THẾ GIỚI XÔ LỆCH VỚI LẦN IN THỨ 6

Tiểu thuyết Thế giới xô lệch trong lần tái bản mới nhất này, tôi tin người đọc sẽ đọc kỹ hơn, cảm nhận day dứt hơn về sự xô lệch của thế giới nội tâm, không chỉ từ những nhân vật trong Thế giới xô lệch của nhà văn Bích Ngân.

Viết bởi: Trung Trung Đỉnh

Lần lượt các nhân vật hiện ra giản dị như chính cuộc sống vốn thế: Không kiểu cách, màu mè, không có gì mới lạ, nhưng cuốn hút ngay từ đầu bởi sức sống của sự chân thật và cả của sự từng trải chín muồi của người viết.

Tác giả hóa thân vào “cậu Út”, một thương binh nặng mất hai chân, sau cuộc chiến ở biên giới Tây Nam. Đây cũng là cái mốc thời gian ghi nhận “thời hậu chiến” bộn bề nghiệt ngã của tác phẩm. Út vốn là người có kiến thức, có nhiều khát vọng trong cuộc sống thời trai trẻ như hầu hết bạn bè cùng trang lứa.

Sau chiến tranh “cậu” và một số đồng đội thoát chết nhưng không lành lặn, phải sống vật vã với sự khiếm khuyết của cơ thể mình và với những sự kiện diễn ra trong không gian chật hẹp của ngôi nhà mình, một ngôi nhà bề ngoài thật êm đềm với những người thân thành đạt: Ba là một cán bộ ở hàng ngũ những người chủ chốt của một tỉnh.

Một gia đình có nguồn gốc nông dân Nam Bộ với truyền thống của những người cần lao gian khó vượt qua biến thiên của lịch sử đi theo cách mạng. Má là một bà mẹ điển hình của người phụ nữ Việt Nam suốt đời chỉ biết có việc tận tụy chăm lo cho sự nghiệp của chồng con, không hề lo cho mình một mảy may nào.

Anh trai là một người thực dụng, biết lợi dụng vị thế của gia đình để tiến thân và vun quén cuộc sống vật chất, dù bước đầu thuận lợi, nhưng về sau bộc lộ khá rõ việc làm ăn mà chỉ dựa vào vị thế của gia đình trong cơ chế nhập nhoạng cũng không phải là cái cơ bản của sự thành công.

Trong khi đó, ông Ba càng tiến lên cao càng không ngó ngàng gì tới cuộc sống vật chất cũng như tình cảm, tinh thần của vợ con. Dưới danh nghĩa lo cho việc chung, nhiều lúc ông phũ phàng với vợ con anh em, thậm chí lãng quên cả ngôi mộ mẹ mình.

Chị gái là một mẫu người lãng mạn, sống mạnh mẽ chân tình và gặp nhiều trắc trở, không chỉ trong tình duyên mà ngay cả với khát vọng của mình... Một bối cảnh lý tưởng để dựng lại cuộc sống của một xã hội hòa bình không đem lại sự bình yên, mà chính những biến động của thời cuộc đã đẩy các nhân vật đến tận cùng của sự “xô lệch”. Sự “xô lệch” không do tác giả chọn mà là chính cuộc sống lựa chọn.

Trở lại với nhân vật “cậu Út”. Cậu Út có ba người bạn, ba mối nhân duyên nối cậu với cuộc sống bên ngoài, ấy là cô vợ do má “kiếm” cho. Vợ Út là một cô gái từ miệt vườn dưới quê lên phố, hành trang mang theo là sự quê kiểng với những khát khao đổi đời. Cô nhập cuộc khá đơn giản và “trưởng thành” cũng mau lẹ, tạo nên một không gian mới cho ngôi nhà vốn bề ngoài bình lặng.

Út còn có hai người bạn nữa cũng khá sinh động và độc đáo, đó là con Phèn và anh chàng lái xe của ông Ba. Một con Phèn lém lỉnh, khôn ngoan, trung thành, vô tư, và anh chàng lái xe cũng lém lỉnh nhưng không vô tư, biết dựa vào cơ chế, “sống đủ” bằng sự “quan liêu bao cấp” của thủ trưởng. Anh ta cũng chẳng có nhiều mơ mộng, nhiều ý tưởng sống mà chỉ chăm bẵm lo toan cho cái tổ của mình bằng cách hút xăng ra khỏi cái xe cà tàng của người thủ trưởng lúc nào cũng tự cho phép mình liêm khiết và gương mẫu!

