NHỚ HƯƠNG, NHỚ VỊ ĐẬU RÙA

Ký của Đỗ Hàn

Viết bởi: Đỗ Hàn

Không biết làng có tên Làng Rùa từ bao giờ. Chỉ biết rằng ở vùng phủ Vĩnh Tường, nằm giữa cái nôi Đồng bằng Bắc bộ, xưa nay vẫn truyền một câu phương ngôn: “Miếu Rùa, chùa Rưng”. Ý nói miếu và chùa to lắm. Trong kháng chiến chống Pháp, cả hai di tích này đều bị giặc phá. Nhưng theo Ngọc phả thì chùa Rưng (Tứ Trưng) có từ thời nhà Lê (Cách đây trên dưới 600 năm), thế thì miếu Rùa, làng Rùa chắc cũng phải có từ thời ấy.

Cũng không biết nghề làm đậu ở làng Rùa có từ bao lâu. Khi tôi còn nhỏ, ông ngoại tôi vẫn bảo mẹ tôi rằng: “Mẹ đĩ - ở quê tôi người già vẫn gọi con gái đi lấy chồng cái từ như thế - Có đi chợ thì chọn mua mấy miếng đậu Rùa ấy, nó rẻ mà lại ngon”. Tôi ngớ ngẩn hỏi ông: “Thế đậu Rùa nó hình con Rùa hả ông?”. Ông tôi cười bảo: “Đấy là đậu do người làng Rùa làm cháu ạ”. Khi lớn lên đôi chút, được ăn nhiều đậu Rùa, có lần tôi hỏi: “Ông ơi, đậu Rùa có từ bao giờ?”. Ông tôi bảo: “Từ khi ông bé bằng cháu đã được ăn đậu Rùa”.

Đậu Rùa được bán ở khắp các chợ trong vùng. Chỉ tính riêng dải đất bãi từ Vĩnh Thịnh, qua An Tường, đến Lý Nhân… vùng đất giáp cầu Việt trì , chỉ một khúc đê hơn 6 cây số ấy đã có tới 3 cái chợ: Chợ Vòng, chợ Đê và chợ Thùng. Các ngày 3, ngày 8, ngày 5, ngày 10 trong tháng âm lịch là chợ Đê họp, các ngày khác thì có chợ Vòng (xã An Tường) và chợ Thùng (ở Lý Nhân). Chợ Đê  - chính là chợ đặt cuối xã An Tường bắt sang xã Tuân Chính – xã có làng Rùa với nghề làm đậu nổi tiếng. Bây giờ chỉ còn chợ Đê, đặt ở thôn Táo nên có tên là chợ Táo. Chợ họp tất cả các ngày trong tháng. Đậu Rùa được bày bán trên những chiếc sàng đặt trên miệng thúng. Những miếng đậu chỉ to hơn bao thuốc lá một chút, được nướng qua. Mình uốn cong cong, màu vàng đậm, trông đã thích mắt. Đây là nét rất riêng của đậu Rùa. Nó không dày như cục gạch và cũng không để trắng nhợt nhạt. Khách hỏi mua chỉ cần nói: “Bán cho em chục đậu” hay “5 bìa đậu”… là được bàn tay nhanh thoăn thoắt của cô gái bán đậu - xếp gọn trong một miếng lá chuối khô, cuốn vòng lại, được buộc bên ngoài bằng một sợi rơm nếp vàng óng. Sợ rơm buộc không lỏng mà cũng không chặt nhưng nó giữ những miếng đậu thật lạ kỳ. Người mua xếp vào thúng bên cạnh hàng chục thứ khác, đậu không bị nát. Người đèo trên giỏ xe, đi qua các đoạn đường xóc, đậu không bị tuột ra.

