CHÈ CHÉN BÌNH DÂN BÊN HÈ PHỐ

Nếu những quán chè xanh nơi gốc đa, cổng làng là hình ảnh quen thuộc của làng quê vùng Bắc Bộ xưa thì những quán chè chén (chứ không phải “quán trà”, như bây giờ người ta hay gọi) cũng là những nét không thể thiếu với phố phường Hà Nội ngày nay.

Viết bởi: Tạ Việt Anh

Nếu những quán chè xanh nơi gốc đa, cổng làng là hình ảnh quen thuộc của làng quê vùng Bắc Bộ xưa thì những quán chè chén (chứ không phải “quán trà”, như bây giờ người ta hay gọi) cũng là những nét không thể thiếu với phố phường Hà Nội ngày nay. Và, nếu những quán chè xanh từng có thời gian tồn tại hàng trăm năm thì những quán bán nước chè chén Hà Nội mới chỉ xuất hiện chừng vài chục năm trở lại đây. Sự khác biệt giữa quán chè xanh và chè chén là ở cái thứ nước giải khát dân dã mà nhà hàng mời khách. Một đằng là nước chè xanh được múc ra những bát sành, cũng có nơi kén bát sứ trắng hay cốc thủy tinh. Một đằng là nước chè búp, sao khô, hãm trong các ấm tích và rót ra những chén nhỏ.

Ở Hà Nội, chắc không có ai nói được một cách chính xác quán chè chén đầu tiên xuất hiện lúc nào, ai là người đầu tiên có ý tưởng ngồi bán? Các cụ nói rằng, trước năm 1954, TP chưa hề có loại quán này. Người sang trọng thì vào các quán cà phê, phòng trà… còn giới bình dân thì giải khát với chè xanh. Một điều chắc chắn nữa là các quàn chè chén bắt đầu rộ lên vào những ngày Hà Nội phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, quãng những năm 1965 – 1968. Dạo ấy, đa phần dân Hà Nội đi sơ tán về các vùng quê, một gia đình sẻ làm đôi ba mảnh. Những người đàn ông ở lại TP, làm việc, trực chiến, trông nhà… Đến bữa ăn cơm tập thể hay cơm xuất ba hào của mậu dịch quốc doanh. Trong hoàn cảnh ấy, ít có thời gian, hứng thú để pha và uống trọn ấm chè. Một lý do khác là thời ấy chè ngon, loại chè búp của Thái Nguyên hay Phú Thọ, cực hiếm. Nếu có ai từ mạn ngược về xuôi mang theo độ một cân chè mà các nhà chức trách khám được ắt bị tịch thu, có khi còn bị kết tội buôn lậu. Nhất hạng với người thành phố lúc đó là những gói chè quốc doanh như Thanh Hương, Hồng Đào, cả hương lẫn vị đều kém xa chè móc câu của đất Thái, mà cũng chỉ có được trong những ngày lễ, tết, bán rất hạn chế theo bìa mua hàng gia đình. Thường trực trong lọ chè các gia đình là loại chè “9 hào 3”, giá 3 hào một gói, nát như cám, nước đen, vị chát. Còn nhớ dạo đó, cha tôi, người nghiện chè tàu, một lần về thăm mẹ con tôi sơ tán ở Bắc Ninh có gói theo mấy ấm chè ngon. Chỗ chè ấy, ông sẻ từ gói Hồng Đào mà ông chú tôi có bìa mua hàng ở Vân Hồ gửi cho. Sau bữa cơm chiều, ông trịnh trọng pha ấm chè quý mời ông chủ nhà nơi mẹ con tôi ở trọ. Buồn thay ông thợ cày uống liền một thôi 4, 5 chén, làm cha tôi cứ ấm ức mãi vì gặp phải tay “ngưu ẩm”, chẳng biết đến cái quý của ấm chè ngon cùng cái công khó nhọc của ông…

Những năm ấy là vậy. Có lẽ từ những ngặt nghèo đó mà người ta có sáng kiến lập ra những quán bán chè chén 5 xu. Gọi vậy bởi thoạt đầu (và trong cả một thời gian rất dài) giá một chén chỉ có 5 xu. Với 5 xu, khách có thể thưởng thức chén nước chè ngon, pha đậm, nóng bỏng môi. Có thể hiểu được niềm vui nho nhỏ của những người đàn ông xa vợ con, sống đơn chiếc trong sự đe dọa thường trực của đạn bom, được tụ nhau lại nơi quán nước chè chén. Ở đấy, ngoài cái thú được uống chè ngon, trong chốc lát họ có thể trao đổi với nhau một vài tin thời sự, chia sẻ một nỗi lo hay một niềm vui nho nhỏ. Cũng có khi chẳng cần nói chuyện với ai, chỉ uống một chén nước, hút điếu thuốc, vơi đi phần nào nỗi cô đơn trong cảnh chiến tranh. Cứ như vậy, những quán chè 5 xu tồn tại nơi phố phường suốt thời gian khó. Hòa bình trở lại, nó đã là cái gì đó không thể thiếu đối với người Hà Nội.

