NHỮNG MÙA ĐÔNG ĐÓI RÉT

Mỗi lần gia đình tôi được chia thịt trâu, mẹ tôi đều chế biến hai món. Món thịt nạc thì xào rau cải, rau cần hay xu hào. Còn những thứ khác cho vào kho tương gừng

Viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Trong bốn mùa thì mùa đông để lại trong tôi ấn tượng mạnh nhất cho dù đó là mùa tôi cũng như những đứa trẻ thôn quê thường xuyên sống trong những ngày đói rét. Những mùa khác, lũ trẻ thường sống tản mạn. Có lẽ chỉ có những đêm mùa đông lũ trẻ mới quây quần bên bà, bên mẹ và nghe đủ loại chuyện mà bà và mẹ chúng kể cho. Tối tối, bà tôi thường bỏ gốc tre vào bếp để sưởi. Chúng tôi ngồi trên chiếc ổ rơm trong bếp bên bà, bên mẹ nướng khoai, nướng sắn và nghe kể chuyện. Sự quây quần ấm áp ấy làm cho tôi sau này rời làng đi học xa cảm thấy nhớ nhung và bơ vơ. Quả thực, ngay cả bây giờ sống trong chăm êm, đệm ấm tôi vẫn thèm được nằm trong ổ rơm góc bếp và chìm vào giấc ngủ trong ánh lửa bập bùng và tiếng kể chuyện đều đều của bà, của mẹ. Ngày ấy, một bát cơm độn ngô, độn sắn với mấy quả cà hoặc mấy củ khoai luộc, khoai nướng là đi qua cơn đói. Nhưng bù vào những thiếu thốn vật chất ấy là một đời sống tình cảm luôn ấm áp bao bọc lũ trẻ chúng tôi. Bây giờ, trong những ngôi nhà đầy đủ tiện nghi hoặc trong cả những ngôi biệt thự sang trọng, làm sao chúng ta có được một đêm đông ngồi bên lửa ấp với những người thân yêu nhất trên đời. Đấy là một sự thật, một khát vọng chứ không hề là một sự lãng mãn phù phiếm. Những đứa trẻ mỗi đứa một phòng riêng đẹp đẽ, riêng biệt và chìm vào thế giới ảo trên vi tính, trong ipad hoặc iphone. Chúng tách biệt khỏi thế giới thiên kiên kỹ vĩ và bí ẩn cùng với những người thân yêu của chúng.

 Nhớ những mùa đông ấu thơ, chúng tôi không ghề có giày dép như những đứa trẻ thôn quê bây giờ. Nếu đứa nào có thì cha mẹ chúng cũng không cho đi và chỉ đi khi đến lớp còn thì cứ chân trần suốt từ sớm đến tối. Bởi thế mà mùa đông hầu như đứa trẻ nào cũng bị nẻ chân. Gọi là nẻ chân nhưng chỉ nẻ ở mu bàn chân. Nẻ vì do lạnh, chân lại không giày dép, lội ao lội đầm thường xuyên và dính đầy bùn đất và phần quan trọng là vì thiếu chất nên sinh ra thế. Có những đứa chân bị nẻ nặng tứa cả máu không đi nổi đến lớp. Nhưng lũ trẻ chúng tôi vẫn cứ sống như hoang thú và vượt qua từng mùa đông để lớn lên. Hồi đó, ông bà cha mẹ chúng tôi cũng chẳng có thuốc thang gì để chữa cho những bàn chân nẻ toác của lũ trẻ. Cứ dăm ba ngày, người lớn lấy tro bếp trộn nước rồi đắp lên mu bàn chân nẻ của lũ trẻ. Bị đắp tro bếp lên chân nẻ, đứa trẻ nào cũng kêu oai oái vì xót. Người làng tôi có một thứ để chống nẻ. Đó là mỡ cá rô đồng. Mỗi con cá rô chỉ có một tí mỡ không bằng đầu đũa. Họ rán mỡ cá rô đồng trong những chiếc vỏ trai rồi cho mỡ vào một cái lọ penisilin. Khi nào thấy chân có những vết nẻ đầu tiên thì lấy mỡ cá rô đồng bôi lên. Mà mỡ cá rô đồng đâu chỉ để chữa nẻ chân. Các cô thôn nữ tuổi chưa chồng cũng thường bị nẻ má, nẻ tay. Thế là cứ trước khi đi ngủ, các cô thôn nữ lấy mỡ cá rô đồng xoa lên hai bên má và hai mu bàn tay. Còn bây giờ, các cô gái ăn uống đủ chất, quần áo ấm đủ kiểu và có hàng trăm loại mỹ phẩm để dưỡng da, làm đẹp da nên chăng thấy cô nào nẻ má, nẻ tay nữa cả

