THEO DẤU CHÂN BÙI NGUYÊN KHIẾT

Bắt tay vào sưu tầm, biên soạn cuốn sách ghi tựa đề Bùi Nguyên Khiết - Bóng dáng thân yêu, tôi cũng nảy ý định sẽ có một chuyến lần theo dấu chân tuổi thơ của Bùi Nguyên Khiết. Nhưng lần lữa mãi cho đến khi bản thảo tạm ổn mới thực hiện được.

Viết bởi: Nhà văn Mã A Lềnh

THEO DẤU CHÂN BÙI NGUYÊN KHIẾT

(Thay lời giới thiệu)

 

Bắt tay vào sưu tầm, biên soạn cuốn sách ghi tựa đề Bùi Nguyên Khiết - Bóng dáng thân yêu, tôi cũng nảy ý định sẽ có một chuyến lần theo dấu chân tuổi thơ của Bùi Nguyên Khiết. Nhưng lần lữa mãi cho đến khi bản thảo tạm ổn mới thực hiện được.

Sáng sớm ngày 27 tháng 7 năm 2004, tôi xuống tàu Hà Nội rồi đi xe ôm thẳng tới nhà Bùi Thị Mỵ, là em gái Bùi Nguyên Khiết như hẹn, đồng chí cựu sĩ quan quân đội nhân dân - trung tá Bùi Đình Hạ, em trai họ của Khiết và đồng chí đại úy Nguyễn Văn Biên - Huấn luyện viên câu lạc bộ thể dục thể thao quân đội, con rể của Khiết cùng một chiếc taxi, người lái là con trai bác Bùi Công Trọng, anh cả của Khiết đã có mặt. Ăn sáng qua loa, chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình xuyên qua những phố nghẽn đặc, phải nhích lên từng tí một. Thế rồi Hà Nội chen chúc cũng lùi dần về phía sau. Xe chúng tôi xăm xở đi giữa những cánh đồng lúa bao la xanh ngắt, len lỏi qua những thị tứ, thị trấn miền đồng bằng lác đác những nếp nhà mái ngói cổ khuất phía sau, phía trước là những ngôi nhà mái bằng, mái nhọn thời nay cố nhô ra mặt đường.

Độ hơn 11 giờ trưa, trời nắng chang chang, chúng tôi tới địa phận xã Xích Thổ, quê sinh của Nhà giáo - Nhà văn - Nhà báo Bùi Nguyên Khiết. Nhà bia lưu niệm các anh hùng, liệt sĩ của xã dựng uy nghi ngay sườn đồi bên đường mà bất cứ ai dù không để ý cũng nhìn thấy. Chúng tôi xuống xe, leo bậc tam cấp rộng rãi lên nhà bia và làm thủ tục thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ của Xích Thổ đã hy sinh anh dũng trên mọi miền đất nước, trong đó có Liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết thân yêu khắc ở dòng 132 trên tấm bia Tổ quốc ghi công. Giữa trưa nắng của ngày 27 tháng 7 làng xóm đang yên ắng, tôi nghe như có tiếng lao xao xa xăm khi làn khói nhang lan tỏa nghi ngút, và nụ cười loe miệng cởi mở, vô tư, không ẩn chút ưu tư u ám nào của Khiết hiện ra trên phiến cẩm thạch. Khiết sống như thế đó! Vô tư, hồn nhiên, thanh bạch, chân thành, nhiệt tình, xông xáo, hăm hở, luôn ở phía đầu ngọn gió của cuộc sống, theo như giáo thuyết của đạo Phật, là được cho, chứ không đòi lại bất cứ điều gì. Phải nói thêm rằng thời ấy tuy sách vở ít, nhưng Khiết đọc nhiều, và cái sự học cũng đã có tấm bằng đại học sư phạm loại xuất sắc, tốt nghiệp 28 điểm, thì Khiết không phải người vô tâm, nhắm mắt làm thinh mà gồng chịu. Khiết xông lên, là hình ảnh đẹp của những người thanh niên thời đại dưới chế độ mới. Khiết đứng sừng sững trên đầu trận tuyến là hành vi bất chấp những gì bùng nhùng, lề mề phía sau lưng. Đấy là cách ta nhìn để hiểu rõ thêm về Anh.

Viếng mộ Liệt sỹ, Nhà báo Bùi Nguyên Khiết

Những nén nhang đã cháy hơn nửa, chúng tôi vái tạ từ biệt các liệt sĩ, rồi rẽ vào làng Hồng Quang. Nhà báo Đinh Quang Đức - Phó chủ tịch Hội nhà báo, Tổng biên tập tạp chí Người làm báo tỉnh Ninh Bình, làm rể dòng họ Bùi Đình (nay đã nghỉ hưu) hẹn đón, nên chúng tôi không thể không vào nhà. Nếp nhà của anh dựng bên sườn đồi thoải, xung quanh là rừng cây, phía trước nhìn ra cánh đồng thật mát mẻ và yên tĩnh. Đinh Quang Đức cho hay đường 1 bị tắc vì bị nước ngập ở quãng nào đó. Tôi thầm mừng đã chọn đường 21 mà đi là đúng. Đường nhỏ hẹp, không được êm thuận cho lắm, nhưng nếu chẳng may xe bị tắc, còn có những người dân chân chất lấy trâu kéo cho, chứ đi đường lớn, có bị làm sao thì chắc chắn chỉ sát phạt bằng tiền.

Xem chừng anh sẽ làm cơm trưa, nhưng tôi nhất quyết phải tới nhà cụ Bùi Đình Khái, ở thôn Đại Hòa, đó mới là điểm dừng chân, và chúng tôi mời anh đi cùng luôn. Trên đường tới nhà cụ Khái, chúng tôi rẽ vào thăm khu mộ chí họ Bùi. Khu mộ được xây thẳng tắp một hàng nhưng không tô vẽ uốn lượn theo lối trưởng giả, phía sau xây một bệ đặt hương nhang cho các liệt sĩ, gồm Liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết, Bùi Lưu Thanh là em ruột con mẹ kế, và Bùi Đình Bình, là con chú ruột của Khiết.

Đến nhà cụ Khái đã 12 giờ trưa. Cả nhà đang nóng lòng chờ, vì được báo có khách đường xa, nên con cháu nhà cụ dậy sớm, tíu tít làm cơm từ sáng. Thế hệ cha, chú của Khiết, Mỵ, Hạ có năm anh em trai. Cụ Bùi Đình Khể, thứ tư, từng làm Chủ tịch ủy ban hành chính xã Xích Thổ từ tháng 4 năm 1946 đến tháng 10 năm 1947, nay 92 tuổi, đang ở Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Cụ Khái đã 88 tuổi, là út, trụ vững tại quê cha đất tổ gánh vác việc khói hương, tuy thế, ban thờ của cụ chẳng bày đặt cầu kỳ. Tiếp tôi, còn có cụ Bùi Đình Ninh với chức danh Phó chủ tịch dòng họ Bùi Đình. Cả hai cụ đều ở tuổi “xưa nay hiếm”, tai đã hơi nghễng ngãng, nhưng ở tuổi ấy các cụ còn khỏe mạnh lắm. Cụ Ninh là một nhà thông thái của dòng họ Bùi Đình, nói vanh vách chuyện kháng chiến, chuyện cuộc sống dòng họ, gia tộc và lịch sử hàng mấy mươi năm của xã, rồi cụ tặng tôi cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Xích Thổ 1945 - 2000, xuất bản tháng 12 năm 2003 mà cụ là một trong số người tham gia biên soạn. Cụ nói đã soạn cuốn sử này ra diễn ca, những lúc có dịp tụ tập là đọc liền cho mọi người nghe. Cụ giở vở ra toan đọc, song sợ tôi không có thì giờ. Tôi mách nước với cụ hãy gom góp tất cả những ghi chép này đưa cho Mỵ, Hạ, Đức in vi tính lưu hành nội bộ, sẽ bổ sung tư liệu cho gia phả họ Bùi - dòng tộc có mặt 600 năm trên dải đất đỏ này (tính đến thời điểm năm 2004). Trong câu chuyện, hai cụ có nói thoáng qua trường hợp nhầm lẫn tai hại hồi cải cách ruộng đất, nạn nhân chính là cha sinh của Bùi Đình Hạ. Thế nhưng trên đường đi, Hạ tuyệt nhiên không nói gì tới chuyện buồn đau này, mà trung tâm vẫn là nhân vật Bùi Nguyên Khiết. Hạ nhắc đi nhắc lại:

- Đáng ra người hy sinh phải là tôi chứ! Vì sao anh Khiết tôi lại phải hy sinh? Tôi là thằng cầm súng ra mặt trận, thế mà tôi lại về lành lặn thế này. Còn anh tôi, làm nhà giáo, nhà văn, nhà báo, anh tôi không làm phận sự của người cầm súng, vũ khí của anh tôi là cây bút, vũ khí của tôi là súng cơ mà!

Anh lục vấn vài câu, rồi im bặt. Ngồi trong xe, tôi cố nói to cho mọi người cùng nghe:

- Cứ cho là có số, nhưng bạn tôi, Bùi Nguyên Khiết hăng hái một cách thanh khiết đến cùng, không hề vụ lợi, không chút toan tính riêng tư. Nhìn thấy quân thù nhung nhúc quần đảo trước mặt mà lại nghĩ mình là nhà báo, là kẻ sĩ, mình lùi về phía sau để viết, thế thì còn gì là Bùi Nguyên Khiết nữa!

Từ đấy anh không bàn luận thêm, mà đầu óc đăm chiêu vấn đề gì đó xa xôi. Đến lúc cụ Ninh nói thoáng qua chuyện này, tôi mới hiểu thêm về Hạ. Những câu lục vấn của anh về người anh thân yêu của mình có lẽ đã nung nấu lâu lắm, xâu chuyện đó vào chuyện cha của anh trong quá khứ, trở thành một nỗi ám ảnh day dứt suốt cuộc đời không thể lý giải nổi. Trong cuộc sống, những chuyện như thế đâu có hiếm, và đâu có phải chỉ mình anh, hay rộng hơn, là dòng họ Bùi ở Xích Thổ bị mắc vướng. Đó chỉ là một trường hợp trong kiếp luân hồi vô cùng vô tận khi cái Thiện, cái ác vẫn cứ song hành! Tôi không làm cái việc của một triết gia, nhưng phải nhìn cuộc sống với muôn sự sinh động của nó, đừng nhìn phía trước là con đường phẳng lỳ, là bầu trời quang đãng, biết đâu sẽ có hạt bụi bỗng xiên vào mắt mình, bỗng có sợi tơ nhện trong suốt chắn ngang. Mặt biển lặng gió mà vẫn lõng bõng nổi sóng, mặt đất thanh bình, yên ả mà vẫn rùng rình. Thấy trước những điều ấy, lòng mình sẽ thanh thản, nghị lực sẽ nhân lên.

Đã hai giờ rưỡi chiều. Chúng tôi từ biệt gia đình cụ Khái để đến trụ sở xã, kề ngay phía sau nhà bia Tổ quốc ghi công. Đồng chí Trần Trung Hậu - Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Đức Hiệp - Chủ tịch, Hoàng Văn Báu - Phó chủ tịch đang chờ. Chủ tịch và Bí thư Đảng ủy xã nói vắn tắt tình hình: Xích Thổ là một xã miền núi khu vực I nên không thuộc diện chính sách 135. Đời sống nhân dân hiện tại bình quân thu nhập lương thực ở mức 500 cân một người, nâng cao gấp đôi so với năm 1979. Xã đã phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đảng bộ luôn đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh từ năm 1991 đến nay (cũng thời điểm 2004). Ngoài 149 liệt sĩ ghi trong cuốn Lịch sử Đảng bộ, Xích Thổ còn có 4 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó một Bà Mẹ hiện giờ còn sống, 80 gia đình chính sách, 45 thương binh, 59 bệnh binh. Các đối tượng chính sách và người có công không còn hộ nghèo. Do có thành tích đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 29 tháng 1 năm 1996, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho Đảng bộ và nhân dân Xích Thổ, và ngày 1 tháng 3 năm đó, Xích Thổ tổ chức lễ đón nhận danh hiệu cao quý này. Trong ngày hội long trọng ấy, Nhà báo Nguyễn Đỗ Phượng - nguyên ủy viên trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, là cán bộ từng hoạt động ở xã thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cũng về dự.

Hôm ấy về Xích Thổ chỉ là lần theo dấu chân thời niên thiếu của người bạn thân từng cùng thò tay bốc xôi, từng chia nhau điếu thuốc Thủ đô, D’rao, Trường sơn, nghe Hạ nói, lòng tôi không thể không xốn xang. Giá như Khiết vẫn cứ làm nghề dạy học trầm trầm quẩn quanh với trang giáo án và đám học trò; giá như Khiết sang Hội văn nghệ tỉnh Lao Cai mà Hội đã có công văn xin; giá như Khiết chuyển về Hà Nội vì đã có nơi sẵn lòng nhận, giá như, giá như... Nhưng nếu mọi cái giá như đặt ra thì sẽ không còn Bùi Nguyên Khiết nữa, Khiết nhỉ! Bởi thế mà suốt chặng đường đi, đồng chí đại úy Nguyễn Văn Biên, chồng Bùi Nguyên Khánh chỉ biết mặt bố vợ qua tấm ảnh chân dung đen trắng không nói năng gì, phần có thể anh là phận con cháu, phần có thể anh không tường tính khí bố mình, giờ mới nghẹn ngào hứa với các cụ, các ông bà, chú bác và những người đang gìn giữ, phát huy truyền thống anh hùng của quê hương Xích Thổ sẽ sống, cống hiến xứng đáng với người cha của mình.

Tạm biệt các đồng chí lãnh đạo xã, chúng tôi ra nhà bia thắp hương tạ từ các liệt sĩ một lần nữa. Đồng chí Bí thư Đảng ủy đi trước, bước chân tập tễnh, tôi mới biết đó cũng là một thương binh.

Gần bốn giờ chiều. Tôi phải mạnh bạo kéo những người ruột thịt của Bùi Nguyên Khiết bứt ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn tiếp tục cuộc hành trình theo đường 59 mà tiêu điểm là huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, nơi yên nghỉ ngàn thu của Nhà báo - Liệt sĩ.