Nhà văn Bích Ngân

Nhà văn Bích Ngân và Thế giới xô lệchđã đồng hành cùng thời cuộc trưởng thành không mệt mỏi ngót hai chục năm chiêm nghiệm do đã “lãnh đủ” và do đã “lắng đủ” để đến với độc giả hôm nay. Thế giới xô lệch đã vượt qua ngưỡng một câu chuyện kể thông thường, nó cũng tự mình vượt qua cái giờ khắc định mệnh của tiểu thuyết hiện thực thuần tuý.

Tác giả muốn vươn xa hơn ở thể loại này, không phải bằng lối kể chuyện mà là bằng ý tưởng. Con người ta khi bị đẩy “xô lệch” đến chót đỉnh của bi quan thì điều cần thiết nhất là sự sẻ chia. Cậu Út đã nhận ra bà chị của mình khi ở đỉnh cao thất vọng: “Hóa ra, chị không phải là kẻ bỏ cuộc. Chị vẫn tiếp tục dấn vào sống cái cuộc sống mà chị mơ ước chớ chưa thật sự được sống. Cuộc đời nầy, có lẽ giống như một bản nháp khổng lồ. Một bản nháp không ngừng tẩy xóa.”... Rồi: “Chị cũng đâu khác gì tôi, cũng chênh vênh trong cái thế giới xô lệch này, dù chị còn có đôi chân lành lặn”.

Nhà văn Bích Ngân cũng đã vượt qua những “xô lệch” của lối diễn đạt theo kiểu cố ý vùng miền để tạo vẻ độc đáo. Tác giả quan tâm nhiều hơn đến tính cách nhân vật và những diễn biến tâm lý hơn là kết cấu cốt truyện.

Tiểu thuyết Thế giới xô lệch chính là minh chứng cho kỳ công lao động trau chuốt. Tác phẩm đã khỏi vòng cương tỏa của những dòng cảm xúc tự phát để đến với cái đích cần thiết mà tác giả mong muốn. Sự kết thúc của câu chuyện và ý thức vượt qua mình thật sự trở thành gánh nặng khiến tác giả... thấm mệt. Tuy nhiên, “Cùng tắc biến, biến tắc thông”, tác giả đã khéo léo tìm cách “vượt cạn” bằng lối viết, hay nói đúng hơn là lối “giải quyết” là tự thỏa thuận với chính mình.

Điều ấy còn được độc giả kiểm nhận khi mà cuốn sách mới in tái bản ngay sau khi nó ra đời chưa đầy 3 tháng.

Thế giới xô lệchvới lần in thứ 6 này, tác giả có thêm độ lùi thời gian để trải nghiệm, suy ngẫm, cũng như cảm nhận nhiều trạng thái khen chê từ người đọc, và đã làm đầy hơn một số tình tiết cùng những cung bậc cảm xúc của nhân vật trong một thế giới không ngừng xô lệch, một thế giới vẫn mắc kẹt trong một cuộc chiến âm ỉ dai dẳng mà vũ khí hủy diệt không còn là súng đạn

Tiểu thuyết Thế giới xô lệch trong lần tái bản mới nhất này, tôi tin người đọc sẽ đọc kỹ hơn, cảm nhận day dứt hơn về sự xô lệch của thế giới nội tâm, không chỉ từ những nhân vật trong Thế giới xô lệch của nhà văn Bích Ngân.

 

                                                                                                                            Hà Nội, 5. 2010 - 11. 2016

                                                                                                                                         T.T.Đ

                                                                                                              (Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
                                                                                                                        nơi in Thế giới xô lệch lần 1)

 


PHẦN MỘT

 

1

 

Tôi bất ngờ trước thần thái của anh.

Chưa khi nào tôi nghĩ anh rể tôi, một con người trầm tĩnh, biết khôi hài, thường dửng dưng trước những thứ mà nhiều người cho là cái đích và cuống cuồng chen lấn xô đẩy vượt lên giành lấy bằng mọi cách; một con người phớt đời, nhiều lúc như lơ lửng trên mây lại có thể lâm vào trạng thái hoảng loạn đến như vậy. Thứ hoảng loạn của một kẻ sau giấc ngủ tỉnh dậy, thấy mình bị lột sạch, đến cả thẻo quần lót cũng không còn.

Đôi mắt trũng sâu khiến chiếc mũi cao của anh lại thêm cao, chia gương mặt thành sáng tối. Con ngươi nơi đôi mắt anh đang phát ra thứ ánh sáng lạnh, rất lạnh.