Những năm chống Mỹ, đời sống dân quê tôi còn nghèo. Thịt cá đâu có nhiều , bữa cơm chỉ có rau muống chấm tương và mấy miếng đậu kho là quý lắm rồi. Đậu Rùa chỉ cần sắt miếng vuông quân cờ, rim nước mắm, ăn đã trôi cơm lắm. Nếu được chấm với mắm tôm đồng làm lấy từ tôm riu, thì tuyệt vời. Mắm tôm rót ra bát phải lắc lọ mới chảy được, vắt nửa quả chanh tươi, đánh bông lên. Chạm miếng đậu Rùa vào bát mắm tôm thơm lừng ấy, nước bọt đã tứa ra. Ăn chẳng biết lúc nào là no cả. Chúng tôi lớn lên từ những món ăn quê mùa ấy. Tôi cứ mong một ngày nào đó, được đến làng Rùa, xem người làng xay đỗ tương, ép đậu.

  May sao, khi học cấp 3, tôi được học cùng lớp với em. Em mảnh mai, nhưng rắn rỏi, có nước da bánh mật, khuôn mặt cứ hồng au lên mỗi sáng khi đạp xe đến lớp. Tôi rất thích được gần em, nói chuyện với em. Tuổi học trò tếu táo, gán ghép tùm lum, khiến tôi và em cứ ngài ngại khi gần nhau. Song ánh mắt thì giành cho nhau nhiều lắm. Một buổi chủ nhật, các bạn rủ tôi về nhà em chơi. Nhà em ở làng Rùa. Mẹ em làm đậu Rùa. Tôi ngỡ ngàng trước chiếc cối xay đang nặng nề quay, dòng sữa đậu nành trắng ngà dài như sợi dây, chảy không dứt. Mẹ em đon đả đón chúng tôi. Bữa ấy, chúng tôi được một bữa đậu no căng. Đậu nướng, đậu trắng, đậu rán, đậu nấu canh… ngọt, bùi, thơm ngập trong tiếng cười giòn tan của tuổi trẻ. Biết ông ngoại thích đậu Rùa , em nói nhỏ với mẹ. Khi về, bà còn gói chục bìa đậu, gửi biếu mẹ tôi. Ông ngoại, rồi mẹ tôi, các dì nữa, ai cũng khen: Đúng là đậu Rùa chính hiệu. Rồi mẹ tôi đến nhà em, đặt mua đậu hàng ngày để đem về bán. Hai nhà thành thân nhau. Hai bà mẹ nhiều khi rì rầm bên cơi trầu. Họ tin ở chúng tôi, họ còn hy vọng nhiều ở chúng tôi nữa!!!

Tốt nghiệp cấp 3, tôi vào bộ đội. Đêm chia tay, dưới tán đa cổ thụ, trên nền miếu Rùa xưa, tôi đánh bạo nắm tay em. Tay em nóng hầm hập, run rẩy. Bất ngờ, tôi vòng tay, hôn liều lên má em. Chắc đôi má em đang đỏ dậy, bởi tôi thấy môi mình bỏng lên, thơm mùi hoa cau, có vị ngọt rạo rực của mật ong.

Biền biệt gần 30 năm, nay tôi mới trở về làng Rùa. Hôm ấy là ngày giỗ ông Ngoại, mẹ tôi bảo: “Bố mày nổ xe máy đưa mẹ đi chợ đê một lát”. Trên đường đi bà còn dặn: “Nhớ mua mấy bìa đậu Rùa thắp hương cho ông. Lúc còn sống, ông ngoại thích ăn đậu Rùa lắm!”. Vào chợ, lựa lúc mẹ tôi sang dãy hàng mã. Tôi chầm chậm bước đến dãy hàng đậu. Lều quán đã được sửa sang, không còn tranh tre như xưa mà đã được xây và lợp ngói. Dãy hàng đậu vẫn kia, Hàng chục thúng đậu vẫn ngay ngắn. Trên mặt sàng, những bìa đậu vàng ươm vẫn thẳng hàng bên bó rơm nếp được tuốt vàng ươm . Mẹ em vẫn ngồi kia. Tôi muốn chạy ngay đến, hỏi tin về em. Bởi bao năm nay, tôi có tin gì về em đâu. Tôi bỗng khựng lại, e dè, chợt sợ bà nhận ra tôi. Cái thằng con trai mà hai bà mẹ đã nhiều lần ngồi bên nhauthì thầm hy vọng.

