấy tiếng côn trùng rỉ rả. Và tôi lại nói với bà : “ Cháu chẳng nghe thấy mưa gì cả”. Bà tôi khẽ khàng : “ Đang mưa đầy trời đấy”. Sau này lớn lên, tôi hiểu bà tôi nghe thấy tiếng mưa bởi một mối giao cảm đặc biệt của bà tôi với thiên nhiên, trời đất. Từ lúc sinh ra cho đến khi qua đời, bà tôi chỉ rời làng mươi bận. Một trong những lần rời làng là ngày tôi ốm đau tưởng không thể nào sống nổi. Bà đặt tôi vào một chiếc thúng cái, lấy chiếc nón đậy lên và đội tôi đi gần mười cây số đến nhà một ông lang nổi tiếng trong vùng để bắt mạch và bốc thuốc cho tôi. Hồi đó vì ốm đau lâu ngày nhưng không tìm ra bệnh nên tôi chỉ bé như một con mèo. Vì thế bà có thể đặt tôi nằm khoanh người trong chiếc thúng cái.

 Cả cuộc đời bà tôi gắn liền với làng và cánh đồng cùng với cây cỏ, côn trùng với đói no, ấm lạnh, với khổ đau, hạnh phúc. Thế giới của bà tôi là ngôi nhà, cánh đồng và dòng sông chảy qua làng. Vì lẽ đó mà bà tôi có thể nghe được tiếng mưa xuân mỏng như hơi thở lúc gần sáng, nghe thấy tiếng cá quẫy vật đẻ tận đầm nước cuối làng trong nhưng cơn mưa đầu tiên của mùa hạ, nghe được những hạt mầm tách vỏ trong lòng đất....Chỉ khi lớn lên ở tuổi mà tôi bắt đầu biết suy nghĩ về kiếp người thì tôi mới cảm nhận được tiếng của những cơn mưa bụi đầu tiên của mùa xuân. Nó đúng là hơi thở của trời đất. Mơ hồ, đắm sâu và nồng ấm. Và cũng chỉ lúc đó tôi mới nghe được tiếng rau khúc nở râm ran và tươi tốt trên những cánh đồng làng bất tận và mờ tối.

 Khi mỗi mùa rau khúc nở một màu trắng hồ như sương đọng trên những cánh đồng thì trong tôi lại vang lên một câu hỏi. Câu hỏi năm nào cũng vang lên trong tôi và kéo dài mấy chục năm rồi. Một câu hỏi đơn giản đến mức hình như chẳng có ai một lần đặt câu hỏi đó trong cuộc đời mình: “ Làm thế nào mà những cây rau khúc bé bỏng lại có thể giữ được sự sống của chúng trong đất suốt một năm trời qua mưa bão, nắng gió và đến một ngày lại thức dậy tràn đầy sức sống như thế ?”. Những hạt rau khúc nhỏ li ti như những hạt bụi. Chúng vùi sâu trong đất với mưa nắng, ngập lụt và bao biến động mà không bị giết chết. Ai cho những hạt rau khúc bé bỏng kia sức mạnh phi thường và sự chịu đựng bền bỉ đến như vậy ? Có những câu hỏi về những điều thật nhỏ bé lại chứa đựng cả một bí ẩn lớn của vũ trụ. Và những thứ nhỏ bé ấy lại là “biển” chỉ đường cho con người trong đời sống hầu như mù mờ và vô định này.