Tôi luýnh quýnh muốn làm cái gì đó để xoa dịu anh, muốn đưa tay nắm lấy bàn tay đang nắm chặt của anh, muốn kéo anh vào nhà tắm, dội cho anh xô nước lạnh hoặc ít ra là nhúng cái khăn ướt cho anh lau gương mặt lúc đỏ bừng lúc tái xám của mình. Nhưng tôi chỉ biết đưa mắt nhìn anh. Im lặng nhìn anh. Cái nhìn của con thú tật nguyền trước đồng loại cũng không còn vẹn nguyên.

Tôi loay hoay tìm cách rời khỏi giường, nơi tôi nằm ngồi gần như suốt ngày kể từ lúc tôi ở bệnh viện về và không còn đôi chân. Xê dịch từ chỗ giữa giường ra đến mép giường, tôi với tay tốc lớp vải rèm. Lớp vải thô ráp in hình những bông hướng dương trên cái nền nâu sẫm, là tấm ri-đô ngăn chiếc giường sắt và những vật dụng cá nhân với gian nhà trên, nơi dành một phần làm phòng khách và một góc nhỏ đặt chiếc máy may may đồ gia công mà má tôi thường ngồi cắm cúi ở đó.

Luồng sáng từ ngoài cửa tuồn vào, trườn lên khoảnh chiếu trải trên giường, chờn vờn nhảy nhót, lúc chỗ ống quần đùi phập phều, lúc chồm lên bụng lên ngực để trần của tôi.

Anh rể tôi vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ có chỗ dựa đã tróc sơn, lòi ra thớ gỗ xỉn màu. Chiếc ghế có chỗ ngồi được lót bằng một vuông vải nhiều màu nhiều lớp mà má tôi tỉ mẩn kết lại từ những chỗ vải thừa.

Rồi như không giữ người ngồi thẳng được nữa, anh chống đôi tay lên hai gối, đầu gục xuống. Mái tóc bồng xổ ra, trông mái đầu anh to lớn dị thường.

Tôi chồm tới, chưa kịp với tay kéo chiếc xe lăn đang tựa vào thành giường thì đúng lúc đó, con Phèn từ bên ngoài chạy vào như đang bị rượt đuổi. Chân nó vướng phải chân anh rể làm anh giật mình, ngồi bật dậy. Con Phèn không để ý đến người nó va phải, nhảy phóc đến chỗ tôi, chồm hai chân trước lên người tôi, hấp tấp thè cái lưỡi ướt át liếm vào người tôi. Tôi đưa tay vuốt cái mõm rịn mồ hôi của nó rồi bất ngờ đẩy nó ra, miệng lầu bầu, bực bội.

Bị xua đuổi, con Phèn cụp mắt cụp đuôi, mòm mọp quay lui.

Anh rể hất mái tóc bù xù ra sau, ngước nhìn tôi. Ánh mắt anh chợt tối như một vực sâu, lại vừa có cái gì đó loe lóe như ánh chớp.

Tôi thấy gai người. Một cơn lạnh chạy rùng rùng đâu đó, lúc thì như sóng băng rân rân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, lúc thì như ngọn lửa chờn vờn nhảy nhót nóng ran. Tim tôi như bị bóp mạnh. Bất giác, tôi gọi:

- Chị, chị ơi…

Âm thanh vừa bật ra, anh rể tôi chồm dậy:

- Im… đừng nhắc, anh cấm mày!

Thình lình anh đứng phắt dậy, lảo đảo như trúng phải cơn gió độc.

Khi trụ lại được trên đôi chân, anh khó nhọc lôi ra từ túi quần một quyển sổ bằng bàn tay bọc bìa nâu nâu rồi quăng mạnh về phía tôi. Lóe chớp trong cặp mắt anh lập tức biến thành tia sáng của khí giới:

- Đọc đi, của chị cậu đó…

Quyển sổ nâu nâu va vào người tôi, giật nẩy một cái rồi rơi xuống, nằm sập sãi trên mặt chiếu.

Tôi chưa kịp đưa tay cầm lấy quyển sổ đã thấy anh rể quay ngoắt và bước những bước dài về phía cửa.

Tôi lật bật lết ra khỏi mép giường, lật đật quăng mình lên xe lăn, tay đẩy mạnh bánh xe, lăn về phía cửa, nơi anh rể vừa đi khỏi.

Chiếc xe đột ngột khựng lại. Bánh xe vướng ngạch cửa, nơi có thanh sắt chắn ngang. Tôi không rõ thanh sắt có tác dụng gì đối với ngôi nhà này nhưng với tôi, lúc này, nó là một vật cản.

