MÓN TRÁNG MIỆNG CỦA LÀNG CHÙA

Oản thì ai cũng biết. Nhưng chà là gì thì quả thực quá ít người biết...

Viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Tôi có một người bạn, chị nói cứ khi nào ăn xong cho dù đó là một bữa tiệc lớn đủ các loại sơn hào hải vị thì cứ phải ăn một món ngọt mới thấy đầy đủ. Còn không thì chị vẫn thấy bữa ăn chưa trọn vẹn. Nhiều người cũng thấy thế. Bởi thế mà người ta có món tráng miệng và đương nhiên món tráng miệng phải là món ngọt cho dù đó là bánh kẹo, trái cây hay các loại kem.

 Bây giờ, cỗ ở nhiều làng quê có món tráng miệng là cam, quýt tàu hoặc  chuối. Nhưng cỗ làng tôi món tráng miệng thường là món oản chấm chà. Mấy năm trước, Hội thơ làng Chùa tổng kết trao giải cuộc thi Thơ ca và Nguồn cội lần thứ hai, người làng Chùa cũng làm món oản thay cho xôi chấm trà nhưng không phải là món ăn chính mà như là một món tráng miệng đãi các nhà thơ và người yêu thơ về thăm làng Chùa. Khách thơ ai thưởng thức món oản chấm chà cũng đều thấy lạ miệng. Tôi nghĩ đó là món tráng miệng đặc biệt của người làng Chùa và chẳng nơi nào làm như thế.

 Trước hết tôi muốn nói tới món xôi chấm chà. Hồi trước, đến chín mươi lăm phần trăm các ngôi nhà ở làng Chùa đều lợp rạ. Vì vậy cứ vài ba năm người ta phải lợp lại nhà. Để lợp lại nhà, người ta phải chuẩn bị rạ đầy đủ. Trước ngày lợp nhà, người ta phải đi mời người làm giúp. Người làm giúp chia ra làm ba nhóm : nhóm đánh gianh, nhóm đưa gianh lên nóc nhà và nhóm lợp gianh. Có gia đình họ đánh gianh từ trước cho đủ lợp. Nhưng có gia đình hôm đó mới đánh gianh rồi lợp luôn. Vì hầu hết các ngôi nhà gianh không lớn và lợp gianh nên cũng nhanh, thường là một buổi sáng là xong. Đến trưa chủ nhà chuẩn bị ăn trưa cho những người làm giúp. Hồi đó không có điều kiện nên chẳng ai làm cơm hay cỗ bàn gì mà chỉ đồ mấy chõ xôi và nấu một nồi chà. Đến trưa, chủ nhà đơm xôi vào mâm rồi múc chà ra từng bát ăn cơm. Người làm giúp ngồi quanh mâm mỗi người một bát chà và cứ lấy xôi chấm chà. Ăn xong uống nước vối hoặc chè tươi là kết thúc bữa ăn. Rất đơn giản nhưng cũng rất ngon miệng và vui. Việc của các gia đình như cất nóc, lợp nhà, gặt lúa và những công việc khác cần nhiều người làm giúp thì cơm trưa chủ yếu là ăn xôi chấm chà. Còn trong việc làng thì món xôi sẽ thay bằng oản xôi. Trong làng, hầu như các gia đình đều có bộ đóng oản bằng gỗ mít. Khi xôi được đồ chín, các bà đóng oản khi xôi đang nóng thì oản mới mịn và chắc. Oản đóng được đặt lên trên những chiếc lá bưởi già được rửa sạch và hơ qua lửa cắt khoanh tròn vừa để sát trùng vừa để lá bưởi tỏa hương thơm. Trong các nhà chùa, các nhà sư thường đặt oản lên lá mít. Nhưng người làng tôi thì dùng lá bưởi để tạo hương thơm cho oản.  Khi ăn, oản được cắt làm tư và người ăn khỏe cũng chỉ ăn hết một cái oản là cùng. Việc đồ xôi đóng oản lúc nào cũng được giao cho các bà từ khâu vo gạo, đồ xôi, đóng oản đến việc nấu chà. Những ngày việc làng, lũ trẻ thường luẩn quẩn quanh khu vực các bà đồ xôi, đóng oản. Ở các khu vực làm cỗ khác thi thoảng lũ trẻ được cho một thứ gì đó như chuối luộc để làm xáo chuối. Còn khu nấu xôi, đóng chà thì không bà nào được phép cho lũ trẻ một miếng gì kể cả phần xôi đồ bị chớt ( bị ướt) hoặc vét xôi bám trên các vỉ tre vì oản phải được đặt lên cúng Thành hoàng rồi mới được ăn. Các bà đóng cả một mâm oản chừng hai chục chiếc đầu tiên rồi đội lên đình cùng với năm bát chà cho ông từ thắp hương cúng Thành hoàng. Những lúc như thế, lũ trẻ chúng tôi chạy quanh chõ xôi và nồi chà vươn cổ ra hít hà mùi xôi và chà nóng và nuốt nước miếng đến rát cả họng vì thèm. 