 Khi bắt đầu rau khúc nở  rộ là bà tôi lại ra đồng hái rau khúc. Hầu như lúc nào bà tôi đi hái rau khúc tôi cũng chạy theo bà. Bà tôi cắp một chiếc rổ thưa thường để rửa rau đi ra cánh đồng. Ngày ấy bà tôi mặc váy thâm và cứ mùa đông thì chít một chiếc khăn vuông thâm. Những người đàn bà làng tôi trong những năm tháng ấy hầu như chỉ mặc quần áo màu thâm. Màu thâm ấy là do nhuộm củ nâu mà có. Mỗi năm, gần đến Tết, bà tôi thường gom quần áo của bà, của mẹ tôi và anh chị em tôi . Bà bỏ quần áo vào chiếc thúng đội lên chợ Tía nằm dưới chân đê cách làng tôi gần một cây số. Hồi ấy ngay cửa chợ luôn có một hàng nhuộm quần áo mới, cũ bằng củ nâu. Cho dù người ta mua được vải trắng về may quần áo cho người già, trẻ con thì họ đều mang vải đi nhuộm củ nâu. Vì công việc đồng áng và cuộc sống  nhà quê luôn bùn đất, nên quần áo nâu là phù hợp nhất và ít nhìn thấy vết bẩn. Khi đến cuối làng, bà tôi chỉ tay về phía cánh đồng và nói “ Khúc nở trắng đồng rồi”. Theo tay bà, tôi chỉ thấy cánh đồng như chìm trong mưa bui luênh loang. Bà tôi dẫn tôi đến nơi rau khúc nở tươi tốt nhất. Bà đặt chiếc rổ xuống mặt ruộng. Lúc đó, tôi mới nhìn thấy rau khúc. Đúng hơn là một thảm màu trắng mờ lan trên mặt đất. Khi bà tôi ngắt những ngọn rau khúc đầu tiên thì hương khúc nếp tươi non đã dâng lên. Cho đến tận bây giờ, cho dù sống ở một nơi chốn ồn ào nhất và ngập mùi nấu nướng của các nhà hàng ở thành phố, nhưng hễ tôi nhớ đến rau khúc là hương rau khúc tươi trên cánh đồng làng tôi lại ùa về và làm tan đi mọi hương vị đô thị thời hiện đại này. Bà tôi vừa hái rau khúc vừa hướng dẫn tôi để tôi khỏi hái nhầm những cây cỏ khác. Bà bảo : “ Để lẫn thứ khác vào mà không biết là hỏng cả chõ bánh”. Mỗi mùa rau khúc, bà tôi chỉ đi hái rau khúc đôi ba lần để làm bánh. Nhiều lúc thèm bánh khúc, tôi lại hỏi bà sao không làm bánh khúc. Bà bảo : “ Nhà mình chỉ còn mươi cân thóc nếp để giành đồ xôi cúng giỗ. Làm hết bánh khúc lấy đâu gạo mà đồ xôi”. Những năm tháng đó, mỗi gia đình chỉ trồng một ít lúa nếp trên mảnh ruộng phần trăm của gia đình để giành cho công việc của gia đình trong năm và để Tết nấu bánh chưng. Chính vì thế mà hồi đó đi thăm nhau người ta thường bọc vào khăn vuông cân gạo nếp. Đó thực sự là món quà quí giá. Và đó là lý do bà tôi chỉ làm đôi ba lần bánh khúc mỗi mùa rau khúc nở.

 Bà tôi không bao giờ hái rau khúc vào buổi chiều. Rau khúc vào buổi sáng sớm khi sương vẫn còn đọng trên mặt ruộng là lúc rau khúc ủ nhiều hương nhất vì thế mà ngon nhất. Có lẽ vậy mà mỗi khi ngắt một ngọn rau khúc nhỏ lên, lấy hai ngón tay vò nhẹ thì mùi thơm ngậy của rau khúc dâng lên như mùi thơm của chõ bánh khúc vừa đồ chín trong bếp. Mỗi khi dỡ những chiếc bánh khúc trong chõ ra, bà tôi lại xếp dăm cái lên đĩa để thắp hương trên ban thờ. Rồi bà tôi dỡ dăm cái bánh khúc nóng hổi cho vào một chiếc đĩa để chị tôi mang vào cuối làng biếu bà ngoại tôi. Chỉ sau khi làm xong hai việc đó, bà mới cho chúng tôi ăn bánh khúc. Tôi nâng chiếc bánh khúc lên như nâng một báu vật. Mùi thơm ngậy của rau khúc đồ chín, mùi của gạo nếp, mùi của nhân đậu xanh quyện với mùi hành mỡ tỏa ra và làm nên mộ thứ ẩm  thực chứa đầy hạnh phúc lạ lùng trong tâm khảm tôi. Không phải hạnh phúc của một kẻ đói khát được ăn. Một thứ hạnh phúc của ẩm thực nhưng thiêng liêng và da diết mơ hồ. Mỗi lần hái được rau khúc về, bà tôi lấy nước mưa trong bể rửa sạch rau khúc và để cho thật ráo nước mới cho vào cối giã. Bà tôi giã rau khúc đến khi nhuyễn và dẻo như người ta giã giò. Sau đó bà tôi mới trộn rau khúc đã giã với bột nếp và nhào cho thật nhuyễn. Mỗi khi bà tôi nhào bột bánh xong, tôi cũng cúi rạp người xuống ghé sát mũi vào cối bột bánh và hít thật sau. Cho dù vẫn chỉ là bột sống, nhưng hương vị bánh khúc đã dâng lên làm tôi ừa đầy nước miếng. Những lúc như thế, tôi lại giục bà đồ bánh khúc. Nhưng bà tôi không bao giờ đồ bánh ngay. Bà tôi cứ để cối bột đã nhào kỹ chừng hơn một tiếng mới bắt đầu nặm bánh. Ngày xưa chẳng mấy khi có thịt làm nhân bánh như bây giờ. Bà tôi chỉ dùng một ít mỡ trộn với đậu xanh mà quê tôi gọi là đậu tằm được thổi chín và giã nhuyễn cùng với hành lá làm nhân. Thi thoảng mua được mấy lạng mỡ thì bà tôi thái hạt lựu một ít để làm nhân bánh. Những miếng mỡ thái hạt hạt lựu béo ngậy đến mê người. Khi ăn một chiếc bánh khúc như thế, tôi cứ nhai mãi mà không muốn nuốt. Cái béo của mỡ lợn, cái bùi của đậu và vị ngọt ngào của bột nếp và hương rau khúc làm nên một món ăn dân giã nhưng lạ lùng. Khi đồ bánh, bà tôi phủ một lớp rau khúc kín mặt chõ bánh để giữ hơi và làm cho chõ bánh đậm hương rau khúc. Tôi thường ngồi bên bếp lửa cùng bà khi đồ bánh. Căn bếp là nơi chốn ấm áp và ngập tràn thương nhớ của tôi. Với những đứa trẻ thôn quê trong những năm tháng đói nghèo xưa thì căn bếp gần gũi hơn cả căn buồng để ngủ. Đấy là nơi bà và mẹ tôi thường trải rơm cho chúng tôi ngủ vào những ngày rét đậm. Đấy là nơi chúng tôi nướng đủ thứ để ăn từ khoai, sắn, ngô, cua, cá, ốc nhồi, cào cào, châu chấu, dế mèn....Có lần, khi bà tôi đưa cho tôi chiếc bánh khúc nóng hổi vừa dỡ từ chõ ra, tôi đã đánh rơi chiếc bánh xuống nền bếp tro. Tôi vội cầm lên và cứ thế ăn cả chiếc bánh cùng tro bếp. Tôi không thể nào làm sạch tro dính trên chiếc bánh. Nhưng có lẽ là tôi không thể nào bỏ đi cho dù một hạt xôi nếp đẹp như một hạt ngọc và ngậy thơm làm vỏ dính trên chiếc bánh được.