Tôi không kịp tìm cách vượt qua thanh chắn trên mặt đất. Tôi chỉ còn biết rướn người nhìn theo lối anh rể vừa đi.

Nắng rọi xiên xiên. Nhiều người, nhiều bóng di chuyển qua lại trên đường. Con đường quen đến nỗi, không ra được khỏi nhà, tôi vẫn hình dung ra những khúc quanh, những đoạn đường lồi lõm, những chỗ ngập nước khi triều cường, dù quanh năm, ngoài những lúc trời trút mưa hay nước dâng ngập ngụa, hình như lúc nào cũng nghe tiếng những chiếc xe chuyên dụng rà tới rà lui, gầm gừ nhả xuống đường những cụm đất, đá, rồi thỉnh thoảng lại nghe tiếng xe lu rền rĩ nghiền bánh thép xuống mặt đường.

Anh rể tôi rẽ về phía trái con đường. Không chói lóa, cũng không bị người xe che lấp, rõ mồn một vẫn là cái dáng đi hấp tấp lạ lùng của anh rể.

Chưa biết điều gì đã xảy đến cho anh nhưng nhìn cơn cuồng nộ nơi anh, tôi không sao rứt khỏi ý nghĩ, rằng, người đàn ông là chồng của chị tôi, là cha của đứa cháu trai vừa vào lớp hai - một người đàn ông vốn an phận, và có lẽ cũng không có ý định làm thay đổi cuộc sống vốn đơn điệu, thứ đơn điệu quen thuộc của hầu hết cư dân của cái xứ sở này; một người, có lẽ cũng không có cả cái nhu cầu chòi đạp hoặc xê dịch ngay cả trên chiếc giường lứa đôi chật hẹp của mình - dường như đã thành kẻ khác, một kẻ hoàn toàn xa lạ.

Tôi thấy sợ. Trong cơn cuồng nộ đó, anh rể tôi có thể làm điều gì đó thật điên rồ. Biết đâu, trong khoảnh khắc không kềm chế được, anh lại làm những việc mà chính anh cũng bất ngờ. Trong cơn điên khùng, biết đâu anh lại có những hành động khùng điên. Anh có thể hành hạ, sát phạt, giết chóc, tàn phá tất cả, chính anh, vợ con anh, căn nhà thân quen và cả cái xứ sở phù sa bồi lở này, nơi đã chốt anh lại, neo anh lại và bằng cách nào đó, đang bứt anh ra, đẩy anh ra cũng bằng sức mạnh đó.

 

 

2

 

Tôi lăn xe đến bên chiếc máy điện thoại.

Đó là chiếc điện thoại quay số cổ lỗ màu đen được tiếp quản sau ngày ba mươi tháng Tư, từ ngôi nhà này, ngôi nhà hai tầng của một quan chức chế độ Sài Gòn. Ngôi nhà từng được một cơ quan hành chánh dùng làm chỗ làm việc và cũng làm nơi ăn nghỉ tập thể cho một số cán bộ nhân viên chưa có chỗ tá túc. Rồi ngôi nhà được phân cho ba tôi, một trong những người giữ vị trí cốt cán trong bộ máy công quyền của cái tỉnh lỵ rộng lớn này. Ngôi nhà vẫn giữ nguyên hiện trạng ban đầu, tuy đã bong tróc, loang lổ và thiếu ánh sáng.

Trước khi về sống ở ngôi nhà đã có nhiều chủ này, gia đình tôi, tuy thường vắng mặt ba tôi, cũng từng có một ngôi nhà tràn ánh sáng trên một mảnh vườn xum xuê cây trái nhìn ra cánh đồng.

Ngôi nhà, mảnh vườn và đám ruộng nằm trên cánh đồng kéo dài về phía chân trời, níu giữ má tôi và chị em tôi. Má đi ra đi vô nhìn ngắm cái cơ ngơi do mình nhọc nhằn tạo dựng, rồi nhìn nấm mồ của đứa con gái út nằm nép bên gốc cây xoài đang mùa ra trái, thở thườn thượt. Tôi hết ve vuốt bộ lông mịn rức của đàn gà mới nở, lại sờ những cái mõm mềm mại của bầy chó vừa mở mắt. Anh tôi thì leo tót lên ngọn cây dừa, hú hét gì đó với trời xanh. Chị tôi quên nấu cơm chiều cứ nấn ná trò chuyện với mấy người bạn bên cây rơm vàng óng ngoài vườn. Tuy vậy, mọi bịn rịn giằng níu cũng không cưỡng được mệnh lệnh của ba tôi. Ông muốn bù đắp những thiệt thòi mà vợ con phải chịu đựng. Ông nói với má, với chị em tôi, nói nhiều lần, rồi được nghe má nhắc lại, tôi vẫn còn nhớ, dù ngày đó tôi còn bé lắm, rằng, mấy chục năm chiến tranh phải chịu xa cách, ông chỉ mong đến ngày cả gia đình được sum họp, vui vầy.