Nghĩa trang liệt sĩ huyện Lương Sơn cũng ở ngay bên đường. Trời đã tối nhọ mặt nhưng cổng nghĩa trang vẫn mở toang. Mộ Bùi Nguyên Khiết đặt ở phía trước, góc phải. Khiết ơi! Tao đang lần theo dấu chân của mày đây! Tao đã lên tận Tả Ngài Chồ tìm bóng dáng của mày. Ngày ấy, trên đường công tác, tao đã rẽ vào nghĩa trang trung tâm huyện Mường Khương, không có hương nên tao đặt cho mày một bó hoa mua rừng, vì tao vẫn nhớ mày rất thích hoa rừng. Mày không hay uống rượu, mà ngày ấy có rượu đâu mà uống, nhưng tao cứ rót ra đây mày nhấp tí chút như hồi nào, rồi mời bạn bè, đồng chí cùng hưởng hương hoa. Ngày 22 tháng 7 năm 1995, anh em, con cháu ruột thịt của mày đưa mày từ Mường Khương về đây, có các đồng chí ở cơ quan Báo Lào Cai đưa tiễn, tao biết, nhưng đang công tác xa, không về kịp. Mãi đến nay tao mới thu xếp được để đến tận nơi mày yên nghỉ. Đừng trách tao nhé!... Vốn biết đàn bà con gái là giàu nước mắt, vốn biết Mỵ yêu anh mình biết nhường nào, lúc nào cũng đau đáu lo toan hương khói và những việc còn lại cho anh, và dành hết tình yêu thương cho đứa con gái duy nhất của anh mình, nhưng không hiểu sao tôi không chịu nổi khi thân hình Mỵ cứ rũ xuống mãi cùng tiếng khóc nấc lên, đã phải dằn giọng: “- Khóc thế đủ rồi, đứng dậy đi, Mỵ à!”.

Tôi ngước nhìn lên bầu trời liu riu những vì sao nhấp nháy, lại thấy Khiết nở một nụ cười loe miệng chân thành đến nao lòng. Sống giản dị, nghĩ điều hay, viết điều tốt; Nhà giáo - Nhà văn - Nhà báo Bùi Nguyên Khiết nhất quán như thế! Chớ có đặt điều gì u uẩn cho Khiết! Cuộc sống bình dị nhưng hành động là anh hùng. Bùi Nguyên Khiết là một anh hùng trong lòng tôi, trong lòng những ai yêu mến và hiểu tính cách của Anh. Vì yêu những đứa học trò người dân tộc thiểu số thật thà, hồn nhiên như cây cỏ vẫn thường chùi mũi bằng tay áo, vì yêu quê hương Lào Cai và gắn kết cả cuộc đời với mảnh đất biên cương này, vì yêu hết thảy bằng tình yêu chân thật nhất, nên Khiết mới có hành động phi thường như thế!

Tối ấy về nhà bác cả Bùi Công Trọng ở tiểu khu 4 Bãi Lạng, tôi mới thật mắt nhìn tấm bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết treo trang trọng chính giữa ban thờ. Năm ấy (2004) 72 tuổi, nguyên là nhà giáo về nghỉ, chắc chắn cuộc đời bác phải trải qua bao gian truân vất vả nên sớm mang bệnh tuổi già. Biết chút ít cách chữa bệnh bằng bấm huyệt, tôi thì vã mồ hôi mà bác chỉ kêu đau... Nhưng buổi ấy con cháu tề tựu cùng tiếng cười tiếng nói rộn lên làm cho bác vui lây và gượng ngồi dậy. Đã lâu mới lại làm một chuyến du ngoạn, nên giấc ngủ đến sớm, trong căn nhà thôn quê có vườn cây thoáng mát, lại được tắm nước giếng trong lành, tôi làm một giấc trọn vẹn chẳng mộng mị gì.

Thức dậy khi trời đã sáng bảnh. Con trai thứ của bác Trọng - Bùi Phúc Tuấn mời ăn sáng xong, chúng tôi nhằm tới nhà bác Bùi Công Vọng, anh trai thứ hai của Khiết, công tác trong ngành thương nghiệp cũng đã về nghỉ. 67 tuổi (2004), bác đang vui vầy với hội sinh vật cảnh, hội nuôi ong ở thị xã Hòa Bình. Chúng tôi rủ bác cùng đến trường cao đẳng sư phạm tỉnh. Khiết học cấp I ở xã Xích Thổ. Lên cấp II, hàng ngày phải chạy bộ đi về gần chục cây số đến trường Lạc Thủy. Tốt nghiệp khoa xã hội trường sư phạm tỉnh Hòa Bình năm 1960 đến 1962, khép lại tuổi thơ từ đây, thầy giáo trẻ Bùi Nguyên Khiết háo hức xung phong lên Lào Cai bắt đầu gây dựng sự nghiệp cho cả cuộc đời mình, như một mầm cây đã vươn tới ánh sáng mặt trời trong cánh rừng đại ngàn.

Nhưng hơi thở và cuộc sống của Anh mãi mãi đọng lại ở tuổi sung sức nhất, tuổi bắt đầu độ chín của trí tuệ, tuổi tích lũy kinh nghiệm và lý trí thay thế dần tình cảm xốc nổi, tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người. Nói ra điều này có thể làm Khiết không vừa lòng, vì chắc đâu Khiết đã nghĩ như thế, song theo cách hiểu của tôi, con đường đi ấy, tính cách xung phong ấy, sự phấn đấu vượt lên ấy của Khiết cũng có thể là nhằm bứt khỏi quá khứ đau buồn, là giẫm hẳn lên cái bãi lầy cổ hủ cũ kỹ thời xưa. Số là ngay sau những ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Việt Minh vừa giành được chính quyền, cụ Bùi Đình Đôn, chú ruột của Khiết, cha thân sinh Bùi Đình Hạ được nhân dân cử ra làm Chủ tịch ủy ban cách mạng lâm thời từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946. Nhưng rồi xảy ra sự nhầm lẫn, phản trắc quái ác. Cái vết bầm tím ấy cứ đeo bám theo số phận của các con cháu, từ bác Trọng, bác Vọng, rây cả tới Bùi Nguyên Khiết, Bùi Thị Mỵ, tuy đều là người đã đi thoát ly. Dẫu thế nào thì vết bầm kia cũng chìm dần vào dĩ vãng theo thời gian. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, nhận thức của con người cũng dần thay đổi, cách nhìn nhận cuộc sống phóng khoáng hơn, dù rằng thời đại mới, những tấn bi kịch có thể vẫn còn. Tôi không thể không nghĩ rằng chính Bùi Nguyên Khiết với hành động anh hùng như thế, đã trở nên bùa phép hóa giải đi vết bầm trong lòng các con cháu kế tiếp dòng họ Bùi Đình hoặc ở Xích Thổ, hoặc đã tha phương tìm kế sinh nhai. Xích Thổ anh hùng bây giờ đã hoàn toàn đổi mới. Những đồng chí lãnh đạo có kiến thức và đầy bản lĩnh như Trần Trung Hậu, Nguyễn Đức Hiệp, Hoàng Văn Báu... cũng đã từng trực tiếp hoặc gián tiếp cầm súng đánh giặc, nên họ hiểu rõ giá trị của nhân phẩm, biết phân biệt phải trái. Họ đang ra sức xây dựng quê hương, đôn đốc, lãnh đạo nhân dân vươn lên cuộc sống có cơm ngon, áo đẹp, xây dựng một xã hội công bằng; thế tức cũng là bù đắp những gì trót mất mát của thời ấu trĩ xưa kia. Với bác Trọng, bác Vọng mà tôi được tiếp xúc dù chỉ một lần ngắn ngủi, song cảm nhận ngay các bác là những người thật hiền lành, chất phác, nhưng cũng thật sâu sắc. Chỉ nhìn dáng chắc nịch cậu con trai thứ của bác Trọng, Bùi Phúc Tuấn - đã tham gia quân đội, rồi sang làm việc bên nước Bun-ga-ri, người tiếp rượu tôi, đã thấy sự bạo dạn, linh hoạt, mạnh mẽ và quyết đoán. Qua Bùi Thị Mỵ, tôi được biết con trai cả bác Trọng, Bùi Thân Hiền là cử nhân kinh tế, đang làm việc ở cục thuế tỉnh Hòa Bình; Bùi Ái Chủng, cử nhân luật, bị nhiễm chất độc màu da cam trong thời gian làm bộ đội trinh sát ở chiến trường nên đã qua đời sau khi phục viên, và nhiều người nữa quyết chí học hành đỗ đạt, không để thua kém ai, cả loạt thế hệ trẻ ấy đang vươn tới tương lai, hòa nhập với xu thế thời đại.

Ngày 28 tháng 7 năm 2004, trời đã ngả sang chiều, chúng tôi chia tay gia đình bác Trọng. Bác run rẩy lê đôi chân với thân hình còm cõi chất ngất gánh nặng cuộc đời sương gió lên tận mặt đường cố níu giữ chúng tôi rằng nên tranh thủ mà thăm thú vài nơi của tỉnh Hòa Bình. Nhưng tôi không thể ở lại thêm vì muốn sớm hoàn thành cuốn sách với niềm hy vọng ở chốn bồng lai bất cảm bất tri niềm sung sướng, nỗi khổ đau kia, linh hồn Nhà giáo - Nhà văn - Nhà báo Bùi Nguyên Khiết thân yêu sẽ giữ nguyên nụ cười không còn gợn chút uẩn khúc nào. Anh sẽ mãi là một tấm gương cho chúng tôi soi rọi, bởi Anh đã chăng thêm dấu luyến ngân vang trong bản anh hùng ca của dân tộc suốt mấy ngàn năm cùng biết bao con người ưu tú để cho đến bây giờ nhân dân Việt Nam mới thật sự được sống trong hòa bình và bắt tay vào xây dựng quê hương, đất nước.

Ba mươi sáu năm, khoảng mười ba nghìn ngày có mặt trên đời này, thấm nhuần tư tưởng và lối sống hừng hực khí thế cách mạng của thế hệ thanh niên thời đại mới, một lòng nguyện ước đóng góp thật nhiều công sức cho xã hội mới, làm giáo viên là trực tiếp đứng trên bục giảng ở những nơi còn nhiều khó khăn gian khổ, làm nhà báo là xông xáo tới những nơi đang đầy ắp sự kiện, vấn đề đang nóng bỏng, và làm nhà văn là xả thân hết mình bênh vực cho đức tính hy sinh, lối sống lăn xả vì việc thiện, việc nghĩa, việc công, Bùi Nguyên Khiết viết hăng, viết kỹ, chỉn chu câu chữ, đi - nhìn - đọc - nghĩ - viết, không chấp vặt những điều nhỏ nhen, không mất thì giờ bàn luận, đàm tiếu, không la cà lông bông, không có thì giờ ngồi uống trà theo lối các cụ Đồ Nho, từ chối rượu và mọi sự cám dỗ, không lên mặt phát biểu, diễn thuyết, không ngồi yên đút chân gầm bàn, cặm cụi viết xong lại hối hả đi, không trầm tư mặc tưởng rầu rĩ, cười loe miệng khi có chuyện vui hoặc khi lâu ngày gặp bạn, cười bụm miệng khi bắt gặp sự trớ trêu, thi thoảng khỏa lấp tình huống bằng lời tếu táo đáng yêu... Đó là hình ảnh một Bùi Nguyên Khiết thân yêu. Trong truyện Tháp cầu bên sông có câu: “Chỉ sợ “tạnh” sớm quá, chứ mình mà còn thì tha hồ khó khăn, tha hồ vất vả, tha hồ bom đạn Mỹ. Cứ thử thách đi, ta chấp nhận tất cả”.

Làm giáo viên văn cấp 2 cùng những trang viết đầu đời, Khiết đã chủ động trang bị đủ kiến thức học vấn cho mình với tấm bằng đại học loại ưu để dấn thân vào sự nghiệp văn chương trong hoàn cảnh cuộc sống vô cùng khốn khó chứng tỏ một nghị lực phi thường để không bị thua thiệt, để át đi nỗi ám ảnh về lai lịch của vài người có chức quyền thời bấy giờ. Những trang viết đã dày, công việc gì cũng hoàn thành xuất sắc nhưng vẫn không thể được kết nạp vào Đảng nên không thể đưa vào vị trí cán bộ chủ chốt nào. Khiết đã dạy học ở thị trấn Sa Pa, xã Bảo Nhai - huyện Bắc Hà, huyện Bát Xát, cuối cùng là trường cấp II tiểu khu Duyên Hải, thị xã Lao Cai. Cuối năm 1974, đầu năm 1975 tôi, Bùi Nguyên Khiết và Lò Ngân Sủn cùng đi học khóa 7 trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ tại Quảng Bá. Ngày Khiết dạy ở Duyên Hải thì tôi làm ở Ty. Tôi mang vài cái bản thảo mới viết đến khoe và nhờ Khiết đọc. Học trò đang làm bài tập gì đó, lớp im phăng phắc. Còn thầy thì đang đọc sách. Thấy tôi đến, Khiết cho học trò nghỉ sớm rồi đi vo gạo, đặt nồi xôi. Tay hiệu phó ngó vào, khiển Khiết sao cho học sinh nghỉ sớm. Chắc còn định trộ cho Khiết một trận nhưng thấy tôi nên anh ta cười cười bỏ đi. Sau đó Khiết chuyển sang Báo Lao Cai đổi mới cuối thời tỉnh Lao Cai cũ, tiếp đó ba tỉnh Lao Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ sáp nhập, gọi là tỉnh Hoàng Liên Sơn nên tờ báo của Đảng bộ gọi là Báo Hoàng Liên Sơn. Rồi sự kiện “nạn kiều”, rồi chiến sự biên giới… Khiết đều xông xáo để có cả loạt bài báo, bút ký, phóng sự đầy khí khái bút chiến với những bút danh: Mạc Điềm, Hoàng Huy, Bạch Thiếu Minh, Nguyễn Huy Hoàng, Lưu Thanh, Phong Sơn, Hoàng Nguyên, Ngũ Hồng... Cho đến lúc Khiết trở thành bức tượng trên chiến hào tại Lao Páo Chải, xã Tả Ngài Chồ - huyện Mường Khương mới được truy kết nạp là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Người đầu tiên báo tin Khiết hy sinh là nhà báo Trường Túy, khi tỉnh Hoàng Liên Sơn chia tách, ông làm Tổng biên tập Báo Yên Bái, nay đã nghỉ hưu. Những ngày chiến sự rối ren ấy tôi là phóng viên tờ báo Văn nghệ Hoàng Liên Sơn, cơ quan đóng ở thị xã Yên Bái, chúng tôi cùng rủ nhau lên tuyến đầu rồi chia tay mỗi người mỗi ngả nhưng tôi cũng kịp về dự lễ truy điệu Khiết, do cơ quan Báo và Hội văn nghệ tổ chức.

Sớm biết tạo dựng cho mình một sự nghiệp, ba mươi sáu tuổi đời, Bùi Nguyên Khiết để lại gương mặt, tiếng nói, dáng hình trong sáu cuốn sách (ba cuốn NXB Kim Đồng, hai cuốn NXB Phụ Nữ, một cuốn NXB Tác Phẩm Mới) và một bản thảo truyện dài ghi tên đề Pháo đài trên núi thẳm đang viết dở dang tập I đến trang 104 cùng hàng loạt bài lẻ đăng rải rác trên Tuần báo Văn nghệ, Văn nghệ Hoàng Liên Sơn, Báo Lao Cai đổi mới, Báo Hoàng Liên Sơn...