 Hồi còn bé chú Thiệu và tôi thường ngủ với bà nội. Anh Hường là anh cả lớn hơn thì thường ngủ riêng. Còn chị Nga và em Triệu tôi thì ngủ với mẹ. Mùa đông ba bà cháu tôi chỉ đắp một cái chiếu. Sau này cha tôi mới mua được một chiếc chăn dạ. Những ngày rét quá thì mấy bà cháu xuống bếp trải ổ rơm, đốt gốc tre và ngủ ở đó. Có một năm, mẹ tôi đi dự lớp tập huấn cho giáo viên tiểu học ở Sơn Tây. Khi bế giảng thì trời đã trưa và cũng không có xe nên. Nhớ các con quá, mẹ tôi quyết đi bộ về với các con. Mẹ tôi vừa đi bộ vừa đi nhờ xe đạp dọc đường đến mười giờ đêm mới về đến nhà. Vì đi bộ hàng chục cây số và lại bị gió lạnh nên mẹ tôi mất giọng. Trong những ngày mẹ tôi đi vắng thì bác Dự đến ngủ trông chị em tôi. Khi nghe mẹ tôi gọi cửa, bác Dự không nhận ra giọng mẹ tôi. Bác thì thầm với chị em tôi đấy là ma gọi chứ người gì mà giọng lại như thế mà lại gọi lúc khuya khoắt. Khi mẹ tôi gọi tên chị em tôi thì bác Dự lại bảo “ Sao ma nó lại biết tên chúng mày nhỉ ”. Nghe bác nói chúng tôi sợ quá bám chặt lấy nhau. Nhưng nghe mẹ gọi nhiều lần, chúng tôi nhận ra là giọng mẹ. Chúng tôi bảo với bác Dự là mẹ về. Bác Dự bảo ma chứ mẹ gì mà mẹ, chúng mày muốn thì ra mà mở. Thế là chúng tôi lại nằm im. Nhưng cuối cùng thì bác Dự cũng bảo “ Ừ giọng u chúng mày thật” và ra mở cửa cho mẹ tôi. Những đêm đông như thế sẽ chẳng bao giờ phai nhạt trong ký ức của tôi.

Mùa đông những năm  ấy hình như lạnh hơn mùa đông bây giờ. Có năm trời lạnh quá, ốc nhồ nổi hết lên mặt ao. Nhưng lũ trẻ vẫn phải lội ao, lội đầm hoặc xuống sông lấy rong cho lợn. Ngày ấy, các loại rong lá lúa, rong tóc tiên và rong đuôi chó mọc xanh đen cả đầm nước rộng và cả ngoài sông. Nhưng bây giờ thì tôi chẳng nhìn thấy rong mọc nữa. Mùa đông lạnh nhưng lũ trẻ không sợ. Nỗi sợ nhất đối với lũ trẻ trong mùa đông là đói. Đó là mùa mà những thứ rau quả dại hay tôm cá cũng trốn đi đâu hết. Và chúng tôi lúc nào cũng thấy đói. Mùa đông năm nào cũng có những ngày rét giá vô cùng. Chính thế, năm nào cũng có trâu bị ngã giá ( quỵ ngã vì lạnh) hoặc ốm chết. Mỗi khi nghe tin một con trâu ngã giá hoặc hấp hối là những người nông dân lại lo cuống lên. Nếu không có trâu thì việc cày bừa sẽ vô cùng vất vả. Nhưng đối với lũ trẻ thì mỗi khi nghe có trâu ngã giá hoặc chết là mừng vì hôm đó chúng sẽ được ăn thịt sau nhiều tháng chỉ ăn cua, ăn tôm tép, ăn châu chấu, dế mèn hoặc chỉ ăn muối giềng, muối hành...