Mong ước của ba khiến má tôi bỏ lại tất cả, kể cả hài cốt đứa con gái chết khô khi còn trong bụng mẹ.

Tuy vậy, khi rứt ruột bán đi ngôi nhà, mảnh vườn và đám ruộng, má tôi đổ bệnh. Đến lúc khỏi bệnh, bà ngỡ ngàng nhận ra mình đã đang ở trong ngôi nhà vừa xa lạ, vừa lạnh lẽo.

Chiếc điện thoại được đặt trên lưng con voi bằng sứ đã gãy vòi.

Đã thành quen, tôi không còn cái cảm giác khó chịu khi thấy vật dụng trong ngôi nhà từng sở hữu qua nhiều người, đều không còn lành lặn, kể cả chiếc nôi con trẻ làm bằng mây bỏ lại ở một góc khuất của tầng trên, cũng chỉ còn có ba chân. Thỉnh thoảng, tôi bật cười một mình khi nhớ lại lúc ba tôi dắt ba chị em tôi bước vào ngôi nhà này. Lúc ấy, tôi giống như con chó nhỏ chạy lăng xăng, sục sạo đánh hơi, hết chỗ này đến chỗ khác, háo hức, tò mò và liên tục kéo tay ba tôi, hỏi: “Ba ơi, sao mình vô nhà người ta ở?”. Câu trả lời của ba khiến đầu óc trẻ dại của tôi rối mù và câu hỏi này, tôi tiếp tục hỏi má. Với má, tôi còn hỏi thêm nhiều nữa, hỏi về chiếc nôi gãy chân nằm chỏng chơ, hỏi về đứa trẻ nằm trong đó được bao lớn và câu trả lời vẫn không rành mạch đối với cái đầu lên sáu của tôi. So với những câu hỏi “Sao cái ghế nệm này lòi ruột ra?”, “Sao con voi kia lại gãy cái vòi?”… thì câu giải thích lòng vòng của người lớn về chính và tà, về thắng và thua, thật không dễ hiểu. Tôi cũng nhớ, hầu như khắp ngôi nhà, chỗ nào cũng để lại dấu vết của hành vi ăn xổi ở thì. Nền, tường, phòng khách, phòng ngủ, bếp ăn, nhà cầu… không chỗ nào không vấy bẩn, hỏng hóc và ám khói. Khói thuốc, khói bếp than, bếp củi, bếp dầu. Chỉ một nơi còn giữ nguyên hiện trạng. Đó là trang thờ, dù không biết đã từng thờ ông bà tổ tiên hay thờ phật, thờ chúa. Nơi trang thờ còn sót lại một ốp nhang xài dở và một cây đèn hột vịt đã cạn dầu. Má tôi lau chùi trang thờ và đặt lên đó bức tượng bồ tát Quan Thế Âm bằng đá màu ngọc bích mà má tôi mang theo từ ngôi nhà bà đã bán đi. Dưới chân bồ tát, mãi sau này, lúc ông nội tôi mất, di ảnh của ông được má tôi đặt vào đó.

Ở một nơi lưng chừng trên tường nhà, tôi không nhìn rõ chân dung của nội tôi. Cả trong ký ức, ông cũng chỉ còn là một bóng mờ.

Tôi quay những con số, áp ống nghe vào tai. Gặp ba, tôi nói ngay:

- Ba…ba đến chỗ nhà chị hai đi, ba!

- Chị con bị làm sao?

Tôi ấp úng:

- Linh cảm… con…

Ba tôi cười thành tiếng, rồi hỏi:

- Má con đâu?

- Má con đi chợ chưa về.

Ông nói to:

- Con không có việc gì làm thì đọc sách đi, đợi má về.

Nói xong, ba tôi cúp máy đột ngột.

Tôi vẫn áp chặt ống nghe vào tai.