Để tri âm người bạn thân thiết của mình, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Bùi Thị Mỵ, em gái Khiết, tôi cố gắng gom tầm một số tác phẩm của Bùi Nguyên Khiết đã đăng lẻ tẻ trong hoàn cảnh cho phép cùng với phần mà tôi thấy không thể không có, là những tâm sự, ghi nhận, những kỷ niệm, dấu ấn của dòng họ Bùi, người ruột thịt, bạn bè, đồng nghiệp với Nhà văn - Nhà báo - Liệt sĩ, bởi tôi cảm thấy đã phải làm việc gấp gáp lên, và rồi thời gian, hoàn cảnh xã hội ngày càng xa cách. Những tác phẩm còn lại của Bùi Nguyên Khiết, những ghi nhận, kỷ niệm của họ mạc, bạn bè về Bùi Nguyên Khiết là tư liệu tốt để lưu danh thân thế, sự nghiệp của một nhà văn, nhà báo tuổi đời cũng như tuổi viết còn rất trẻ, và là người bạn, người đồng chí mà chúng ta yêu quý, dù thế hệ mai sau có thể dần quên. Sau khi cuốn sách được Hội văn nghệ tỉnh xuất bản, tôi đã đệ trình kiến nghị cấp có thẩm quyền đề nghị Đảng, Nhà nước truy phong Anh hùng cho Nhà văn - Nhà báo - Liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết nhưng bất thành. Đành vậy! Tôi cũng đề xuất với Thành phố Lào Cai nên đặt tên đường phố để lưu danh một số sự kiện đáng nhớ, một số vị hoạt động chính trị và văn nghệ sĩ như Thủ Dầu Một là một tỉnh miền Nam trước đây kết nghĩa với Lao Cai, Hoàng Quy, Hoàng Trường Trường Minh từng là lãnh đạo tỉnh, Văn Cao, Nguyễn Tuân, Tô Ngọc Vân, Bùi Nguyên Khiết, Lưu Bách Thụ…

Nay được sự động viên của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, cuốn Bùi Nguyên Khiết - Văn chương & cuộc đời này sẽ cố gắng dày dặn hơn, song vẫn không hy vọng là đầy đủ bởi những tác phẩm văn học, báo chí đăng lẻ tẻ mang các bút danh chưa xác định được thật chính xác có phải là của Bùi Nguyên Khiết hay không, trong đó có những tác phẩm tôi còn nhớ được tên, như “ấp Tân Sanh”, “Ôi những tháng năm mừng rơi nước mắt”, “Nhịp cầu ấp ủ”... và cả một số tác phẩm đã đăng rải rác do hoàn cảnh chưa tiện in lại. Còn điều gì khuất tất thì xin được sự chỉ giáo và lượng thứ.

 Nhà văn Mã A Lềnh

Lào Cai, 19 /05 /2014

 Phần I

 NHỮNG TRUYỆN VÀ KÝ CỦA 

BÙI NGUYÊN KHIẾT ĐÃ ĐĂNG BÁO, CHƯA IN THÀNH SÁCH

 

 

TỪ NGỌN LỬA MÀU XANH ẤY

 Cách đây năm trăm triệu năm, đất Lao Cai vốn là một cái vịnh nông của biển Đông bao la. Sóng biển dập dờn vỗ vào tận sườn đông dãy Hoàng Liên Sơn. Từng đàn bò sát khổng lồ đêm đêm ăn rong biển rồi trưa trưa lại bò lên sườn núi phơi mình dưới nắng lấp loáng. Nghêu, sò, ốc, hến... bám vào chân núi đá làm chỗ dựa để kiếm mồi. Mặt biển ngan ngát xanh một màu trời thu. Sóng khi lăn tăn, khi cuộn lên dữ dội, đập vào núi tạo thành những ngấn sóng còn để lại tới giờ. Không ở đâu nhiều cá và động vật như ở đây, ở cái vịnh biển này. Chiều chiều, bờ vịnh đen kịt động vật đi uống nước và tắm cát. Nào voi, cá sấu, thuồng luồng, ngư long, trăn, rắn... Dưới nước thì cá, chao ơi cá! Cá làm cho màu nước xanh đằm xanh đẵm lại. Cá về đây tụ hội để đón phù du sinh vật, đón những dòng thủy tra, bùn vôi từ dãy Hymalaya vùng cao nguyên Tây Tạng về, từ nam Trung Quốc sang, từ Ấn Độ đến và từ Inđônêxia do sóng khơi dồn vỗ vào. Đây cũng là nơi tụ hội những dòng thực vật Đông Nam á. Trên núi Hoàng Liên còn đó những cây chè cổ mấy người ôm không xuể; có cả những cây trước đây cha ông ta tưởng không có phải đi nhập nội. Chả thế mà các nhà thực vật học thế giới tha thiết được đến đây nghiên cứu.

Nước mưa từ các nơi chở các mảnh vụn của các nham thạch phong hóa cũng về đây lắng đọng. Thế kỷ này qua thế kỷ khác vịnh đã nông lại thêm nông. Thế rồi vào một buổi trời nắng chang chang như thiêu như đốt, cái nóng thuở hoang sơ khủng khiếp lắm, da trời cháy vàng như lửa, tất cả động vật kéo nhau đàn lũ ra biển đằm mình. Nhưng bỗng biển cồn sóng dữ dội, trời đất chao đảo, đá lở đất nhào, giữa biển - phía Hà Giang ngày nay - một dòng lửa phụt lên. Động đất có kèm theo núi lửa bắt đầu! Vùng vịnh biển này được nâng lên tới gần 600 mét. Nước biển bị núi lửa hút khô. Biển còn lại sợ hãi chạy mãi ra xa, ra xa gần như bây giờ đấy! Tất cả động vật và thực vật bị chôn vùi, bị thiêu đốt, bị chèn ép, bị nén sâu trong lòng đất đá. Và hàng triệu năm sau, vận động tạo sơn tiếp tục nâng đất lòng vịnh uốn nếp vồng lên thành núi non trùng trùng điệp điệp. Ở đây vẫn còn thấy bóng dáng những con sò, ngao hóa thạch gắn mình trên vách đá, há miệng hứng mưa như vẫn luyến tiếc những ngày sống thỏa thích giữa biển xanh mặn mà. Và còn đó, hình nhánh cây hóa thạch trên các vỉa quặng lưu lại một thời xanh vẫy vùng nắng gió thuở hoang sơ.

Mỏ Apatít Lao Cai được hình thành như vậy, từ bùn vôi, khoáng thạch và xác động vật hữu cơ trầm tích.

Năm 1924, cụ Trần Văn Nỏ, dân tộc Tày ở làng Hẻo xã Cam Đường khi đi rừng lấy đá xanh kê củ mài để nướng, lửa cháy, hòn đá cũng cháy theo và phát ra ngọn lửa xanh biêng biếc. Cụ gọi là “hòn đá ma”, đem về trình lý trưởng. Lý trưởng đem đi trình chánh sứ Pháp ở Lao Cai. Lúc này con bạch tuộc chủ nghĩa thực dân Pháp đang bủa các vòi đi tìm tài nguyên của Tổ quốc ta. Phô-ma, nhà địa chất Pháp lúc đó đang có mặt tại Lao Cai, vớ được “hòn đá ma” như vớ được vàng. Ông ta đem về phân tích tại sở khoáng chất Hà Nội, thấy có tới bốn mươi phần trăm ôxít phốt pho (P205). Mỏ Apatít Cam Đường được phát hiện từ đó. Nhưng mãi tới năm 1936 tên Đuy-boa, tư bản Pháp mới đứng ra bỏ vốn khai thác.

*

*                *

“- Dưới chế độ cũ, phát hiện ra một mỏ mới tức là phát hiện cho bọn thực dân một kho của cải lớn, đồng thời cũng là đem lại cho người dân lam lũ một tai họa khôn lường”. Đó là lời của những bác công nhân già từng làm thuê cho Pháp ở đây nói với tôi vào một đêm cuối xuân 1964, khi tôi vừa cùng đoàn thám hiểm dược liệu và vật lý địa cầu trèo lên Hoàng Liên Sơn và cái đỉnh tót vời Phăng Xi Păng cao 3.142 mét trở về. Sơn hộ này vẫn tiếp tục được nâng lên và ngày càng trẻ lại. Cây thuốc mọc san sát bên nhau đủ loại, không biết có phải vì mọc trên đất có Apatít hay không mà cây ở đây xanh tốt lạ lùng. Có những cây thông tám, chín người ôm không xuể; cây pơ mu cao trên năm chục mét, gốc bạnh thành những chè vè thòng ra như những cái chân đế vững vàng cho cây, chiếm một khoảnh đất bằng bốn gian nhà quy vuông lại.

Tôi đã đứng ba ngày đêm bên bờ vịnh biển xưa ấy mà lòng rạo rực tự hào. Ba ngày đứng đó mà ngắm, mà trèo, mà men theo sườn núi tìm cây, tìm hoa, tìm lá... Chính vì thế tôi may mắn có được con sò hóa đá to tướng.

Đêm ấy, chúng tôi ngồi nghe các bác công nhân già kể chuyện đời làm thuê cho Pháp ở đây. Ngoài rừng xa, tiếng những con chồn bay ăn quả vội vàng và hú gọi con mãi không dứt, nghe vừa vui vui vừa thấy cái ấn tượng hoang dã như còn lẩn khuất đâu đây.

- Lớp công nhân cũ còn nhiều không, bác?

Tiếp sau câu hỏi của tôi, bác công nhân già tóc bạc phơ chỉ tay về phía vùng đồi thoai thoải:

- Hầu như họ nằm cả ngoài đó rồi, anh ạ! Nó đối xử tàn tệ lắm, anh bảo sống sao nổi!

Những người lên đây làm thuê là những nông dân bị bần cùng hóa. Sưu cao, thuế nặng, ruộng mất, họ bị tước đoạt công cụ sản xuất, phải đi lang thang tha phương cầu thực. Các nhà máy, hầm mỏ đã mai phục, đón lõng họ để thuê mướn nhân công một cách rẻ mạt. Chính Đờ-rút-xô, tên thực dân cáo già ở Việt Nam đã viết thư mật trình lên cấp trên của y: “Bọn nhà quê chỉ chịu xa rời làng mạc đi kiếm ăn ở nơi khác khi nào chúng đang chết đói. Cho
nên chúng ta muốn mộ phu thì phải làm cho nông thôn nghèo đi...”

Ai đi mỏ Cóc Cam Đường

Tan nhà, nát cửa, nắm xương chẳng còn”.

“Trót đi mỏ Cóc Cam Đường

Cố sao giữ được nắm xương mà về”...

Tiếng kêu ai oán vọt ra từ máu và nước mắt còn vọng mãi tới giờ. Công nhân hồi đó lên đây gồm người các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Yên, Yên Bái... Bọn chủ thầu, cai, ký nắm lấy thẻ sưu của họ - cái thẻ khốn nạn cực kỳ vô nhân đạo, làm cho người sống khốn khổ, người chết nhục nhã. Cái thuế thân, đánh thuế vào đầu người, vì anh đã sống ở đời này, dù đời chẳng may mắn gì cũng thuế; Thẻ sưu bị giữ rồi, còn đi đâu được nữa, họ bị trói chặt vào mỏ và được bố thí đồng tiền công rẻ mạt: 35 xu một ngày với người khỏe, 32, 30 xu đối với người yếu. Cả tháng được khoảng tám, chín hào, nhưng lại bị cắt xén đến năm, bảy lần. Trong khi đó những tên chủ thầu cai, ký người Pháp như An-tô-ni, Ba-răng-đô, Ri-sa lương tháng từ 1.800 đến 2.000 đồng. Bọn cai, ký người Việt như cai Sâm, cai Đằng, cai Dưng thỉnh thoảng lại xách hàng va li tiền về quê tậu ruộng, xây nhà lầu và chạy chức chánh tổng, lý trưởng, riêng cai Bưng đã quỵt lương công nhân ba năm liền rồi ôm tiền trốn biệt tăm.

Hàng ngày công nhân làm việc mười tám giờ. Sáng dậy từ ba, bốn giờ. Trời còn tối, lò dò, mò mẫm dắt nhau lên tầng để kịp làm lúc năm giờ. Trưa, đúng mười một giờ mới nghỉ. Mười hai giờ ba mươi phút lại làm tới mười một giờ đêm. Công việc rất nặng nhọc. Cuốc đất, đục đá, gánh quặng đổ lên xe goòng đẩy ra sông Hồng, qua phà Làng Giàng để bốc lên tàu hỏa. Khí hậu ở đây mang tính chất lục địa rất rõ rệt. Mùa hè ôn độ tối đa là 40 độ; tháng giêng ôn độ tối thiểu là 20 độ C. Trời rét căm căm hay nóng bỏng thì đêm vẫn ngủ lán trại phong phanh phên nứa hoặc gầm các nhà sàn đồng bào nơi đó.

Tiền ít, gạo hiếm, có người đông con chỉ ăn cháo đi làm; biết cái chết đến rồi vẫn phải khoác bao tải chống lại những cơn sốt rét rừng mà đi. Có người phải đem con đi bán.

Bệnh chấy rận và sâu quảng ở đây rất ghê gớm. Cuộc đời và hạnh phúc thì Tây đã cướp mất. Máu xương thì rận chấy hút thỏa thuê. Đôi chân ống giang thì sâu quảng đục ruỗng. Những ống chân rình rình mủ xanh lè, thấm ra mấy lần giẻ quấn tanh nồng.

Người chết rất nhiều. Chết sốt rét, vì sâu quảng, vì chấy rận, vì đói, vì thổ tả, vì cai, ký đánh...

Nhờ xương máu đó mà thực dân Pháp đã lọc ra được 249.014 tấn quặng trong bảy năm khai thác (1936 - 1942) ở cả ba khu vực mỏ. Cụ thể là:

- Mỏ Cóc đã lấy 58.379 tấn,

- Mỏ Cam Đường lấy 118.000 tấn,

- Mỏ làng Bo lấy 72. 635 tấn.

Sau Pháp là đến Nhật nhảy vào vơ vét. Nhưng ngày 26 tháng 8 năm 1945 đã đảo lộn tất cả. Công nhân Cam Đường cùng nhân dân nơi đó đứng lên cướp chính quyền hưởng ứng Cách Mạng Tháng Tám và tiến hành võ trang tranh đấu khi thực dân Pháp trở lại xâm lược. Ngày 1 tháng 11 năm 1950, Lao Cai giải phóng, những trang sử mới cho khu mỏ đã mở ra.