Dần dà, Hà Nội có những quán nước chè nổi tiếng. Một trong số đó là quán bà Sinh, góc phố Nguyễn Du gặp Quang Trung. Gọi là quán bà Sinh, nhưng trông nom và bán hàng là cả hai ông bà. Quán bà Sinh có nước ngon, chỗ ngồi rộng rãi, nhìn ra một góc hồ Thiền Quang. Bà chỉ kén loại chè ngon lại có cách pha khéo. Nước rót ra nóng hổi, đậm mà vẫn giữ được màu xanh, bao giờ cũng có làn khói trắng mỏng manh quẩn nơi miệng chén. Ông bà Sinh có kiểu bán hàng khác người là bắt khách lấy nước hay thuốc phải trả tiền ngay tắp lự. Uống tuần nước nào trả tiền ngay tuần nước ấy. Vậy mà bất chấp cái sự phiền hà đó, khách đến quán vẫn rất đông. Nhiều nhất là đám phóng viên mấy tờ báo của Đoàn Thanh niên như Tiền Phong, Thiếu niên Tiền phong, Nhi đồng… đóng gần đó. Nhiều người nghiện nước quán bà Sinh đến nỗi không thể uống được ở nơi nào khác. Có ông quen lệ sáng nào cũng đến quán, gặp ngày chủ nhật phải đạp xe qua làm tuần nước rồi mới yên tâm về nhà. Sự đắt hàng của quán chè bà Sinh khiến có dạo dọc tường rào ngôi biệt thự số 49 phố Quang Trung ấy (nay là trụ sở công an phường Nguyễn Du) có cả một “tập đoàn” các quán nước. Ngay cả vợ của một giáo sư văn học nổi tiếng, thày của nhiều thế hệ sinh viên Văn khoa cũng có thời phải mở một quán nước ở đây để có cái phụ thêm vào đồng lương của ông. Nhiều như vậy, nhưng chẳng quán nào trong số những quán “ăn theo” ấy sánh được với quán bà Sinh.

Từ 5 xu, giá một chén nước chè dần lên đến một hào và tiếp tục tăng theo thời giá. Bằng vào sự tăng giá của một chén nước, cũng thấy được sự thay đổi ghê gớm của giá trị đồng tiền. Không phải chỉ giá một chén nước, mà chính những quán chè cũng dần đổi theo thời gian. Từ chỗ chỉ bán chè chén, thuốc cuộn, cùng lắm là thêm thanh kẹo, quả chuối… những mặt hàng cứ một ngày một phong phú. Một thay đổi rõ nhất là từ sau năm 1975, các quán đều bán “trà đá”, một kiểu uống của người phía Nam, du nhập ra Hà Nội. Có lẽ cũng từ đó mà người Hà Nội quen dần với cái tên “quán trà”. Đến bây giờ thì các mặt hàng khá phong phú. Trà nóng, trà đá, rượu trắng, rượu thuốc, nước khoáng, bia Tàu… đôi quán còn bày cả bia lon. Sự phong phú hóa ấy phản ánh sự đổi khác theo hướng sang trọng hóa nhu cầu giải khát của người bình dân Hà Nội. Tuy nhiên sự đổi thay ấy cũng làm những quán chè mất đi cái nếp đẹp của một thời. Vào thời ấy, chúng tôi, những sinh viên tự xưng là “triệu phú về thời gian”, chỉ cần dăm hào đã có thể ngồi quán bà Sinh cả buổi đàm đạo văn chương và ngắm hồ Thiền Quang vào thu…Cũng phải nói rõ thêm là học bổng sinh viên Đại học Tổng hợp hồi ấy là 20 đồng. Bộ đội chuyển ngành đi học được ăn lương theo quân hàm bét dem như tôi cũng được 36 đồng! Có lần, tôi tiếp một ông bạn đồng môn Khoa văn là Tổng biên tập tờ báo Đảng một tỉnh miền Trung. Sau tiệc rượu chính thức anh mới nhỏ nhẹ bày tỏ mong muốn được ngồi uống chén chè, ăn cái kẹo dồi ở quán vỉa hè như thời sinh viên mấy chục năm về trước. Vậy là mấy chiếc xe nối nhau tìm non nửa tiếng đồng hồ mới được một quán ưng ý chỗ ngã tư Phan Chu Trinh- Lý Thường Kiệt…