 Sau khi bà tôi mất, mỗi lần bước vào căn bếp ủ đầy tro ấm, tôi thấy cái chõ bà tôi đồ bánh khúc mỗi năm vẫn đang nghi ngút tỏa hơi. Và hàng năm, khi những cơn mưa bụi đầu tiên của mùa xuân lộng lẫy bay về, tôi lại nghe tiếng rau khúc nở tươi tốt và trong đêm cho dù ở bất cứ nơi nào trên thế gian này. Và tôi vẫn nhận ra hương khúc nếp ngào ngạt cả cánh đồng. Bà tôi mất đã gần một nửa thế kỷ, nhưng năm nào tôi cũng về quê vào mùa rau khúc nở. Vợ chồng tôi đi ra cánh đồng như thưở xưa hái những ngọn rau khúc. Buổi chiều trở lại thành phố, vợ tôi lại làm một chõ bánh khúc để mời bạn bè đến thưởng thức. Bây giờ,đêm đêm, người ta vẫn thi thoảng nghe tiếng rao “ Ai khúc đây”. Nhiều người vẫn ăn bánh khúc. Nhưng không mấy người cầm chiếc bánh bọc một lớp vỏ xôi bên ngoài như cầm một báu vật của trời đất ban cho. Với tôi, món bánh chân quê ấy chứa đựng bao ký ức xa xôi và thổn thức. Bởi trong đó có cuộc đời bà nội tôi, người bằng tình yêu thương vô bờ bến với đứa cháu mình đã động đến trời đất để trời đất cho tôi ở  lại đến bây giờ. Bởi trong món bánh ấy có những cơn mưa bụi đầu tiên của mùa xuân và có tiếng rau khúc nở trên cánh đồng những đêm gần sáng của Giêng Hai vang lên như một bản Thánh ca về đời sống giản dị, thiêng liêng và bất diệt này. Mỗi lần vợ tôi làm bánh khúc, tôi lại nói với các con tôi về làng tôi, về cánh động rộng lớn mờ sương buổi sáng Giêng Hai nở trắng rau khúc, về bà nội tôi. Có thể  cả phần đời còn lại của tôi kể từ khi bà nội tôi ra đi, tôi không thể chết nếu không còn ăn món bánh khúc nữa. Nhưng tôi không thể sống thiếu những nghi lễ giản dị nhưng thiêng liêng trong đời sống này. Và mưa xuân, và rau khúc, và chõ bánh của bà tôi đã trở thành một nghi lễ đời sống trong tâm hồn tôi mãi mãi. Có những ngày trở về cánh đồng ngày Giêng Hai bay mờ mưa xuân trong mùa rau khúc nở, tôi đứng như một cái cây mọc từ  cánh đồng và tất cả những gì giản dị nhất của đất đai này lại vang lên trong tôi thiêng liêng như một bản Thánh Ca …

                                                                                                                                            N.Q.T

 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 27/12/2018

Tin khác

CÁ MÈ HUN KHÓI BẾPCÁ MÈ HUN KHÓI BẾP
CÀ CUỐNGCÀ CUỐNG
NHỚ HƯƠNG, NHỚ VỊ ĐẬU RÙANHỚ HƯƠNG, NHỚ VỊ ĐẬU RÙA

Tin mới nhất

NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!
NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!

Cái thứ nước mắm này vô ảnh, vô hình, vô mùi, vô vị, nhưng nó có tác dụng rất xấu là làm rối tung thị trường nước mắm, gây khó cho hàng vạn ngư dân và người sản xuất nước mắm thủ công.

Sách mới

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019

viết bởi: Nhà xuất bản

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019
Chương trình nghị sự

viết bởi: Nhà xuất bản

Chương trình nghị sự
Ác quỷ Nam Kinh

viết bởi: Nhà xuất bản

Ác quỷ Nam Kinh