Đọc đến dòng cuối cùng của tập “Lịch sử khu mỏ Apatít”, tôi ngẩng lên. Đêm đã hết và ngoài song cửa bầu trời xuân đang chuyển từ màu xanh sẫm sang màu men sứ. Trên cành cây và dây điện những hạt sương lung linh như những con mắt vui và chói ngời nắng sớm.

*

*                *

“Ai đưa tôi đến chốn này

Bên kia Cốc Lếu, bên này Lao Cai”...

Lời nức nở của người xưa, bây giờ chỉ còn là kỷ niệm buồn thương của một thời tủi hờn, căm giận vì nước mất.

Bây giờ mời các bạn lên thăm Lao Cai, rồi bon xe khách mười hai ki-lô-mét vào thị xã Cam Đường thăm khu mỏ của đất nước ta rất giàu và đẹp, một trong bốn trung tâm lớn nhất của Apatít thế giới! (Xin báo để các bạn biết tin vui: Khu mỏ đã được thành lập thị xã rồi đó!)

Đồng chí chuyên gia Liên Xô Can-nhi-cốp năm 1956 sang giúp ta thăm dò, khai thác mỏ đã xuýt xoa nói rằng: “Đây là một cô gái đẹp, một hòn ngọc quý nhất, nhì thế giới”. Còn đồng chí Lu-ga-vôi, kỹ sư điện cũng xúc động tâm sự với anh em công nhân: “Bấy lâu thường nghe nói đất nước Việt Nam giàu đẹp, nhưng mới chỉ biết trên sách vở, báo chí. Nay đi bộ từ Yên Bái lên Lao Cai, nhất là có đến khu mỏ Apatít này mới thấy được hết vẻ đẹp và sự giàu có của nước Việt Nam...”

Hai kỹ sư Pháp là Mi-ta và Ka-văng ước tính toàn bộ khu mỏ có 200 triệu tấn quặng có hàm lượng từ ba mươi nhăm phần trăm trở lên. Ngày nay, ta đã thăm dò toàn bộ. Càng thăm dò, ta càng vui mừng thấy đất nước ta vô cùng giàu có!

Ngày 19 tháng 6 năm 1956 mỏ Apatít nổ phát mìn đầu tiên mở đầu giai đoạn khai thác của Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tiếng mìn cứ thế tiếp nhau gọi thanh niên các dân tộc về đây khai mỏ xây dựng nước nhà. Mỏ của ta, ta khai thác cho ta đây! Mọi người náo nức ra đi và làm việc. Chỉ một năm sau, 1957, với số công nhân bằng một phần ba thời Pháp thuộc, ta đã sản xuất được một số quặng xấp xỉ năm cao nhất của Pháp. Sang năm 1958, cũng số công nhân ấy nhưng đã đạt được gấp rưỡi năm trước. Và năm 1959, mới có 6 tháng đầu năm đã đạt bằng cả năm 1958. Cho đến hôm nay đã khác xưa lắm rồi, không thể so sánh được, mặc dù tôi đã hiểu “mọi sự so sánh đều khấp khểnh” (ngạn ngữ phương Tây).

Tôi lại có dịp về thăm mỏ Apatít vào mùa xuân năm nay, Mùa Xuân đại thắng của dân tộc ta(*).

Đặt chân lên những con đường rải đá dài tít tắp và rộng thênh thang, đầu óc tôi thấy sáng sủa lạ và rào rào bao suy nghĩ. Bên đường, thẳng tắp những hàng xà cừ lá xanh mỡ màng và ở ngọn lóe lên cái màu vàng nhàn nhạt của lộc non.

Dương liễu thướt tha bên cái hồ đầy cá. Những chú trắm cỏ nặng hàng yến choi choi lên đớp cỏ mé bờ, lộ những cái đầu to, đen nhánh và tròn như gáo dừa. Rô phi nổi lên tớp tớp xanh cả một góc hồ. Cá quả nuôi con, dũng cảm nhảy lên bờ phơi mình cho kiến vàng bu kín thân rồi lại nhảy xuống cho con no mồi. Thật là thanh bình và trù phú.

Nắng xuân bốc lên mùi chè hương ngòn ngọt. Xung quanh thị xã mỏ là những rừng chè. Chè Cam Đường ngon có tiếng, lúc đầu uống vào thì chan chát, sau vị ngọt cứ lừ mãi ở nơi cổ. Một thứ chè “có hậu” rất lâu. Chủ nhân cũng như chè, đều mến khách và đậm đà thế cả!

Đêm xuân ở đây mịn màng, êm nhẹ như lời mẹ ru. Dưới ánh điện, mây mờ mờ giăng lên khu mỏ một lớp voan trang nhã làm cảnh vật như thực như hư.

Khu công nhân ở bên hồ - trung tâm thị xã - đã lên điện sáng trưng. Đáy hồ in dãy dãy nhà tầng như một thành phố ngầm bọc kính. Bên dãy ghế đá bên hồ, từng tốp nam nữ thanh niên công nhân ngồi kéo đàn và thổi cla-rê-nét. Cạnh đó là câu lạc bộ mỏ đang chiếu phim thời sự.

Trên ngọn đồi cao hơn khu ấy là hàng trăm nhà cao ba, bốn tầng, nhà ở của công nhân và các bộ phận sản xuất. Trong phòng hóa nghiệm, các cô kỹ sư và kỹ thuật viên đang ngồi phân tích quặng dưới mắt kính hiển vi hiện đại mir 8 của Liên Xô. Quặng hiện lên những hạt nhỏ màu xanh lục...

Một cô nói với tôi:

- Anh có biết tại sao người ta gọi quặng này là quặng Apatít không?

Tôi còn đang bối rối, cô đã giải thích:

- Gốc nó là Apapao, tiếng Hy Lạp nghĩa là “nhầm”, vì trước đây người ta dễ nhầm với các mẫu vật khác.

Cô lại hướng dẫn thêm cho tôi về quặng. Apatít phân ra làm hai loại: Flo Apatít và Clo Apatít. Mỏ ta chủ yếu là loại thứ hai.

Các nhà, các dãy phố đều chăng điện màu, rực rỡ như hội hoa đăng. Màu đèn trong đêm lóe thành những vòng tròn ngũ sắc giữa sương mờ. Điện chạy theo đường cái leo tít lên cao để lên tầng. Trên đó đang ầm ì tiếng máy, tiếng người và tiếng ô tô rậm rịch như trong một chiến dịch lớn của pháo binh hoặc công binh cơ giới. Thỉnh thoảng lại một đoàn tàu hỏa tu tu hét còi vào nhà sàng ăn quặng hoặc rộn lên tiếng còi ô tô đưa công nhân đi làm ca ba và trả ca hai về nghỉ.

Âm thanh của khu mỏ xã hội chủ nghĩa rộn ràng và linh hoạt. Tác phong làm việc công nghiệp ở đây đã đi vào nền nếp. Ai nghỉ cứ nghỉ, ai làm cứ làm, ai đi học bổ túc văn hóa cứ đi, rất đúng giờ và nhanh nhẹn. Tôi yêu khu mỏ một phần cũng vì lý do ấy nữa.

Anh bạn tôi kéo tôi sang xưởng cơ khí của mỏ xem một cuộc thi sát hạch chuyển bậc cho công nhân tiện từ bậc hai lên bậc ba. Giám khảo đã ngồi đông đủ cả. Các thí sinh là nam nữ công nhân các dân tộc lần lượt trả lời lý thuyết và thực hành. Một thanh niên Mèo gắp được câu thực hành hóc búa: Lấy một thỏi sắt bổ làm ba, sau chắp lại tiện thành một viên bi thật tròn nhưng có ba phần bằng nhau. Thế mà anh đã hoàn thành trước thời gian quy định bảy phút. Những người dự rất bồi hồi xúc động: Lớp công nhân ngày nay, lớp con cháu của công nhân xưa kia, bây giờ tiến nhanh quá! Họ thực sự là những người chủ của khu mỏ có văn hóa, có khoa học.

Sáng hôm sau, tôi được đánh thức dậy lúc trời còn rạng đông. Xe đưa tôi và công nhân ca một lên tầng là chiếc xe tải mười bánh, cao lênh khênh, tiếng máy nổ ồm ồm như trống cái đại ở đình làng trong những ngày lễ thượng điền.

Mặt trời đã hiện lên trong màn sương sớm, trắng bệch như trăng mọc ban ngày. Các cháu nhỏ ở nhà trẻ vẫy theo xe tiễn cha mẹ đi làm. Đội thiếu niên đã ra nương thu hoạch vội chỗ sắn còn lại để đem đến nhà máy làm miến. Bên đường, những bãi cỏ lau trương cờ lên vẫy mãi không thôi. Hương thơm hoa dẻ lùa vào xe mát rượi và sực nức.

Ngoặt qua một chỗ khuỷu của con đường, tôi giật mình thấy trước mặt, trong đám sa mù, hàng đàn hàng lũ những quả núi đang trượt vùn vụt trên một cái máng đỏ tươi, lao ùn ùn vào xe mình. Đó là những chiếc xe gấu, xe bò tót, loại xe vận tải hạng nặng trọng tải mười tấn đang cõng quặng đầy ăm ắp về nhà sàng. Tới gần chúng tôi, xe nào cũng cất lời chào bằng tiếng còi ngắn gọn nhưng rất vui... Anh lái xe nào mặt mũi cũng hồng hào tươi tỉnh, đồng hồ lấp lánh ở cổ tay, miệng vắt vẻo điếu thuốc lá thơm. Có anh mang cả đài bán dẫn theo vừa lái xe vừa nghe những bài nói về bốn ngàn năm lịch sử và ca nhạc mừng ngày hòa bình của dân tộc.

Trên tầng ít công nhân thôi! Một vài tổ đang khoan thăm dò, vài tổ khoan nổ mìn. Chỉ thấy nhiều máy xúc EKG khổng lồ, máy gạt và ô tô. Công việc ở đây đã được cơ giới hóa cao. Sức người chỉ dùng để điều khiển máy và sửa đường, hoặc bạt ta-luy. Ở đây, âm thanh duy nhất, rất rộn ràng, rất sôi nổi là tiếng máy. Tiếng máy đủ loại: Lanh lảnh như tiếng ve sầu; pằm pằm như tiếng trung liên; lại có cái phành phạch hoặc gầm rít, hoặc vút lên vi vu như sáo diều. Những cô gái Tày, gái Mèo, gái Dao bên cạnh anh thanh niên Kinh, Giáy... ngồi đĩnh đạc lái máy. Ở nơi máy xúc EKG làm việc, dây cáp cuốn cần gàu xúc ấy là bốn tấn quặng. “Bò tót” và “gấu” cũng không chịu nổi ba gàu. Một nhát xúc của nó cho ta không biết bao nhiêu là của. Tại cảng Hải Phòng, một cân Apatít trị giá hai cân gạo. Một ngày đây, mỗi máy xúc không biết cơ man nào là gàu, mà máy xúc ở đây không thể đếm trên đầu ngón tay.

Sau này nhà máy sàng lọc và chế biến quặng của ta lớn lên, ta lọc ra từng loại một. Loại phục vụ nông nghiệp, tức là phân phốt phát đấy! Loại phục vụ quốc phòng, phục vụ công nghiệp hóa chất, phục vụ y tế, mỹ nghệ đồ gốm... Lúc đó ta không bán xô như bây giờ nữa. Thu nhập của ta sẽ tăng lên không biết bao nhiêu lần.

Trên cánh đồng năm tấn, mười tấn, hoặc ba mươi, bốn mươi tấn trên một héc-ta sau này không thể không có sự góp mặt của Apatít. Vì thế các nhà bác học mệnh danh cho nó là “quặng nông nghiệp” (**).

Quặng ta đã vượt biển đi nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, góp phần thắt chặt quan hệ anh em và hợp tác kinh tế.

Với tốc độ khai thác hiện đại như hiện nay, cũng còn phải mấy trăm năm nữa mới hết. Quặng mỏ của ta đã giàu lại lớn. Đúng là một hòn ngọc vô giá!

Mùa xuân đứng trên tầng mỏ cảm thấy như mình lạc vào một thế giới mới. Đẹp như cảnh tiên mà lại không tĩnh lặng chút nào, khắp nơi rộn lên khí thế lao động mới.

Gió xuân từ Sa Pa rủ từng đám mây trắng về đây. Phút chốc tôi đứng trong mây và mây quyện lấy tôi. Xe phải bật đèn màu lên để phá mù mà chạy. Mây vèo qua rồi trời trở lại quang đãng, chan hòa nắng gió. Nhìn về thị xã Lao Cai, đã thấy hiện lên sừng sững ống khói nhà máy điện tám nghìn ki-lô-oát, nơi chi phối mọi hoạt động ở đây. Nhìn về phía nam, cầu sắt Làng Giàng đứng trang nghiêm, soi mình trên dòng sông đỏ thắm và chốc chốc lại đón một tàu quặng vụt qua về Hải Phòng. Có lần tôi thấy một đoàn tàu đi về phía mỏ, trên mình có mấy dòng chữ ghi vội bằng phấn trắng: “Công nhân cảng gửi lời chào công nhân mỏ Apatít!”

Thị xã mỏ nằm trong thung lũng phía tây nam của mỏ. Giữa màu xanh mênh mông của rừng hiện lên một vùng chói lòa ngói đỏ, trắng lóa tường vôi và chan hòa ánh điện. Suối làng Nhớn quanh co ôm lấy thị xã, tưởng như một dòng quặng theo máng tuôn về.

Những tháng năm trên mỏ Apatít này - xưa và nay - khác nhau nhiều quá, kể mãi có bao giờ hết được. Mộng tưởng đớp miếng mồi ngon của bọn thực dân Pháp đã tan vỡ vĩnh viễn. Trong cuộc đánh Mỹ vừa qua, quạ sắt Hoa Kỳ có dò đến vài lần, nhưng đã phải cút thẳng. Chúng không chịu nổi cái kiểu đánh vỗ mặt, gan góc, bình tĩnh và có tri thức của những cây súng thiện xạ ở đây, những cây súng do những lớp cháu con của lớp công nhân xưa cầm chắc.

*

*                *

Có lần tôi về xuôi công tác, một người quen bảo tôi:

- Anh gần mười lăm năm công tác ở Lao Cai rồi, còn tiếc gì nữa mà không xin chuyển?