 Những quán nước chè nổi tiếng một thời của Hà Nội, mỗi quán có một loại khách riêng lui tới. Quán của dân làm ăn, chạy mánh, áp phe. Quán của các văn nghệ sĩ, quán toàn sinh viên nghèo kiết xác hay tới ký sổ… Dù là bán cho loại khách nào, những quán chè chén đông khách dần có thêm chức năng thứ 2, nơi trao đổi thông tin. Những tin tức về giá cả, thượng vàng hạ cám. Những tin đồn chính xác hay thất thiệt. Cả những chuyện tiếu lâm chính trị đầy chất foklore cũng từ đó mà ra. Do cái chức năng tự phát này, đôi ba phen những quán chè bị chủ trương dẹp bỏ. Song có lẽ, bởi không thể thiếu được mà sau mỗi lần bị dẹp, chúng lại mọc lên có phần đông hơn. Đợt các cơ quan nhà nước thực hiện giảm biên, số quán nước chè Hà Nội tăng vọt. Khá nhiều người được nghỉ hưu non hay “ về một cục” kiếm kế sinh nhai bằng cách mở quán nước chè. Chỉ một quãng phố vài chục mét đã có tới bốn năm quán. Ở gần công trường, bệnh viện, cơ quan… mật độ còn cao hơn. Đôi khi, quán nước chè xuất hiện ở những nơi khá bất ngờ. Sát cạnh quảng trường Ba Đình tôn nghiêm, trong khuôn viên nhà số 4 phố Bà Huyện Thanh Quan một dạo cũng có quán do một “trung niên hán tử” ngồi bán. Xưa, việc bán quán chỉ dành cho ông già bà cả. Nay thì đủ cả nam, phụ, lão, ấu, ai có điều kiện đều ngồi. Âu cũng là hợp với xu thế “bung ra” của thời mở cửa. Xuất hiện đầu tiên ở Hà Nội, các quán nước chè hiện có ở khắp nước. Mặc dù vậy, quán nước của Hà Nội vẫn mang nét riêng. Có người nói, nước của đất kinh kỳ pha chè vẫn ngon hơn so với các nơi khác. Có phải vì vậy mà nhiều người Hà Nội, khi uống nước ở các quán nơi tỉnh xa ít khi ưng ý?

 Trải qua mấy chục năm, quán chè chén Hà Nội vẫn tồn tại và gắn bó với đời sống lớp bình dân Thủ đô. Không ít bà mẹ đã nuôi dăm ba người con phương trưởng nhờ ở một quán nước chè. Ngay bây giờ, những quán nước vẫn là nguồn sống cho bao gia đình người Hà Nội. Vài năm trở lại đây, người Hà Nội đã quen dần với việc rủ nhau ra quán cà phê, nhà hàng máy lạnh chứ ít khi cùng nhau trò chuyện bên chén nước chè nơi quán bình dân. Có vẻ như việc mời nhau một cốc nước cam, một lon Carlsberg sang trọng và lịch sự hơn một chén nước chè? Đó phải chăng là một biểu hiện của một mức sống ngày càng cao? Cho dù đúng là như vậy, tôi vẫn mong sẽ mãi còn những quán nước chè Hà Nội, nơi mà khách có thể tâm tình, thưởng thức chén chè ngon nóng hổi dưới xanh ngát một vòm hoa thiên lý…

                                                                                                                    T.V.A

 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 27/03/2019

Tin khác

TƯƠNGTƯƠNG
PHỞ VIỆT Ở… NĂM CHÂUPHỞ VIỆT Ở… NĂM CHÂU
BIA HƠI HÀ NỘI BÂY GIỜ …BIA HƠI HÀ NỘI BÂY GIỜ …

Tin mới nhất

BÁNH TÉT TRÀ CUÔN - ĐẶC SẢN CỦA VÙNG ĐẤT TRÀ VINH
BÁNH TÉT TRÀ CUÔN - ĐẶC SẢN CỦA VÙNG ĐẤT TRÀ VINH

Ngay từ 5h, hàng chục nóc nhà trong ấp đã đỏ lửa, rôm rả từ rất sớm. Bà con vẫn hay nói vui rằng ở đâu không biết chứ ở đây, không khí Tết luôn có quanh năm.

Sách mới

Viết & Đọc chuyên đề mùa hạ 2019

viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Viết & Đọc chuyên đề mùa hạ 2019
Vết nhơ của người

viết bởi: Nhà xuất bản

Vết nhơ của người
Từng nốt nhạc ngân

viết bởi: Nhà xuất bản

Từng nốt nhạc ngân