 Oản thì ai cũng biết. Nhưng chà là gì thì quả thực quá ít người biết. Món chà là món được làm từ mật mía. Đây là loại mật mía nước không phải loại mật đã cô lại thành từng cục. Đun mật mía với quế và hoa hồi. Nhớ là cho thêm nước vào để mật loãng thì mới dễ chấm oản, chấm xôi. Ngày trước, ở tất cả các chợ quê đều có người bán mật mía. Mật nước và mật cục đựng trong những vại sành. Người đi mua mật nước thì phải mang theo một thứ gì đó để đựng như âu, nồi hoặc thạp...còn loại mật đã cô lại thành cục thì gói bằng lá chuối khô. Hồi đó ở quê nhiều nhà lúc nào cũng có một thạp, âu hoặc nồi đất đựng mật để khi có việc thì dùng. Người ta dùng mật để nấu chà chấm xôi, chấm oản và chấm bánh tro, chấm khoai, để làm bánh thủy ( bánh trôi), bánh chè lam, chè con ong và để kho cá nếu không có mía hoặc vào mùa mía chưa ngọt. Ngày còn bé, trẻ con chúng tôi thường hay hát một bài đồng dao trong đó có những câu : “ Nằm ngoài ăn khoai chấm mật, nằm giữa ăn nửa mâm xôi, nằm trong ăn lòng với bún”.

 Người làng tôi còn dùng mật để bảo quản thức ăn. Vào dịp Tết, có nhiều gia đình đụng cả một góc hoặc thậm chí cả một nửa con lợn để lấy thịt ăn vào những ngày lễ hội của làng trong tháng Giêng, tháng Hai. Vào dịp hội làng, các gia đình thường mời họ hàng hoặc những người thân ở xa về dự hội nên phải chuẩn bị thực phẩm. Thịt để giành cho dịp lễ hội đều đem quay rút một phần mỡ ra dùng trước. Để giữ cho thịt quay được lâu, người ta xếp những miếng thịt quay vào chiếc vại sành nhỏ rồi đun mật và đổ lên trên. Mật bảo quản thịt còn tốt hơn cả muối mà không bị mặm. Khi ăn, người ta lau sạch mật rồi cứ thế thái ra ăn.

 Các gia đình ở làng tôi bây giờ hầu như không làm món xôi chấm chà nữa. Nhưng khi làng có việc nấu cỗ thì vẫn đóng oản, nấu chà mời khách. Bây giờ người ta sản xuất oản thời mới bằng bột nếp có đường nhuộm phẩm màu và bọc giấy ni-non bán đầy ở những quầy hàng trước các cửa chùa, cửa đền để người đi chùa mua vào lễ Phật. Ngay cả một số làng khi có hội cũng mua oản thời mới thay cho đồ xôi, đóng oản. Hai loại oản đã cho thấy một sự thay đổi cơ bản đời sống tinh thần của con người. Quá trình làm ra một cái oản xôi là cả một nghi lễ thiêng liêng từ việc chọn gạo, vo gạo, đồ xôi đến việc đóng oản và dâng oản lên lễ. Tất cả những khâu làm oản xôi đều nghiêm cẩn và đầy cảm xúc tâm linh. Ngay cả bộ đóng oản cũng phải làm bằng gỗ mít, một loại gỗ người ta để tiện đồ thờ và đục tượng Phật. Còn oản ngày nay cho vào thùng sắt tây trộn công nghiệp, đóng công nghiệp và bán đi khắp nơi như một thứ hàng hóa thông thường cho người tiêu dùng. Người đi lễ bỏ ra mấy đồng mua oản công nghiệp mang vào chùa, vào đền hoặc vào nhà thờ họ lễ. Cũng như ngày nay người ta dùng hoa giấy và nến điện. Những thứ vật chất ấy cho dù giá trị tiền bạc như thế nào cũng cho thấy lòng người đã chẳng còn những nghi lễ thiêng liêng nữa. Nó chỉ là những hành động mang tính thủ tục khi người ta xin Thần Phật những lợi ích cho cá nhân mình.

                                                                                                                                         NQT

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 04/10/2019

Tin khác

MÌ VỊT TIỀM SÀI GÒNMÌ VỊT TIỀM SÀI GÒN
AI ĂN CANH HẾN MÙNG TƠI !AI ĂN CANH HẾN MÙNG TƠI !
COÓNG PHÙCOÓNG PHÙ

Tin mới nhất

NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ
NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ

Tôi có cảm nhận rất rõ ràng là nhà thơ TNM rất hiểu văn học Đài Loan văn học Hoa Lục và văn học phương Đông nói chung, những mối quan hệ tương tác của các nền văn học này trong quá trình giao thoa và phát triển...

Sách mới

Bài toán khó

viết bởi: Triệu Hồng

Bài toán khó
Bóng Mẹ

viết bởi: Quang Hoài

Bóng Mẹ
Gỗ thần

viết bởi: Nhà xuất bản

Gỗ thần