Tôi biết nói thế nào với người đã đưa ra lời nói đó hiểu được lòng tôi. Trên các tỉnh ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa tôi đã qua, nơi nào cũng đẹp, nơi nào cũng quý, nhưng cái tỉnh Lao Cai, nơi địa đầu của Tổ quốc ta hấp dẫn tôi lạ thường, cho tôi bao suy nghĩ đa dạng, cho tôi sáng mắt sáng lòng và niềm biết ơn bao la rộng lớn. Hôm nay đứng trên tầng cao nhìn về thị xã mỏ điện sáng ngời ngời tôi lại hình dung ra ngọn lửa xanh leo lét trong tay cụ Trần Văn Nỏ, rồi ngọn lửa xanh ấy lọt vào tay chủ nghĩa thực dân Pháp đã thiêu cháy biết bao nhiêu cuộc đời; đã đốt ra tro biết bao gia đình nông dân nghèo khó, lương thiện; đã nung biết bao kiếp người chảy thành nước mắt; đã hun cho mặt đất bằng phẳng kia nhô lên, cứng lại thành những nấm mồ!... Chỉ từ khi chúng ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, vùng lên nắm lấy chính quyền, làm chủ cuộc đời mình, tống cổ bọn hùm sói ra biển thì ngọn lửa xanh ấy đã bùng lên, hòa mình thành ngàn ngàn bóng điện soi sáng cho cuộc đời, cho hạnh phúc của chúng ta.

Từ đó, chúng ta thực sự làm người tự do của một nước độc lập. Giữa những ngày xuân của hòa bình sau bao nhiêu năm đánh Mỹ thắng lợi, tôi đứng trên tầng cao lộng nắng gió và chan hòa điện sáng lại càng thấy mình phải làm gì nữa; làm gì thêm nữa như bóng điện kia, góp với dòng điện một ngọn điện, góp với tươi sáng hôm nay một sự tốt lành. Thế đấy! Tôi sẽ ở đâu ư? ở nơi tôi được đóng góp sức mình nhiều nhất để xây dựng nước nhà xã hội chủ nghĩa. Đêm đêm, ngọn lửa xanh kia, dòng điện ngời ngời tỏa sáng ấy cứ bám riết lấy tôi, thúc giục tôi làm việc không ngừng và lúc nào cũng cảm thấy thời gian, ôi chao, sao mà ngắn thế!

 Lào Cai, mùa xuân 1973(**)

 

KHU RỪNG CHIM CÔNG

 

Mùa hè năm nay Sần Củi lại đi coi thảo quả trong khu rừng Chim Công. Năm nào cũng phải cử người đi coi, vì nó mang lại một nguồn lợi rất lớn cho hợp tác xã, hàng vạn đồng mỗi năm.

Không phải là đi coi chim công, nó chỉ ăn vài bông hoa thôi, mà coi cái anh lợn rừng. Chúng vào rừng thảo quả để tránh nắng. Ở đấy ẩm ướt lắm, và ăn quả non, cây non; không những thế mà còn đằm bùn, cọ mình quần nát hàng đám cây lớn để thỏa cái tính hung hãn, man rợ.

Thảo quả là một đặc sản quý của vùng cao này. Quả nó dùng làm thuốc, đồ gia vị và cất dầu hương liệu.

Sần Củi vừa đi vừa thổi khèn bè vang cả rừng. Tiếng khèn chạy lùng quanh thung lũng, lần theo các sườn núi rồi về chỗ người thổi như luyến tiếc không muốn rời. Tiếng khèn nhởn nhơ như con bê non vờn quanh mẹ trên bãi cỏ non.

Đây không phải là lần đầu tiên Sần Củi đi. Mỗi năm nghỉ học thì đi coi ba tháng hè. Hợp tác xã yêu cầu các em học sinh giúp để bà con làm việc khác. Năm kia hợp tác xã yêu cầu Sần Củi và A Cở - hai học sinh của trường bổ túc công nông tỉnh đi coi. Hai cậu chần chừ không muốn đi.

- Thầy giáo bảo tôi về giúp gia đình và ôn bài chứ!

- Hết hè, về trường không thuộc bài, ai chịu phạt cho tôi?

Bác chủ nhiệm hợp tác xã hiền từ, vuốt chòm râu phơ phất cười hà hà và khoát tay:

- Các cháu ơi! Hợp tác xã là nhà. Hợp tác giàu thì gia đình no ấm. Giúp hợp tác là giúp cho chính mình đấy. Lên rừng các cháu nằm mà ôn bài, thỉnh thoảng đi tuần một vòng, gặp lợn thì các cháu bắn đuổi; gặp chim công múa thì các cháu xem!

A Cở thở dài:

- Nhưng mà buồn lắm! Xa nhà tám, chín tháng, nay chỉ thích ở nhà chơi đánh quay với các em và đi địu nước, thồ củi cho mẹ thôi!

- Ồ, không lo, cháu à! Các cháu đi xa, cha mẹ các cháu vẫn làm được việc đó cơ mà. Hơn nữa các cháu đi coi, bác còn chi công điểm cho các cháu nữa!

- Bác cho mấy điểm?

- Năm điểm một ngày!

- Ít quá! - A Cở kêu lên. - Ở trường một bài học cháu còn được mười điểm cơ!

- Cháu ơi, cái đầu cháu còn hẹp như cái giường cưới của người Mèo(*) ta, chưa rộng như rừng, chưa dài như suối đâu! Sao lại so hai điểm đó với nhau được!

Bàn mãi, cuối cùng hai cậu đi coi, đến nay đã được hai, ba vụ và đã thành nghiện. Nhưng năm nay A Cở ốm, chỉ còn Sần Củi đi.

Chẳng mấy chốc đã đến khu rừng Chim Công. Đây là khu rừng nằm trong thung lũng dãy Ngũ Chỉ Sơn. Năm tháp núi đứng sắp hàng như một quả phật thủ bày trên mâm ngũ quả. Màu đá núi xanh sẫm ẩm ướt. Mùa đông, mây bọc lấy núi không lúc nào ngơi. Mùa hè đến, Ngũ Chỉ Sơn cựa mình, mây mù đứt chân bay bổng lên cao, núi lộ mình ra hong nắng. Chuối rừng lắc lư ca hát với cái môi hoa đỏ thắm. Thảo quả tung lá lên vờn mãi không thôi.

Chung quanh rừng núi đá bao bọc, chỉ có một con đường hẻm đi vào và phải vượt qua một cái quèn tương đối cao. Đất trong rừng bằng phẳng, ẩm thấp. Lá khô và mùn phủ dày hàng thước, chân người bước lên là lún và một thứ nước đen đen đặc quánh xèo xèo sủi lên.

Trước kia đây là rừng thảo quả tự nhiên. Nay được hợp tác xã chăm nom và trồng ra khắp cả thung lũng.

Mùa hè đến là thảo quả ra hoa, tỏa mùi thơm cay nồng. Như say mùi hoa thơm, chim công đàn đàn lũ lũ từ trên các triền núi cao, các thung lũng xung quanh kéo về đây để nhảy múa và ăn hoa thảo quả. Có lẽ vì vậy mà dân bản đây gọi khu rừng ấy là khu rừng Chim Công.

Chim công đi với nhau từng đôi một. Sau khi chọn một miếng đất bằng phẳng và quang cây ở giữa rừng thảo quả là chúng rủ nhau năm, sáu đôi nhảy múa.

Những con công trống có bộ lông sặc sỡ sắc màu tím, lam, chàm, đỏ... và ở ngực lấm tấm những điểm vàng múa lượn quanh các con mái. Nó xoè cánh ra, vươn cổ dài về phía trước, rồi từ từ uốn cong lại, ngả xuống phía sau, chân nhún nha nhún nhảy làm duyên. Cái đuôi thì lúc nào cũng xoè ra và giương lên như một cánh buồm với đủ sắc màu đẹp nhất, đậm nhất. Có lúc cái đuôi vẫy lên, vẫy xuống cho những cái lông dài nhất thướt tha uốn sóng vồng vồng phơi cái mặt nguyệt long lanh luôn biến màu dưới nắng. Đỉnh đầu nó có một cái mào nhô lên cao cao. Giữa mào cũng điểm cái mặt nguyệt thần kỳ, giống như viên kim cương dát mỏng nạm vào và hướng về phía trước như cái lá đề ở mũ các quan võ thời xưa, tôn thêm cái đẹp bệ vệ, trang trọng.

Sau khi múa xong một bài, nó nghiêng nghiêng cái đầu nhún chân chạy và kêu lên riu riu. Con mái mớm cho nó một bông hoa thảo quả thơm lừng. Nó vội vàng tớp lấy và mắt lim dim lặng người đi. Ai muốn bắt chim công về nuôi là người ta bắt lúc này, chỉ việc chạy lại vồ, vì nó có thể đứng lặng hàng giờ.

Nhìn con công lúc này người ta dễ nhầm hoặc hoang mang giữa hư và thực tưởng nhu nó không phải một động vật, mà là một tác phẩm nghệ thuật do một nghệ sĩ thiên tài tưởng tượng ra để làm thần tượng về sự đẹp của loài chim.

Những ngày đi xa, Sần Củi cứ mang mãi trong lòng kỷ niệm êm đẹp và sâu sắc đó của quê hương. Quê hương ơi! Quê hương là từ những cái rất cụ thể như thế. Không lăn lộn vào thực tế của địa phương thì Sần Củi sao hiểu được quê mình! Thảo quả và chim công, những tiếng rất đơn giản mà, dà ôi, biết bao âu yếm, trìu mến và thân thiết.

Từ đó Sần Củi trở nên say mê, hễ hè về là xin đi coi thảo quả. Bao nhiêu lần Sần Củi ngồi trên lều coi nương xem chim công múa. Xem mãi mà không biết chán. Mỗi con múa mỗi kiểu. Mỗi lúc múa mỗi bài khác nhau. Xem chim công múa là nỗi buồn phiền, ưu tư trong lòng tan biến.

Con chim công, con chim của niềm vui ấy đang sinh sôi nảy nở đem lại nguồn vui cho mọi người. Dân bản ở đây, những người lương thiện không ai nỡ bắt chim công để ăn thịt. Ai cũng trân trọng, thương yêu.

Mùa hè năm xưa Sần Củi nấp trong một khóm thảo quả và chộp được một chú công trống to sụ để làm quà cho bố về phép thăm nhà. Bố Sần Củi đi bộ đội đã hơn mười năm, ít về thăm nhà lắm, thời chiến về càng ít nữa. Bố Sần Củi ở đơn vị pháo binh bảo vệ thủ đô, nhân tiện đi công tác qua nhà ghé thăm chứ cũng chẳng phải là phép. Con chim công nằm trên tay bố ngoan ngoãn và thơ ngây, hai mắt long lanh nhấp nhánh như cười.

Sần Củi hỏi bố:

- Các chú bộ đội ở với bố có thích chim công không, bố à?

- Có chứ!

- Vậy bố mang con chim công đi nuôi cho các chú bộ đội vui để đánh được nhiều Mỹ nhé!

Sần Củi nói mãi, nói mãi, bố mới mang chim công đi và đến nay nó đã sống với đơn vị bộ đội hai năm. Con chim hạnh phúc quá! Con chim đã được về thủ đô, còn Sần Củi thì chờ mãi mà chưa có dịp. Bố thì cứ an ủi:

- Trước mắt con học tốt đã! Đánh Mỹ xong, bố sẽ đưa con đi thăm thủ đô và học ở đó, nếu như con học giỏi!

Bao giờ đánh Mỹ xong nhỉ? Cái thằng Mỹ ác quá làm cách quãng cả niềm vui. Nhiều đêm Sần Củi trằn trọc suy nghĩ: Đánh Mỹ xong hoàn toàn, mình sẽ về quê mang chim công đi khắp nơi trong nước để đem lại niềm vui và sự đẹp cho mọi người.

*

*                *

Sần Củi bước vào lều coi thảo quả. Mái lều mới lợp năm ngoái mà năm nay đã mòn vẹt cả. Những tấm tranh mục, mòn trơ xương như cái chổi trúc. Sàn lều đã ọp ẹp lắm. Ngày mai phải làm lại.

Sần Củi dựa súng hỏa mai vào vách lều, treo nắm cơm lên cao rồi xách súng đi thảo một lượt vòng quanh rừng xem đã có dấu chân lợn rừng về chưa. Vừa đi được mấy bước, tự nhiên thấy chim công bay nháo nhác và kêu thất thanh, mỗi con bay mỗi nơi tán loạn. Chim công ở đây dạn người. Hôm nay sao khác vậy? Hẳn có điều không lành! Những năm xưa hai bố con Sần Củi thường vào rừng săn, bố thường dạy cho Sần Củi thói quen nhận xét nhanh và chính xác về sự thay đổi hoặc sự việc xảy ra trong rừng, dù là một việc nhỏ, một mẩu đất mới, một dấu chân in không rõ, một lá cây mới gẫy...

Sần Củi vừa đi vừa suy nghĩ và để ý xem xét chung quanh. Đến chỗ chim công hay múa mọi khi, thấy lông nó vung vãi ra một đám đất lớn. Đúng rồi! Có con vật nào đó bắt chim ăn thịt! Nếu là người thì chắc chắn là kẻ gian. Hèn nào thấy người là chim công sợ bay táo tác. Cầm những cái lông đuôi lên, từng cái mặt nguyệt sáng lên lung linh, tưởng như từ đấy đang phát ra những quầng sáng màu cầu vồng, thấy xót xa đứt ruột.

Đi thêm một đoạn nữa đến khoảnh đất mềm, thấy ngay những vết chân thú in chi chít. Vết này chắc là chân cầy giông hoặc cầy vòi. Nhìn kỹ, thấy có thêm rất nhiều hình lá cây in trên đất. Quái lạ, sao lá cây lại in trên đất mềm nhiều và đều đặn đến thế? Thôi được, dù sao kẻ thù của chim công cũng phải bị tiêu diệt. Dứt khoát là như thế, cái lũ tàn bạo này!

Đêm xuống nhanh như một dòng nước lũ. Mùa hè ở vùng cao, nhất là trong các thung lũng đêm xuống thường nhanh như vậy. Sương mù uể oải sau một ngày rong chơi, giờ cứ ùa nhau xuống thung lũng, đậu lên tàn cây mà ngủ. Cả khu rừng tối sầm lại, rồi tất cả xung quanh chỉ còn màu trắng đục của sương mù nặng hạt.

Lẽ ra có thể về sớm hơn, nhưng Sần Củi còn mải làm cái bẫy để gài súng diệt kẻ thù cho chim công

Qua đỉnh quèn, nhìn về bản Hmông yêu quý đã thấy nhà nhà lên đèn. Ánh đèn ở xa nhấp nháy trong đêm như một giọt thủy ngân lăn dưới nắng. Nơi ấy cả hợp tác xã đang sống đầm ấm, yên vui đợi chờ một mùa thu hoạch tốt lành. Nơi ấy mẹ và các em đang nóng lòng chờ Sần Củi về ăn cơm.

Sần Củi rất thương mẹ. Mẹ còn phải vất vả nhiều để nuôi các em nhỏ đi học. Có Sần Củi là lớn thì lại đi học xa miết. Năm nay hết lớp bảy; ba năm nữa hết lớp mười. Úi chà chà! Lâu quá!

Càng bước nhanh, Sần Củi càng thấy người rạo rực hẳn lên. Khuôn mặt đẹp đẽ nóng ran ran trong đêm vì xúc động. Đôi mắt đen và nhanh vẫn tỉnh táo rõi đường đi và nhìn thấu vào đêm. Một vài con dơi ăn đêm bay phật đi phật lại kêu chen chét ngộ nghĩnh.