 

Ngày đó trâu đều của hợp tác xã và giao cho các nhà chăn dắt lấy công điểm. Nên khi có con trâu chết hoặc ốm khó qua khỏi, hợp tác xã làm đơn báo báo chính quyền xã cho mổ để chia thịt cho các hộ nông dân. Ngày chia thịt trâu cả làng như có hội. Thịt trâu chia về các đội sản xuất rồi các đội chia cho các gia đình trong đội sản xuất của mình. Khi mổ trâu, riêng bộ da trâu, cái đầu trâu và bốn cái vó trâu không chia mà bán. Cả làng lúc đó có chừng trăm hộ nhưng chỉ có một bộ da trâu, một cái đầu trâu và bốn cái vó nên phải gắp thăm.

 Thịt trâu khi chia đến từng gia đình thì chỉ là còn là một món thịt vụn vì phải cắt phải chia cho đều các loại thịt qua nhiều lần. Nhưng ngày đó, thịt nạc, gân hay bạc nhạc đều quí như nhau vì mấy khi có được miếng thịt. Mỗi lần gia đình tôi được chia thịt trâu, mẹ tôi đều chế biến hai món. Món thịt nạc thì xào rau cải, rau cần hay xu hào. Còn những thứ khác cho vào kho tương gừng. Mà kho tương gừng chủ yếu để lấy nước kho cho trẻ con ăn được nhiều. Thịt trâu hồi đó dai như những miếng cao su vì chỉ khi con trâu già quá mới chết nên thịt vô cùng dai. Nhưng cho dù thịt dai đến đâu cũng chẳng thấy gì ngon bằng trong những mùa đông đói rét ấy. Miếng thịt trâu ngày ấy dai quá mà chúng tôi phải nhai mãi. Vì thịt trâu dai quá mà nhai mãi miếng thịt vẫn còn nguyên nên phải nuốt cả miếng. Vì thế đã có người chết nghẹn thịt trâu. Món thịt trâu kho tương gừng là món tốn củi đun nhất. Vì thế mà nhiều gia đình quấn cả nồi thịt trâu cho đỡ tốn củi, tốn rơm đun mà lại nhừ. Khi ăn, những đứa trẻ phải thực hiện một quy định là mỗi bát cơm không được ăn quá ba miếng thịt còn rưới nước thịt kho thì thỏa mái hơn. Bởi thế mỗi miếng thịt trâu chết trong những bữa cơm mùa đông ấy là một điều gì đó vừa buồn vừa hạnh phúc vừa ám ảnh. Có những năm thịt trâu chia về đến các gia đình thì đã muộn chừng bảy, tám giờ tối. Nhưng cho dù muộn như vậy, cả nhà vẫn đợi có món thịt trâu thì mới ăn cơm. Nếu để đến hôm sau mới ăn thì có lẽ lũ trẻ không ngủ được suốt đêm ấy vì thèm thịt trâu. Những buổi tối như thế, anh chị em chúng tôi ngồi quây bên bếp lửa đốt rơm sưởi chờ mẹ nhận thịt trâu chia về xào mới chịu ăn cơm cho dù bụng sôi ầm ầm vì đói.