Bên kia đầu dây vọng lại tiếng “tít… tít…”

Trong mớ âm thanh vừa quen thuộc vừa vô cảm đó, tôi hình dung ra sự chuyển động quanh nó. Tôi thấy ba tôi đang gồng gánh cái khối công việc vừa cụ thể vừa vô hình. Ông đứng ngồi đi lại trong phòng làm việc đặt ở tầng hai của tòa nhà được làm trụ sở hành chánh, nơi có cửa sổ mở về hướng đông. Từ phòng làm việc, qua tấm rèm màu xanh da trời được kéo lên, ông có thể nhìn xuống khuôn viên biệt lập bởi cánh cổng sắt và hàng rào bê-tông. Hàng rào cao khỏi đầu người cũng được quét vôi màu xanh cùng màu với rèm cửa. Khuôn viên rộng, có lối đi dành cho xe và lối đi cho người đi bộ. Trong khuôn viên, cây và hoa được trồng trong những cái bồn có kiểu dáng và kích cỡ khác nhau, dường như lúc nào cũng xanh, cũng ra hoa. Nhiều hơn cả là hoa đồng tiền và hoa soi nhái. Mùa nào, lúc nào cũng thấy chúng rập rờn khoe sắc dù thiếu hương. Khác với đám hoa mười giờ ba tôi trồng trước nhà. Chúng chỉ tươi nở lúc nắng lên, lúc ba tôi đã ra khỏi nhà và đến khi ông đi làm về, chúng thường gục đầu, héo rũ.

Từ khung cửa sổ, ba tôi còn nhìn thấy người và xe ngược xuôi trên những con đường, những con đường rẽ đi nhiều ngả. Có ngả về đồng ruộng, có ngả về sông, về rừng, có ngả lên thị thành. Ba tôi còn nhìn thấy những người dân ngập ngừng dừng bước trước người bảo vệ nơi cổng trước khi được bước vào tòa nhà công sở, nơi họ mong được gặp những người như ông. Và tiếp xúc, đối với ba tôi, không chỉ đơn thuần là công việc, là trách nhiệm mà còn là niềm vui. Ông có ánh mắt trong, cái nhìn ấm. Cái bắt tay ân cần siết chặt của ông còn ấm hơn ánh nhìn. Họ lắng nghe ông. Họ chờ đợi. Họ hy vọng. Cái cảm giác hạnh phúc khi được ký thác lòng tin khiến ba tôi lại tiếp tục hy sinh những gì có thể hy sinh, kể cả cái bổn phận làm chồng, làm cha. Ông không thuộc về gia đình dù ông vẫn bên cạnh má tôi và chị em tôi. Ông thuộc về số đông. Ông cần cho số đông khốn khó. Bởi vậy, ba tôi khăng khăng không chịu ngồi trên những chiếc xe hơi sang trọng như những người cùng giữ trọng trách như ông. Ba tôi đi chiếc Peugeot 404, một chiếc xe già cỗi, thỉnh thoảng trở chứng, nằm ì giữa đường.

Giản dị, nhiệt thành, ông luôn thuộc về đám đông. Âm thanh ồn ào từ đám đông khiến ba tôi không nhận ra tiếng gọi của tôi.

 

3

 

Lúc tôi hình dung sự tất bật của ba tôi trong sự vận hành quen thuộc của cái guồng máy hành chánh mà ông là một mắt xích, thì má tôi đi chợ về, tay xách một giỏ thức ăn.

Bà vào nhà mang theo vạt nắng vàng rượi. Những đốm nắng nhảy nhót loang loáng trên vô lăng máy may, trên mặt kính tủ sách, trên mặt bàn trà. Nắng cũng mang theo đám bụi li ti.

Tôi lê ra, khép bớt cửa lại. Khi trở vào, ngước nhìn má, tôi hơi ngỡ ngàng khi thấy nắng như đọng lại nơi mắt bà.

Má ngồi xuống bên tôi. Bà kéo cái giỏ đựng thức ăn sát lại. Má thò tay vào giỏ, lấy ra một ốp nhang, một nải chuối xiêm và mấy trái mãng cầu ta ra rồi đặt tạm lên mặt bàn. Bà lấy tiếp từ trong giỏ gói lá chuối gói mấy miếng bánh da lợn, đưa cho tôi:

- Con ăn đi!

Tôi chưa muốn ăn. Tôi chỉ muốn nói cho má nghe việc anh rể tôi đang gặp điều gì đó quá sức chịu đựng và cũng muốn trút cho bà cái dự cảm bất an.

- Má…

- Gì hả con?