Có lẽ do hoa mắt chăng. Sần Củi đứng lại dụi mắt vài lần, lúc nãy đúng có người đi loáng phía trước, rồi nép vào bìa rừng lủi lên phía núi. Đứng định thần và ngẫm nghĩ một chút, tay nắm chắc dao nhọn, tai nghe ngóng, tất cả vẫn im lìm và chỉ có tiếng dơi ăn đêm hốt hoảng. Sần Củi hỏi thật to:

- Ai đấy? Có phải người đi săn không?

Vẫn im lặng. Sần Củi cho là mình hoa mắt, nên lại vui vẻ cho dao vào bao, miệng huýt sáo trở về bản.

Thấy con về, bà mẹ đang ngồi bên chảo cám lợn sôi sình sịch vội mỉm cười đứng lên với tay gác bếp:

- Hình như có thư của bố mày gửi về. Đọc đi, xem thư nói gì!

Bên ánh lửa nhảy nhót trong bếp lò, Sần Củi bóc thư ra đọc và nhớ nhất đoạn nói về chim công: “Bố gửi thư cho gia đình và Sần Củi đây! Bố vẫn khỏe, đơn vị vẫn ở chỗ cũ. Con chim công sáng nào cũng múa. Các chú bộ đội rất vui. Sáng hôm qua bọn Mỹ đánh vào trận địa giữa lúc nó đang múa. Bom gầm đạn réo cũng không làm nó sợ. Vẫn múa, vẫn ngẩng cao cái đầu sặc sỡ sắc màu theo cánh tay người chỉ huy bắn. Ôi chà, nó dũng cảm quá! Cũng chiến đấu như một người chiến sĩ đấy chứ, có phải riêng đâu cái việc đem lại niềm vui, đem lại cái đẹp! Nhưng sau đó một viên bom bi đã làm nó bị thương vào cánh, nhẹ thôi, chú y tá đã chữa cho nó rồi và nó vẫn không hề nghỉ múa, vẫn phục vụ mọi người đều đặn và tận tụy...”

Ái dà! - Sần Củi kêu lên. - Thằng Mỹ cũng ác như con cầy giông, cầy vòi rồi, ăn thịt và giết hại cả chim công!

- Gì ác như cầy giông, cầy vòi đấy? - Có tiếng hỏi từ phía ngoài vọng vào.

Sần Củi đi ra, gặp anh xã đội và bác chủ nhiệm hợp tác đi họp tạt qua vào chơi và hỏi ngay:

- Có phải lúc nãy anh đi trên núi không?

- Không!

- Không biết có phải lúc nãy em hoa mắt hay không, hình như có bóng người đi trước em và lủi vào rừng!

Bác chủ nhiệm chăm chú nghe rồi quay sang anh xã đội:

- Phải cẩn thận với bọn buôn lậu và bọn biệt kích, xã ta gần biên giới lắm!

- À mà em thấy chim công bị giết nhiều lắm, lông vung vãi cả một khoảng. Nhìn kỹ, có cả dấu chân cầy giông, lạ nhất là có nhiều hình lá cây in trên đất!

- Lá cây à? Chắc có chuyện! Để tôi nhắc tổ tuần tra và trực chiến đề phòng. Phải xem lại dấu lá in trên đất đó!

- À này, anh nói với các anh trên đó là trong rừng thảo quả em gài súng rồi, đừng lên!

Sáng hôm sau, trời chưa sáng rõ, Sần Củi đã nắm cơm lên đường và lại mang chiếc khèn bè đi thổi cho vui. A Cở thì vẫn còn ốm.

Vào tới lều, trời vẫn còn nặng sương mù. Một con chim đa đa khắc khoải gáy ngoài xa.

Một lúc sau, sương mù chen nhau bay đi chơi. Rừng cây nhanh chóng hiện ra trong nắng sớm.

Sần Củi vào thẳng chỗ gài súng đêm qua, lòng bồi hồi. Có lẽ súng chưa nổ, cái dây kéo cò vẫn còn căng. Chợt nhớ ra, Sần Củi à lên vui vẻ: Đúng rồi, chim công có đi ăn đêm đâu mà nó ra. Thế thì được, ta cứ ngồi trên lều chờ. Mày bắt chim công là mày chết!

Một vài đôi chim công đã bay chuyền cành đến gần bãi múa. Gió hiu hiu thổi. Những cái đuôi chim công vờn lên như một dải lụa hoa. Uớm đi ướm lại nhiều lần rồi từng con sà xuống bãi múa. Những cái chân đen bóng như sừng cùng những cái mỏ đỏ như son lắc lư đánh nhịp. Chim bắt đầu múa. Nếu không phải nằm im mai phục thì có lẽ Sần Củi đã đứng lên giậm chân múa theo.

Bỗng có cái gì lành lạnh dí vào lưng. Sần Củi quay lại. Một người mặc quần áo đen, đi giày vải, nét mặt dữ tợn, mắt trừng trừng nhìn vào Sần Củi và khẩu súng ngắn của nó đã tì sát vào sườn làm Sần Củi không cựa vào đâu được. Một giọng nặng trịch khẽ gầm lên:

- Im! Kêu tao bắn chết!

Sần Củi tái người đi và hiểu ra tất cả. Nhưng rất nhanh trí, vờ ngạc nhiên reo lên:

- Ơ chú địa chất! Cháu đi coi thảo quả đây mà! Cháu có cơm đây, chú có đói cứ ăn!

- Đúng rồi! Chú là địa chất có việc khẩn. Cháu chỉ đường cho chú qua biên giới, chú sẽ cho cháu tiền!

- Thế sao chú lại dí súng vào cháu?

- À, đùa tí thôi, chú sợ cháu không giúp chú!

- Ai mà cháu chả giúp, cốt là chú cho cháu tiền!

- Có chứ! Mà còn thưởng to nữa!

Tên biệt kích cho súng vào túi và nhồm nhoàm ngốn sạch nắm cơm trong nháy mắt. Chắc hắn đói lắm! Sần Củi nhìn vào đế giày đặt nghiêng của nó thấy có khắc rất nhiều hình lá cây. À, chính thằng này mấy hôm nay đói quá mà bắt chim công ăn thịt rồi. Thế thì mày phải chết thôi, con cầy giông, cầy vòi này ạ! Ta phải nghĩ cách thôi!

- Có hai con đường đi sang biên giới, chú ạ! Một là đường qua bản rồi đi ngược lên; Hai là qua vách đá kia rồi đi lên. Đường này tuy ngắn nhưng rất khó đi! - Sần Củi muốn chỉ cho hắn đi vào chỗ gài súng. - Chú chọn đường nào?

- Qua vách núi kia à? Mày nói láo! Tao tìm mấy hôm liền có thấy đâu! - Tên biệt kích giở giọng.

- Không biết thì không tìm ra chứ sao. Biết thì dễ
thôi mà!

- Thế thì mày phải dẫn tao đi! Nghe không?

Sần Củi lo quá. Hướng đó làm gì có lối. Cứ tưởng là bảo thế cho nó đi vào chỗ gài súng. Không ngờ nó khôn thật! Phen này thì một sống, hai chết với mày đây! Được rồi, tao sẵn sàng. Nếu mày có bắn tao thì dân quân và làng xóm nghe thấy tiếng súng lạ, sẽ bủa vây và mày nhất định chết! Quê tao dễ với mọi người, nhưng rất khắt khe với bọn mày đó, cầy giông ơi!

- Được thôi! Chú đưa tiền trước đi! Nhiều nhiều nhá!

- Đến biên giới tao đưa!

Sần Củi đi thẳng vào chỗ chim công hay múa. Trong lòng thấy lo lo và run run, nhất là khi thấy cái dây gài súng thẳng căng hiện ra trước mắt. Sần Củi vẫn tươi cười và kể chuyện liến thoắng:

- Chú xem, quê cháu có đẹp không kìa! Chim công đậu hàng đàn trên cây cao. Ôi chà, đẹp quá!

Sần Củi chỉ tay lên cây, nhưng mắt lại nhìn xuống dây gài súng và nhón chân bước cao vọt qua. Thằng biệt kích không thể không nhìn theo tay chỉ, mắt hếch ngược, chân bước bình thường.

Tiếng nổ vừa tung ra rất to và gọn. Khói mù mịt là Sần Củi lao vụt đi không kịp ngoái cổ lại. Cậu ta chạy thục mạng, mặc cho dây chằng, gai vướng, ngã rồi lại vùng lên vun vút như tên bắn hướng về bản.

Khi các anh công an vũ trang và dân quân băng bó cho nó xong, nó khai: Cả toán nó đã bị bắt, mình nó thoát về đây đã ba ngày để tìm đường qua biên giới. Mấy ngày nay nó đói, phải ăn củ rừng và thịt chim công. Giờ nó vẫn kêu khát, kêu đói và kêu đau. Trên đường về bản, nó còn nói sĩ diện:

- Thế là tôi đã hoàn toàn thua các ông! Tôi không ngờ nơi hẻo lánh, nơi chỉ có cây rừng âm u và chim công lại có những thằng bé thông minh đến thế!

Anh công an nghiêm nghị bảo nó:

- Bình thường thế mà cũng không hiểu nổi à? Khu rừng thảo quả này, những con chim công xinh đẹp kia đã đem lại cho con người biết bao lợi ích, biết bao niềm vui tốt lành, thì ở đó, những con người bảo vệ nó, dù lớn hay nhỏ bao giờ cũng dũng cảm và thông minh. Dù phải hy sinh, họ cũng không ngần ngại chống lại tàn bạo! Anh đã thua, và cả bè lũ của anh cũng sẽ thua. Dứt khoát như một định mệnh đấy, rồi anh xem!

Từ đấy nó nằm im trên cáng, không dám leo lẻo cái mồm nữa. Mặt mày tái xám và nhăn nhó. Thỉnh thoảng liếc nhìn trộm Sần Củi, mặt nó lại giần giật vừa như sợ, vừa như khâm phục.

Sần Củi chỉ tay vào mặt nó và bảo:

- Thế nào, tưởng tao hám tiền à? Phúc cho mày là tao gài súng thấp đấy. Cao một chút thì mày lòi ruột rồi!

Mặt trời lên cao. Nắng rực rỡ trên các triền núi và nhảy nhót trên lá cây. Chim công lại tụ tập nhau nhảy múa. Bình yên đã trở về với khu rừng Chim Công. Nơi ấy sẽ cất cánh bay lên biết bao nhiêu niềm vui, bao nụ cười lạc quan cho bây giờ và cho mãi mai sau.

Chiều nay phải viết thư trả lời và báo tin cho bố. Sần Củi nghĩ thế. Zồ! Sẽ phải kể dài lắm đây. Bao nhiêu ý nghĩ lộn xộn lung tung cả lên. Sẽ viết hết tất cả, lộn xộn cũng được. Câu kết của bức thư nhất định phải viết là “Bố ơi con đã lớn rồi mà thư nào bố cũng coi con như còn bé lắm ấy. Việc nhỏ có khi làm nên kết quả lớn đấy bố à. Cùng với bố, với làng bản, con cũng đã góp sức mình bảo vệ quê hương, bảo vệ niềm vui và cái đẹp cho mọi người...”

A Cở còn ốm, nghe tin, cũng vùng dậy khỏi giường, chạy ra đầu bản đón mọi người. Cậu ta nắm lấy tay Sần Củi lắc lắc giao hẹn:

- Mai không khỏi, mình cũng cố đi coi thảo quả với cậu, thật đấy!

 

Sông Chảy 1969 - Thị xã 1974(*)

 

THÁP CẦU BÊN SÔNG

 

Ông Giàng A Tăng dẫn đầu một nhóm dân công của bản Hmông Nà Tọ Thượng xuống công trường xây dựng cầu, một công trình trọng điểm của tỉnh. Ông già đẹp như một vị tướng trong truyện cổ, người cao lớn phương phi, trán rộng, mũi thẳng, mắt sáng, da dẻ hồng hào, râu dài và đen nhánh. Con ngựa ô ông cưỡi mình rất trường, bốn chân thon, cao, chạy nước kiệu êm, giá như cầm bát nước trên tay cũng khó mà sánh ra.

Đi qua các lán, ông đều dừng ngựa, ngó vào, hỏi:

- Này, công nhân! Có thấy của mình con trai Giàng Từ Quán đâu không?

- Quán nào, cụ?

- Quán bộ đội, chuyển sang làm cầu ở đây mà!

- À biết biết! Cụ đến chỗ lắm sắt thép kia kìa!

Đội cầu của tỉnh đang bắt tay vào thi công chiếc cầu treo do trung ương thiết kế. Trên bãi đất bằng phẳng của bờ sông Lung Sa, công trường đang trải ra những máy móc, vật liệu... Nghĩa là tất cả những gì dùng để tạo nên chiếc cầu vút qua con sông hiểm trở và sâu thẳm như một vết nứt của đất.

Người từ các nơi đổ về công trường cuồn cuộn như suối lũ. Vào những buổi nắng hểnh, đủ các loại quần áo phơi trên dây thép và sào nứa. Xoè như bướm hoa là váy Hmông. Sẫm màu chàm, thêu thùa kỹ lưỡng như quần áo văn công là trang phục của chị em Dao đỏ. Xen kẽ vào đó là những bộ âu phục ka-ki, pô-pơ-lin hoặc quân phục bạc màu.

Nhiều dãy lán mọc nhanh như một điều cấp báo để cho công nhân ở và làm việc. Có những dãy làm vội, trịt xuống đất như cái dấu ớ (Ù) để cho bà con đi dân công ở tạm vài tuần. Bà con các dân tộc vùng cao, từ lâu khát khao có một chiếc cầu vượt qua con sông hiểm trở này, nên xung phong đi góp công đông như trẩy hội.

Thu - đông, con sông Lung Sa rất hiền lành, nước chảy liu riu như buồn ngủ. Nhưng cuối xuân, khi có mưa nguồn, con sông bật dậy như giãy nảy. Lũ về nhanh và mạnh đến ngỡ ngàng. Lúc đó lao rầm cầu khó khăn lắm. Nỗi lo toan ấy cứ xoắn xuýt trong giấc ngủ của mọi người, nhất là các đồng chí có trách nhiệm. Quán là tổ trưởng tổ sắt, anh biết điều đó, nên rất chăm chỉ, cần mẫn uốn thật nhanh cốt thép để đổ bê-tông phục vụ công trình. Ai cũng muốn nhanh tay cướp lấy thời gian.