Tôi đeo vội chiếc kính gọng to lên mắt, khẽ khàng hỏi bà: “Đậu bán bao nhiêu tiền một chục hả bác?”

Hai ngàn một chục chú ạ. Chú mua đậu đi! Bà vẫn xởi lởi như xưa, duy có giọng nói là trầm xuống và chậm hơn trước.

-  Bác bán cho cháu năm chục bìa!

Bà ngẩng lên hỏi: Nhà có việc ư chú?

 Tay bà vội xếp đậu, cuốn lá chuối, buộc rơm. Bà bỗng quay sang hàng bên: “Có việc bây giờ, ít người ăn đậu bà nhỉ, nhất là các chú, các anh đi công tác, mấy khi họ có dùng thứ quê mùa này”. Bà quay lại nói với tôi: “Thấy chú mua nhiều, tôi thấy lạ”. Tôi buột miệng: “Mẹ cháu dặn phải tìm mua đậu Rùa bác ạ!”.

-  Thì đây chính là đậu Rùa! – Bà nói như nói với chính mình - Bây giờ lắm nơi làm đậu, lại cũng lắm giống đậu nành tăng sản, làm đậu chẳng ngon bằng đậu ngày xưa. Nhưng riêng làng Rùa thì vẫn dùng loại đậu nành giống cũ, nó mới giữ được vị - chú chọn giỏi đấy! Cái miệng bẻm mép của tôi bỗng tuột ra lời:

-  Mà phải tìm đúng hàng của bác cơ…

Bà dừng tay, ngẩng lên nhìn tôi chẳm chằm. Tôi vội vàng trả tiền và cũng vội vàng nhắc đậu bỏ vào túi, lí nhí chào mẹ em rồi rảo cẳng bước đi. Giữa dòng người chật ních, tôi thấy nóng rát sau gáy.

Trưa đó, gắp miếng đậu Rùa đưa lên miệng, tôi vẫn thấy đủ mùi vị xưa. Miếng đậu rắn không bở, béo không ngậy, thơm thoang thoảng, đặc biệt lớp vỏ ngoài, dai dai, giòn giòn, nhai kỹ có vị ngọt. Tôi thấy quyện lẫn trong đó có cả cái ngọt rạo rực của mật ong và cả cảm giác bỏng dẫy trên làn môi./.

                                                                                                                                                 Tuân Chính Mùa Xuân

                                                                                                                                                              Đ.H

 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 05/12/2018

Tin khác

BÁNH RÁNBÁNH RÁN
BÁNH CUỐN NƯỚCBÁNH CUỐN NƯỚC
HOA CẢI RƠI KHÔNG THỂ CẦM LÒNG ?HOA CẢI RƠI KHÔNG THỂ CẦM LÒNG ?

Tin mới nhất

BÁNH TÉT TRÀ CUÔN - ĐẶC SẢN CỦA VÙNG ĐẤT TRÀ VINH
BÁNH TÉT TRÀ CUÔN - ĐẶC SẢN CỦA VÙNG ĐẤT TRÀ VINH

Ngay từ 5h, hàng chục nóc nhà trong ấp đã đỏ lửa, rôm rả từ rất sớm. Bà con vẫn hay nói vui rằng ở đâu không biết chứ ở đây, không khí Tết luôn có quanh năm.

Sách mới

Viết & Đọc chuyên đề mùa hạ 2019

viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Viết & Đọc chuyên đề mùa hạ 2019
Vết nhơ của người

viết bởi: Nhà xuất bản

Vết nhơ của người
Từng nốt nhạc ngân

viết bởi: Nhà xuất bản

Từng nốt nhạc ngân