Giọt nắng tôi vừa thấy nơi mắt má đã vội tắt. Hình như bà cũng đang gặp điều gì đó, boăn khoăn điều gì đó. Sợ má thêm lo lắng, tôi nói trớ đi:

- Dạ… không… có gì đâu, má.

Tôi cầm miếng bánh, ngần ngừ nhìn cái màu xanh trắng, trắng xanh của nó. Má giục:

- Ăn đi con!

Lúc tôi ăn bánh, má xách giỏ thức ăn vào nhà bếp. Lát sau má trở ra, tay bưng ly sữa đậu nành, tay cầm cái dĩa tròn.

Trong lúc tôi uống ly sữa, má sắp nải chuối và mãng cầu vào dĩa. Nhìn dĩa trái cây, bà nói:

- Sáng nay trời xui đất khiến sao đó mà má lại bắt chước người ta và… thử xem một quẻ bói.

Cũng giống như ba tôi, má tôi chưa hề tin vào bói toán. Nhưng khác với ba tôi, bà tin có trời Phật, tin ông trời có mắt, tin ở hiền gặp lành.

- Thầy bói nói sao, má?

- Bà thầy cầm tay má, lật úp lật ngửa, săm soi một hồi rồi nói: “Nhà bà lơ là việc thờ cúng quá!”.

Má do dự định nói thêm điều gì đó rồi thôi, mặt buồn buồn, ngồi lặng đi. Tôi nhớ, bàn thờ trong ngôi nhà tuổi thơ của chị em tôi, không lạnh nhang khói như bàn thờ ở ngôi nhà này.

Từ ngày không còn đôi chân, tôi không thể thắp nhang trên bàn thờ đặt trên kia đã đành. Nhưng anh tôi, chị tôi và cả má tôi nữa, cũng ơ thờ trước khói nhang.

Một phần do bàn thờ đặt cao quá tầm tay với, một phần còn do việc không khích lệ của ba tôi trước khói nhang, ngoại trừ đó là nhang khói tỏa hương bên bia mộ, bên đền đài tưởng niệm người hy sinh cho đất nước. Tôi nhớ trong lễ cưới của chị tôi, dù trời nắng như đổ lửa, theo ý nguyện của ba tôi, đoàn người xe rồng rắn qua mấy chục cây số, để đưa cô dâu và chú rể đến thắp nén nhang trước hàng bia liệt sĩ, nơi đặt hài cốt một đồng đội của ba, người đã hứng trọn quả lựu đạn và vì vậy mà ba tôi còn được sống, được đi tiếp con đường mà dân tộc đã đắp lên đó bằng xương máu của biết bao sinh linh.

Má tôi bồn chồn đưa mắt nhìn lên trang thờ. Rồi lẳng lặng bà bước xuống nhà sau, đem lên một chiếc ghế gỗ. Bà đặt chiếc ghế trên nền gạch, phía dưới bàn thờ. Thận trọng, bà leo lên mặt ghế.

Tôi lết lại, ghì chặt chân ghế.

Má tôi đem xuống bức chân dung bụi phủ của cha chồng. Rồi lần lượt, bà đem xuống chiếc lư hương còn lơ thơ đám chân nhang xám xịt, tiếp đến là mấy cái tách uống trà con con, sau cùng là cái bình trà, tất cả phủ kín bụi, không còn nhận được màu sắc của ly, của bình.

Má mang bình, ly và cả chiếc lư hương ra nhà sau. Chắc bà cọ rửa và lau chùi.

Tôi lết lại, rút chiếc chổi lông gà dưới gầm bàn, phủi lớp bụi trên khung hình lồng di ảnh nội. Lớp bụi vung lên, mù mịt. Hít phải mớ bụi cũ mốc, tôi ho thốc ho tháo.

Khi đặt chân dung sạch bụi của ông tôi lên mặt bàn của bộ ghế sô-pha, tôi nhìn thấy ánh mắt ông.

Tôi lật đật lết lại, lật đật đem di ảnh ông đặt lên chiếc bàn mà ba tôi thường dùng làm chỗ ngồi đọc hay ngồi viết.

Ánh mắt ông vẫn không rời khỏi tôi.

Lưỡng lự, rồi với một động tác hết sức dứt khoát, tôi quay mặt ông vào mặt kiếng tủ sách, cái tủ sách phần nhiều dành để những quyển sách của ba tôi, những quyển sách nhiều tập, bìa cứng, tập nào cũng dày cộp mà có lẽ vì thiếu thời gian nên ba tôi chưa đọc trọn quyển nào. Sợi chỉ xanh, sợi chỉ đỏ dùng đánh dấu trang đang đọc vẫn còn ở lưng chừng quyển sách.