Quán là bộ đội công binh chuyển sang, anh làm việc đã nghiêm túc, lại rất khẩn trương. Nhiều thanh niên cứ ước mơ được như anh. Thừa hưởng vóc dáng của người cha, lại giỏi võ, Quán trông đẹp trai lắm. Làm việc nhanh như đùa, đã thế, thổi khèn khéo như miệng con chim khướu. Cứ nhìn anh đang làm việc trong tổ sắt kia thì rõ. Tay, chân, vai, lưng, bụng nổi múi cuồn cuộn như bạnh chè vè của cây dẻ đã cao tuổi mỗi khi anh uốn những thanh thép khá to. Với sức lực ấy, anh uốn thép nhẹ nhàng như ta uốn song, mây trong bếp lửa. Thỉnh thoảng anh lại phật cánh tay vào không khí làm vang lên những tiếng vù vù như cánh cung bật. Tính Quán sôi nổi và hồn nhiên. Anh vừa làm, vừa kể chuyện chiến đấu cho anh em trong tổ nghe. Cô Phàng, tổ viên, người Hmông hoa rất thích chuyện và thỉnh thoảng lại hỏi tiếp lúc anh đang kể:

- Cái ca-nô ấy sau rồi ra sao nữa?

- Tôi hàn lại và dùng như thường!

- Anh biết hàn à?

- Có tí chút thôi!

Quán đang kể lại những trận chiến đấu của đơn vị anh trên dòng sông Nhật Lệ. Hồi chiến tranh Giôn-xơn, chúng thả xuống bến phà này khá nhiều bom từ trường. Đơn vị anh quyết tâm khai thông bến phà, đưa xe vào chiến trường. Quán tự nguyện xin lái ca-nô phóng thật nhanh để rà phá bom. Chiếc ca-nô nhỏ như thoi, lướt trên mặt nước, bom nổ dựng những cột nước cao vút. Nhiều lúc ca-nô chổng phộc lên như định chui tọt xuống đáy sông...

Mỗi lần Quán dừng kể, cô Phàng lại giục:

- Kể nữa đi anh!

- Để hôm khác nhé! Hôm nay cô Phàng tự xem lấy bản vẽ và uốn cốt thép cho những tấm bê-tông lát mặt cầu, chú ý thanh vai bò, nó phải chịu nhiều lực nhất!

- Được rồi! - Phàng trả lời vui vẻ và đi làm ngay công việc Quán giao.

Quán lại dặn tiếp:

- Nhớ cạo sạch gỉ ở những thanh thép nhé!

- Biết rồi, sao anh dặn nhiều lần thế!

Cả bản Nà Tọ Thượng ai cũng thừa nhận Quán là một người tài trí, và bây giờ, sau mười năm đi bộ đội lại học thêm được cái tính cẩn thận. Anh thường dặn các tổ viên: “Dao sắc chưa đủ khỏe, phải cái nắm vững, cái chỗ kê tốt mới được. Việc nhỏ làm tốt thì việc lớn mới thành, cái gì cũng cẩn thận đã!” A Mỷ, vợ anh hồi còn tìm hiểu nhau, rất yêu anh cũng là do cảm cái trí thông minh của anh. Hồi ấy anh chưa đi bộ đội, còn ở nhà phụ trách thanh niên bản. Chi bộ giao cho chi đoàn đi tìm nguồn nước cho dân dùng và để chống hạn. Chẳng ai lạ gì nước ở vùng cao, tìm nó khó hơn cả tìm măng trái mùa. Biết bao nhiêu già làng phải ngán ngẩm, lắc đầu xua tay như gặp củ mài ăn vào giữa tảng đá. Ấy thế mà Quán tìm được, mới lạ chứ! Anh để ra mấy buổi sáng, dậy từ lúc gà rừng chưa gáy sáng tiếng đầu tiên để xem các khe đồi, khe núi. Mấy ngày sau, anh cắm que chỉ chỗ đào. Chả khác gì một bàn tay tiên, đào đâu, được đấy. Ba cái giếng nước mạch trong thực trong, lúc nào nước cũng đùn lên sui sủi như sôi. Bản vui như có hội hàng mấy tháng liền. Dân bản Nà Tọ Hạ cũng sang thồ nước về dùng. Các cụ già bên ấy bảo con cháu: “Thế nào, gà người gáy, gà mình cũng phải cất tiếng lên chứ!”. Thanh niên liền họp và cử A Mỷ sang mời Quán giúp đỡ. A Mỷ cứ lo ngay ngáy, sợ Quán làm cao, hoặc giữ “bí quyết nhà nghề” không chỉ bảo cho.

Ngồi nghe đầu đuôi câu chuyện, Quán cười và bảo:

- Đúng là tôi không sang được rồi. Hôm nay phải đi họp bàn về công tác trị an ở trên huyện. Tìm giếng không khó đâu. Hồi tôi đi học, thầy giáo dạy thôi!

- Nhưng chúng tôi đã được học đâu!

- Thế này nhé! Cứ sáng sớm ra xem đồi núi, chỗ nào có sương mù bay là là tức là hơi nước nó bốc lên đấy! Muốn cẩn thận thì đào xuống đấy một cái hố con con, đem bát úp xuống. Hôm sau ra lật bát lên mà có giọt nước đọng là đúng phía dưới có mạch nước ngầm. Cứ đào là ra nước thôi!

A Mỷ về làm, quả đúng vậy. Và từ đấy, đêm đêm trên đường nối hai bản có tiếng đàn môi hòa nhịp, quyện vào nhau thổ lộ khúc tâm tình. Sau đó họ cưới nhau. Khi đứa con trai đầu lòng ra đời thì Quán lên đường nhập ngũ.

- Quán ơi! Mày điếc cái tai à?

Mải làm việc và suy nghĩ, Quán chẳng nghe thấy tiếng bố gọi. Đến khi ông cụ gắt lên, anh mới giật mình quay ra và reo to:

- Tù chi (cái gì thế), bố?

- Này! Liệu mà về giải quyết việc nhà, vợ mày nó muốn bỏ mày đấy!

- Thật không, bố?

- Mày hãy liệu lấy, cái nợ của cha mẹ với con cái tao đã lo xong, mày không giữ tốt thì phải chịu... Thôi, tao đến nhận việc với công trường đã!

Câu nói của bố làm cho Quán bồn chồn và phân vân. Người Hmông quê anh có câu cửa miệng: “Bố mẹ nợ con trai một nàng dâu. Con trai nợ bố mẹ một con trâu”. Câu nói có từ bao giờ chẳng ai nhớ nữa. Có một điều cho tới nay bà con vẫn tâm niệm cho đó là một “đạo lý” quan trọng vào bậc nhất, không theo là trái với “đạo trời”, mà bổn phận làm con, làm cha mẹ đều phải trả. Ngoài ra còn biết bao tập tục khác ăn sâu vào đầu óc, vào tập quán, tư duy, tín ngưỡng và trở thành đạo lý hoặc thói quen đạo đức... Nó trói buộc con người, rũ bỏ nó để đi theo cái mới không thể giải quyết trong chốc lát được. Chính A Mỷ và ông bố cũng nằm trong vòng luẩn quẩn đó.

Hồi anh về nghỉ phép để chuyển ngành, bố anh rất tần ngần và băn khoăn nhưng không nói ra. Nhưng hôm anh gần đi thì A Mỷ nói:

- Không đi đánh Mỹ nữa thì ở nhà phát nương nuôi con! Anh đi đến bao giờ nữa? Bố già mà nhà chẳng có lấy một con trâu, nhỡ ra anh làm thế nào?

Quán ngớ người ra. Anh chưa kịp nói gì thì A Mỷ đã nói thêm:

- Tôi đi đâu cũng thui thủi một mình. Mai anh ra nương mà xem vợ chồng người ta!

A Mỷ càng nói bao nhiêu, Quán càng thông cảm và thương bấy nhiêu. Anh đi chiến đấu mười năm, ở nhà bố già, con dại đều do A Mỷ trông nom, săn sóc và chờ đợi. Giờ anh về, A Mỷ thở phào sung sướng như người vừa gánh nặng đi trên một đoạn đường xa gặp người đón rồi gánh đỡ. Nhưng anh lại ra đi. A Mỷ buồn và giận anh lắm. Quán không dám trách vợ. A Mỷ phải lo những cái mà các cô dâu trong bản phải lo. A Mỷ bị hoàn cảnh chi phối như những người trong bản bị chi phối... Anh rất muốn bố anh và A Mỷ nghĩ khác đi, rộng lớn hơn, xa hơn, tới cái chung hơn, nhưng chưa biết làm thế nào, chưa biết nên bắt đầu từ đâu, cứ lúng ta lúng túng chờ thời gian rỗi nghĩ cách sau.

Đêm lên đường, anh thủ thỉ với vợ:

- Mọi công việc ở làng bản mình rồi sẽ đổi khác, cái A Mỷ lo chỉ là lo xa thôi!

Quán muốn nói nhiều nữa; muốn giải thích cho vợ hiểu sự đổi khác nay mai của quê hương và vì sao cái lo của A Mỷ chỉ là lo hão. Nhưng anh biết dù có nói dài bao nhiêu cũng phải đợi thời gian, đợi thực tế rành rành thì A Mỷ mới tin được. A Mỷ đã quen trao niềm tin cho thực tế. Anh muốn nói cả chuyện mình có nghề nghiệp học trong bộ đội, nay phải dùng nó để phục vụ công cuộc xây dựng quê hương. Có như vậy miền núi mới tiến nhanh được. Nhưng A Mỷ lặng im không nói gì, và ông bố nằm ở giường ngoài cứ thở dài làm cho anh thêm ái ngại. Anh nằm nghĩ miên man rồi ngủ lúc nào không biết.

Hôm tiễn anh đi trả phép, ra đầu bản, chị rân rấn nước mắt làm Quán thêm bối rối: Dà dà, ngày mình nhập ngũ, A Mỷ có khóc đâu!

Hôm nay nghe bố nói thế, lòng anh thêm rối như chàng làng mắc bẫy, chỉ mong chóng hết giờ đi gặp bố hỏi cho ra ngọn ngành.

Hôm nay ông Giàng A Tăng nghỉ tập xe đạp và cùng con đi cắt cỏ ngựa. Mùa thu cỏ hơi hiếm, phải bòn nõn lau thái cho nó nhai. Quán cầm liềm cung cúc đi trước. Ông cụ chạy gằn theo sau.

- Này, tao cũng đến bán ngựa đi để mua xe đạp thôi!

Ông cụ đã bắt đầu mê xe đạp. Quán biết thế nên chiều nào cũng giữ xe cho bố tập. Khi đã đi được, cụ thích lắm, thao thức cả đêm và bây giờ thì tập lai hàng. Cụ thú nhất là nó chở khỏe mà chả cần cỏ rả gì sất.

- Ngựa tuy chậm và vất vả nhưng trong lúc ta chưa làm được đường cho xe đạp thì nó vẫn hơn chứ!

- Cứ có cầu rồi khắc có đường tốt!

- Thế bố phải động viên vợ con để con đi làm cầu chứ!

Ông cụ lặng im ngẫm ngợi. Hai cha con đến bãi để vật liệu ngổn ngang những máy móc và sắt thép, nhìn những cỗ máy lạ, cụ lại hỏi:

- Cái này để làm gì?

Quán lại giảng cho cụ:

- Máy này để hàn thép, bố ạ! Nó có thể nối những thanh thép vào với nhau!

- Hàn súng kíp rạn, được không?

- Tốt quá đi!

- Mày hàn được chứ?

- Được!

- ????, sao không bảo tao từ hôm ở nhà?

Khẩu súng của ông cụ phải nghỉ mấy mùa săn rồi. Xuống chợ huyện, chẳng thợ nào nhận hàn cho. Nay cụ khấp khởi:

- Dà dà, hôm nào tao gửi xuống!

Lên tới một gò đất cao nhìn rõ toàn cảnh công trường, Quán dừng lại chỉ dẫn cho bố về chiếc cầu tương lai:

- Dây cáp sẽ kéo qua sông và chăng lên những cái tháp cầu cao gần hai chục mét, trên dây cáp sẽ có những cái quang để treo cái rầm cầu rồi lát bê-tông cho xe đi qua!

- Liệu cầu có nhảy không?

- Không bị rung một tí nào!

- Thế cái chỗ dựng nhiều tre kia là cái gì?

- Đâu? à, đó là giàn giáo định vị để đổ bê-tông bốn cái tháp cầu!

- Con gì kia?

- Đấy là máy gạt đất, nó gạt bằng mấy chục người làm, chắc họ vừa đem từ tỉnh về!

Ông cụ kéo áo lau mắt rồi đứng chống tay hông nhìn phóng xa về nơi công trường làm việc. Nét mặt cụ giãn nở một niềm vui hả hê. Quán biết bố mình đang vui. Anh lặng im đứng nghe trái tim mình đập rộn rã. Bao năm rồi ông cụ sống với bản làng trên núi cao, quan niệm về đất nước có khi cũng chưa thấy hết cái rộng dài, giàu đẹp của quê mình. Nay thấy con cái biết nhiều, biết rộng, thấy máy móc có khả năng làm việc lớn lao của con người, ông cụ tránh sao khỏi bàng hoàng. Đi nhiều tầm mắt sẽ rộng ra, kích thước lòng người và sự nhận thức cũng cao lớn lên nhanh chóng...

Bỗng ông cụ quay sang Quán:

- Đợt này tao về sẽ cho vợ mày xuống công trường mà xem cầu!

Quán biết bố mình đã có những cái nhìn mới nên anh tiếp luôn:

- Bố thấy đấy, mọi người lo việc lớn lao. Ở nhà cứ quẩn quanh chẳng đâu vào đâu cả! A Mỷ xuống vùng thấp thì kêu nóng. Ở nhà một mình thì kêu buồn như góa bụa, cứ theo cái lý cũ quá! Cứ muốn con phải về là thế nào?

- À à... ừ, cũng phải! Tao sẽ bảo nó dần dần. Mai kia xa công trường, tao cũng thấy nhớ nữa là mày!...

Công trường đã chuyển sang một giai đoạn mới. Mùa xuân đã về rồi! Quán mải mê và cần mẫn làm việc cho đến một hôm bỏ kính hàn ra, nhìn lên các sườn núi thấy hoa ban đã nở trắng ngần cả đồi núi. Lòng Quán rộn lên nỗi nhớ quê nhà và vợ con. Bây giờ trên vùng cao đã ăn tết rồi. Tết Hmông sớm hơn tết ta gần một tháng. Bận quá không sao mà về được. Thư cho vợ hai, ba cái mà chẳng thấy xuống. Từ ngày ông cụ về đến nay cũng chẳng thấy tin tức gì. Tất cả lặng lờ như cái ống nước dựng xó bếp.

Đứng trên giàn giáo cao vút của những tháp cầu, Quán nhìn rõ mùa hoa xuân đang nở tầng tầng lớp lớp giữa nắng vàng rực rỡ. Mùa hoa nhắc Quán nhớ tới ngày hội Nào Cha năm xưa, anh đã hát tỏ tình cùng A Mỷ:

“... Hạt mưa sấm(1) qua hạt mưa bụi(2)

Không ướt tàu lá lau

Đêm nay ta nói với mình cạn lời

Mai, sáng lối

Ta lại làm tiếng sáo vang vang đỉnh núi...”