 Nhà nào gắp thăm mua được bộ da trâu, cái đầu trâu hay bốn cái vó trâu thì vui còn hơn trúng sổ số tiền tỷ bây giờ. Nhưng thường thì ba bốn gia đình chung nhau bộ da, cái đầu và bốn cái vó trâu chứ chẳng bao giờ một gia đình lại ăn tất. Tôi thực sự chưa được ăn món đầu hay chân trâu. Nhưng tôi đã nhiều lần được ăn món da trâu. Tôi có ông rể làm nghề mổ lợn. Mỗi khi hợp tác xã có trâu chết rét, chết ốm anh rể tôi lại được gọi làm thịt trâu cho hợp tác xã và được tính điểm trả bằng thóc, bằng khoai khi đến vụ. Chính vì thế mà không ít lần anh họ tôi mua được cả bộ da trâu. Những người mổ trâu làm bộ thăm bằng các que tre ngắn dài khác nhau.  Nhưng họ lại bí mật làm một bộ thăm khác dài hơn giấu trong tay. Thế nên lần nào họ gắp cũng trúng được một thứ gì đó. Và mỗi lần như thế, anh rể tôi đều để lại cho cha tôi một miếng da trâu đã được làm sạch sẽ trắng tinh và thơm phức mùi da trâu thui rơm. Cha tôi thái da trâu thành những miếng con chỉ cho vào kho với đủ đủ xanh và tương. Kho chừng nửa tiếng thì cha tôi cho niêu da trâu vào bếp, quấn rơm đốt xung quanh, bỏ trấu và vùi tro để hầm món da trâu. Có lẽ chẳng có gì hầm da trâu hợp và ngon như với tương và đu đủ xanh. Đu đủ xanh hầm với da trâu để làm cho da trâu dễ nhừ. Nếu không có tương và đặc biệt là đu đủ xanh thì đun cả đống củi miếng da trâu chỉ trương lên và vẫn dai chứ không thể nào nhừ được. Miếng da trâu hầm với tương và đu đủ xanh vừa quánh lại vừa ngậy. Nhưng khi làm da trâu người ta phải luộc da trâu với nước vôi trong. Như thế, da trâu mới giòn và hết mùi hoi của trâu. Và khi hầm da trâu phải để ý đến thời gian. Nếu dỡ niêu da trâu ra khỏi bếp trấu sớm quá thì da trâu dai không làm sao ăn được. Nhưng nếu để niêu da trâu hầm mà quá lửa thì niêu da trâu hầm không còn là một món ăn nữa mà trở thành một niêu keo da trâu dẻo quánh. Người nào không biết nấu món da trâu đều biến món da trâu hầm thành món keo da trâu. Khi thành món keo da trâu thì chỉ có cách đập vỡ niêu mà thôi chứ không thể nào lấy món keo ấy ra khỏi niêu được.

Có những năm trâu chết vì bệnh, huyện chỉ thị cho các làng không được làm thịt trâu chết bệnh chia cho dân mà phải đem chôn. Nhưng nhiều làng mang trâu đi chôn buổi chiều thì buổi tối lại đào mả trâu lên để xả lấy thịt ăn. Có lúc đang xả thịt trâu chết đào lên từ mả trâu bị chính quyền phát hiện bắt chôn lại thì đến giữa đêm người làng lại rủ nhau ra đào trâu lên lấy thịt. Ngày đó đói khát và thiếu thốn quá nên mọi người cứ ăn liều, uống liều như thế. Có những gia đình chẳng bao giờ thịt gà mà chỉ khi gà chết toi cứng như ướp đá và thịt đen như mực tàu mới dám ăn. Nhưng vừa ăn miếng thịt gà chết toi vừa ứa nước mắt vì gà nuôi để lấy trứng hoặc để ấp gà con bán thêm vào mua mắm, mua muối hoặc đóng tiền học cho con cháu. Gà chết rồi thì cuộc sống lại khó khăn hơn. Ngày nay, thịt trâu lại trở thành món ăn đặc sản. Thành phố nào cũng có quán thịt trâu bảy, chín món. Thịt trâu bây giờ còn đắt hơn cả thịt bò. Thế nhưng, chẳng mấy khi tôi có cảm hứng đi ăn thịt trâu. Thi thoảng có ai cho miếng thịt trâu thì xào với rau cần hoặc kho tương gừng ăn để nhớ về một thuở. Ngày trước một năm cũng chỉ ăn thịt trâu ngã giá, trâu chết hai ba lần là cùng mà cũng không phải con trâu nào chết cũng do bị bệnh. Còn bây giờ, ngày ngày chúng ta đưa vào dạ dày mình biết bao chất độc. Nhìn thịt nhìn cá đỏ tươi đấy nhưng lại chứa đầy hóa chất. Ngày xưa vì nghèo đói quá mà ăn liều. Ngày nay vì tham làm giàu mà người ta đầu độc đồng loại một cách tàn bạo không một chút áy náy.

                                                                                                                                         N.Q.T

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 12/11/2019

Tin khác

RAU KHÚCRAU KHÚC
MUỐIMUỐI
KẸO KÉOKẸO KÉO

Tin mới nhất

NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ
NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ

Tôi có cảm nhận rất rõ ràng là nhà thơ TNM rất hiểu văn học Đài Loan văn học Hoa Lục và văn học phương Đông nói chung, những mối quan hệ tương tác của các nền văn học này trong quá trình giao thoa và phát triển...

Sách mới

Bài toán khó

viết bởi: Triệu Hồng

Bài toán khó
Bóng Mẹ

viết bởi: Quang Hoài

Bóng Mẹ
Gỗ thần

viết bởi: Nhà xuất bản

Gỗ thần