Rồi ngày cưới đến. Họ hàng đông đủ cả. Ông trưởng họ treo lên nhà Quán một tổ ong và chúc đôi vợ chồng trẻ sinh con đẻ cái, chăn nuôi, trồng ngô lúa nhiều như tổ ong kia. Thế mà mình cứ đi biền biệt mãi, chắc vợ con sẽ cho mình là người không biết cầm đũa gắp, không biết cầm đũa gẩy.

Càng lên cao, dây cáp điện càng phải nối dài ra nên điện yếu hẳn đi, hàn khó quá! Thời gian càng ngày càng gấp, khó khăn ngày một đẻ ra thêm. Mượn đâu cho ra máy điện có công suất cao hơn bây giờ?

Quán xuống xem lại máy. Anh đi lùng quanh và giậm chân bực dọc như người đứng trốc tổ kiến. Miệng anh lẩm bẩm luôn luôn: làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ? Lũ sắp có rồi!

Một ngày phải nghỉ hàn, Quán buồn lắm. Anh ngẩn ngơ ra ra vào vào rồi trở về tổ sắt giúp cô Phàng uốn cốt thép lát mặt cầu. Cô Phàng giờ đã là tổ trưởng tổ sắt rồi. Quán chuyển từ tổ sắt sang tổ hàn. Chuyện tình cờ, làm cho cả đội cầu phải bàn tán mất mấy ngày. Ai cũng cứ tưởng Quán chỉ biết nghề sắt thôi. Đến hôm đội cầu tìm mãi không ra thợ hàn bậc 5 để hàn cốt thép cho tháp cầu, mọi người lo bấn lên. Đồng chí phó tiến sĩ phụ trách kỹ thuật của trung ương cử lên cứ nhất quyết phải có thợ bậc 5 mới được. Trong lúc mọi người đi chạy thợ, Quán đến gặp phòng kỹ thuật và xin kiểm tra tay nghề thợ hàn. Kết quả không ngờ. Ông phó tiến sĩ cứ ôm lấy anh mà nhấc bổng lên mãi.

Thấy anh buồn như sợi lanh ngâm nước, cô Phàng bàn:

- Hay ta đấu hai máy hàn nhỏ cho thành máy to?

- Không có phương tiện. Đấu trực tiếp, hỏng!

- Làm sao cho nó ngắn cáp tải đi nhỉ?

Nghe đến đó, Quán dừng tay làm việc và ngẫm nghĩ, lát sau anh chạy vụt đi, chẳng chào hỏi ai, làm cho mọi người ngỡ ngàng.

Quán về gọi ông đội trưởng đội cầu và ông phó tiến sĩ ra ngoài bàn bạc.

Mấy tiếng đồng hồ sau, máy phát điện để hàn lại nổ giòn giã trên một giàn giáo cao và vững chắc. Dây cáp tải ngắn lại. Ánh lửa hàn lại lóe sáng cả một vùng. Ông phó tiến sĩ lại ôm lấy người Quán mà lắc và khen:

- Anh nhỉ! Nhiệt tình làm cho tay ta trở thành khéo léo, óc ta thành thông minh, đúng không? Đúng quá đi chứ!

Cứ theo giàn giáo định vị, Quán hàn những thanh thép có đường kính khá lớn cho bốn trụ cầu. Từng thanh thép tròn lẳn và được đánh bóng như vừa lấy ở lò cán thép ra cứ nối tiếp nhau theo nhóm và lên cao mãi.

Quán làm việc quên cả giờ nghỉ. Lửa hàn lúc nào cũng sáng lóe quanh anh như một vòng hào quang rực rỡ. Ngọn lửa nhiệt huyết ấy đang nối liền những thanh thép thành một khối để dựng lên bên sông những tháp cầu vĩnh cửu sừng sững như một đài kỷ niệm. Mỗi khi cầm mỏ hàn lên tay, Quán lại nhớ tới người thầy dạy nghề cho mình. Đó là đồng chí đại đội trưởng của đơn vị. Hồi ấy, đơn vị trụ bến phà sông Gianh. Đại đội trưởng đã dạy anh hàn tỉ mỉ, đã rèn luyện và kết nạp anh vào Đảng. Có lần nằm trong hầm anh đã tâm sự với Quán: “Chỉ sợ “tạnh” sớm quá, chứ mình mà còn thì tha hồ khó khăn, tha hồ vất vả, tha hồ bom đạn Mỹ. Cứ thử thách đi, ta chấp nhận tất cả!” Anh đã làm đúng như thế cho đến ngày “nằm” lại bên bờ một con sông lạ bên kia dãy Trường Sơn. Hôm nay, đứng trên giàn giáo để xây dựng quê hương, Quán biết rằng gian khổ, hy sinh, đổ mồ hôi, sôi nước mắt cũng không kém trong chiến đấu. Nhưng bản thân mình so với những người đã nằm xuống kia chưa thấm vào đâu cả. Mình còn nhàn quá! Còn nhàn quá! Phải nhanh chóng giải quyết việc nhà để làm tốt công tác xây dựng quê hương.

- Quán ơi! Quán à! Mày điếc cả tai, lại điếc cả mắt à? Mày không thấy tao à?

Quán bỏ kính hàn ra, nhưng vẫn còn lóa mắt, chưa nhìn thấy bố. Anh loay hoay nhìn xuống chỗ gọi và định thần lại, reo to:

- Bố lại xuống thăm con ạ!

- Đi làm cho tao khẩu súng đi!

- Đợi hết giờ đã chứ! Vợ con có xuống không ạ?

- Có!

- Thế đâu rồi?

- Thì mày cũng phải xuống để nói chuyện với tao đã nào! Cứ ở trên ấy, hừ hừ...

Con ngựa ô phải đứng đợi lâu quá, nó bồn chồn chỉ muốn tung vó lao đi cho thỏa chí. Ông Giàng A Tăng vuốt râu tự hào nhìn đứa con trên giàn giáo và lòng ông rộn vang tiếng máy.

A Mỷ đi dân công và xuống thăm chồng giữa lúc công trường đang ở vào thời kỳ nước rút. Quán cố hàn cho xong tháp cầu cuối cùng để cho kịp đổ bê-tông.

Tuy còn là mùa xuân nhưng đã nghe ì ầm tiếng sấm phía chân trời xa vẳng lại. Những trận mưa rào đã được báo hiệu. Một con ve sầu trước mùa kêu lanh lảnh suốt ngày như tiếng cưa máy cưa vào thời gian giục giã.

Đồng chí đội trưởng bảo Quán:

- Ở nhà bàn bạc với chị ấy cho ổn đi đã!

Quán cười bẽn lẽn:

- Đâu khắc vào đó, thủ trưởng ạ!

Chuyện gia đình nói với nhau lúc nào chả được. Quán không muốn vì việc mình mà làm ảnh hưởng đến cả một hệ thống công trình đang làm việc hối hả.

Công trường thu xếp cho A Mỷ làm việc ở tổ sắt cùng với cô Phàng. Ở đó, A Mỷ chỉ việc cạo gỉ và đánh bóng những thanh thép để chuẩn bị đem đi hàn trụ cầu. Công việc tưởng như nhàn, nhưng lại rất quan trọng, phải tỉ mỉ và kỳ công. Vài ngày sau, A Mỷ dần quen với công việc. Chị đứng thoải mái cầm bàn chải sắt chà xát vào những thanh thép rồi lại lấy dao cạo gỉ, sau đó lấy giẻ lau sạch bóng.

Dáng người mẹ một con ấy trông có hơi đẫy, nhưng vẫn còn săm se khỏe mạnh, đầy sức lực của tuổi trẻ. Những bắp tay tròn lẳn, trắng như men sứ làm việc thoăn thoắt. Mái tóc vấn trần không đội khăn để lộ ra một vầng trán rộng với khuôn mặt hơi dài, mũi thẳng, mắt sáng như nhìn có tia.

A Mỷ vừa làm việc, vừa nói chuyện với cô Phàng. Giọng chị nhẹ như một hơi thở lướt và kéo dài ở âm cuối nên du dương như hát:

- Cô Phàng ơi, cạo sắt cẩn thận như làm sạch củ mài ấy nhỉ!

- Còn hơn ấy! Hồi anh Quán dạy em, anh ấy dặn đi dặn lại phải làm thật kỹ việc này đấy!

- Sao vậy, cô Phàng? Lúc đổ bê-tông, nó che đi hết, có ai nhìn thấy đâu mà sợ!

Phàng dừng tay, đầu nghiêng nghiêng như một con chim non rồi giải thích cho A Mỷ:

- Vì thế nên cũng phải cẩn thận, chị ạ! Nếu để nó gỉ, nước ở bê-tông ngấm vào càng làm cho nó chóng gỉ hơn, và nó sẽ gỉ cho đến khi nào hết thanh thép đó mới thôi. Lúc đó cột bê-tông tự nhiên mất cốt thép và trở thành rỗng, trụ cầu sẽ giảm độ bền!

A Mỷ lại cặm cụi làm việc. Phàng ngắm chị thấy mến yêu và kính trọng chị hơn. Cô hỏi khẽ:

- Sao chị xuống thăm anh chậm thế?

A Mỷ cười ngượng ngùng:

- Cũng một phần tại ông cụ đấy! Đi dân công về, cụ không giục tôi đi gọi anh Quán về nữa, mà lại bảo: “Mày ở nhà cùng hợp tác xã làm cho xong vụ này đã, xuống thăm nó sau. Quán nó bận lắm, xuống chậm ngày nào hay ngày đó!”

Sau những giờ làm ca, cô Phàng dẫn A Mỷ đi xem các loại máy móc làm việc, cho A Mỷ đi nhờ ô tô về tỉnh xem chiếu bóng. Những buổi đội cầu tổ chức văn nghệ, cô Phàng đều kéo chị đi và đưa chị lên sân khấu thổi một khúc dân ca bằng đàn môi. Cuộc sống của tuổi trẻ mới mẻ ùa vào nhanh chóng chiếm lấy những tâm hồn lành mạnh. A Mỷ đã thấy yêu cuộc sống công nhân và ước ao được như cô Phàng: “ừ nhỉ, sao lâu nay ta không nghĩ đến điều đó?”

Mấy hôm nay A Mỷ rất mủi lòng và thương Quán. Trên giàn giáo cao gần hai chục mét, Quán hàn suốt hai ca liền, thỉnh thoảng có hôm ba ca. Trên cao gió thổi lộng óc. Dòng sông Lung Sa cuốn lên vì gió. Mỗi hôm hết ca về nghỉ, người Quán mệt nhoài. Có lần anh về buồng thì gà rừng đã xao xác gáy ngoài nương. Da mặt anh đã mai mái. Hai mắt hơi trũng vào bao quanh hố mắt một quầng thâm mờ. Anh nằm ngủ trông vất vả quá. Chân tay quăng quật ra tứ phía. Trong lòng còn ngổn ngang những suy tư, những việc này nọ. Anh biết nén đi, bình lặng làm việc cho quê hương, cho công trình cầu đang ở vào thời điểm nút của thời gian cho phép.

A Mỷ ngồi nhìn anh ngủ, trong lòng rộn bao suy nghĩ và ước mơ. Chị cũng giống bố chồng, bị cuộc sống công nghiệp làm cho say mê. Ở chị, còn có niềm tự hào nữa. Đêm đêm, trên giàn giáo cao cao, Quán biết làm cho ánh lửa sáng khắp cả một vùng. Ánh sáng ấy, chưa ai thấy có trong các cửa hàng thợ rèn, thợ bạc ở chợ huyện. Lạ quá, cứ như tia chớp của trời đất vậy.

Khi anh tỉnh dậy, A Mỷ hỏi:

- Đội cầu còn lấy người làm công nhân không?

Ông Giàng A Tăng nghe các con bàn, cũng hào hứng:

- Tao cũng vui lòng đấy! Liệu tao đi có được không?

A Mỷ theo bố chồng về xã làm giấy tờ. Hôm xuống nhận việc thì bốn tháp cầu đã đổ bê-tông xong và đang tưới nước nóng cho tăng độ đông kết. Bên bờ sông bây giờ sừng sững những tháp cầu sánh tầm cao với núi. Những thanh thép, những mối hàn chắc chắn đã ẩn náu trong kia để giữ gìn sự vững chắc. Không ai nhìn thấy nó nữa. Chỉ thấy những tháp cầu uy nghi như tượng đài.

Người ra đỡ hòm quần áo cho A Mỷ không phải Quán, mà là cô Phàng. Cô an ủi A Mỷ:

- Chị thông cảm nhé! Anh ấy đi nhận công trình mới rồi! Độ tháng nữa chị em mình lại tới bờ một con sông khác và lại dựng những tháp cầu!...

Từ đó, vợ chồng A Mỷ theo đội cầu đi suốt. Họ làm nòng cốt cho những cặp vợ chồng khác ra đi tiếp để xây dựng quê hương vùng cao. Tấm lòng chân thật và nhiệt tình của họ liên tiếp hiện lên cùng với những tháp cầu bên bờ các con sông.

 

Sông Đà - 1975(*)

 

*  Chủ ý tác giả là mùa xuân 1973 ta ký Hiệp định Pa-ri cũng đồng nghĩa với đại thắng (M.A.L.).
** Bài đăng tập san Văn nghệ Lao Cai số ra tháng 12 năm 1973
* Đăng tập sáng tác Hoàng Liên Sơn của Hội VHNT tỉnh Lào Cai, tập 3, xuất bản tháng 5+6 - 1974
1,2 Chỉ mưa xuân (T.G.)
* Đăng Văn nghệ Hoàng Liên Sơn số ra tháng 2 - 1976

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 15/07/2019

Tin khác

NHỮNG TRANG VĂN GIẢN DỊ MÀ ÁM ẢNHNHỮNG TRANG VĂN GIẢN DỊ MÀ ÁM ẢNH
CHÙM PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NHÀ VĂN PHẠM XUÂN NGUYÊNCHÙM PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NHÀ VĂN PHẠM XUÂN NGUYÊN
THÁI BÁ LỢI VỚI TIỂU THUYẾTTHÁI BÁ LỢI VỚI TIỂU THUYẾT

Tin mới nhất

Sữa và mật
Sữa và mật

Sữa và mật

Sách mới

Sữa và mật

viết bởi: Nhà xuất bản

Sữa và mật
BATTLE ROYALE – Trò chơi sinh tử

viết bởi: Nhà xuất bản

BATTLE ROYALE – Trò chơi sinh tử
Viết và đọc chuyên đề mùa thu 2019

viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Viết và đọc chuyên đề mùa thu 2019