Má tôi trở ra, tay bưng khay trà bốc khói.

Rồi trước khi leo lên ghế để đặt lư hương và những tách trà lên bàn thờ, bà nói với tôi:

- Ngày mốt nhà mình làm bữa cơm cúng ông nội con.

Câu nói của má phần nào trấn an tôi.

Tuy nhiên, hình ảnh thoáng hiện trong trí nhớ tôi không phải là ông tôi mà là chú tôi, người con trai út của nội, cũng là đứa con không có mặt trong ngày cha mất. Nhiều người còn đoán già đoán non là có thể chú chết trước ông tôi. Chết thảm. Có thể chú bị chém bằng nhát dao, hay phát súng của bọn hải tặc, hoặc cũng có thể chết đói chết khát trên biển và cũng không loại trừ khả năng chết vì bệnh tật trong một trại tị nạn nào đó. Không ai có thể biết được ngày chú mất. Còn tôi và những người yêu thương chú vẫn nuôi hy vọng là chú không thể chết. Chú vẫn còn đâu đó trên mặt đất này.

Và biết đâu, chú lại tìm về trong ngày giỗ cha mình.

 

 

4

 

Trong hai ngày chờ đến ngày giỗ nội, tôi còn điêu đứng vì cái tai họa thình lình mà anh rể tôi phải gánh chịu. Nói đúng hơn, tai họa do người chị ruột thịt của tôi gây ra.

Điêu đứng, nhưng tôi không thể để lộ ra cho má biết. Tôi sợ má sẽ còn điêu đứng hơn tôi. Bà có thể suy sụp khi biết đứa con gái nết na của mình trở thành người đàn bà phản bội.

Điêu đứng, còn bởi tôi không thể trông mong sự hiểu lầm hay ngộ nhận nào đó từ phía anh rể hay từ tôi khi trước mắt tôi, sự thật được ghi rõ từng chữ, từng dòng.

Tôi dồn hết sức bình sinh vào quả đấm.

Mắt tôi như đổ lửa rồi tắt ngấm và tối sầm khi thấy gương mặt gã đàn ông xa lạ vẫn nguyên vẹn trên trang nhật ký ép hoa hồng, những cánh hoa lành lặn, sẫm đen. Mái tóc dày đen của hắn vuốt ngược ra sau, khoe cái đuôi rùa chỗ chân tóc. Hắn có một bộ ria rậm hao hao bộ ria của anh rể tôi, bộ ria của Rhett Butler trong bộ tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió mà chị tôi mê mẩn. Và một đôi mắt nhìn thẳng. Hắn nhìn tôi nhưng ánh mắt ấy không phải cho tôi. Có lẽ chị tôi đã bị mê hoặc và bị nhấn chìm bởi ánh mắt thăm thẳm như mặt hồ đêm của hắn.

Một ánh mắt tối, ma mị.

Ánh mắt quyến rũ đầy ma lực ấy đã bứt anh rể tôi ra khỏi chiếc giường phu thê của mình.

 

5

 

Chị đến. Tôi bất ngờ trước vẻ ung dung của chị.

Chị ngồi trước tôi. Chị không nhìn bộ mặt hầm hầm của tôi mà đưa mắt nhìn chỗ ống quần lùng nhùng của tôi. Dáng ngồi như chờ đợi và sẵn sàng thách thức sự cật vấn, lên án, hay lời buộc tội.

Mái đầu ngẩng cao của chị tước sạch mọi cảm xúc thương giận nơi tôi. Tôi trơ ra trước chị.

Chị không nhìn vào cái ống quần tôi nữa mà di chuyển ánh mắt lên bức tường sau lưng tôi và có lẽ dừng lại nơi tấm ảnh của hai cậu cháu tôi treo trên tường.

Tấm ảnh do một sáng kiến phiêu lưu bất thần, chị đã làm mọi cách để xin cho tôi được nghỉ phép hai ngày trước khi đầu quân sang bên kia biên giới Campuchia. Tấm ảnh chụp lúc tôi đòng đòng cháu tôi trên vai trước nhà hàng Givral nằm trên đường Đồng Khởi, sau khi chị em cậu cháu tôi đi loanh quanh phố xá mỏi nhừ rồi chị dốc túi đãi cậu cháu tôi bữa ăn no nê và một chầu kem. Cho đến giờ, cái vị lạnh ngọt thơm ngon của ly kem vẫn còn đâu đó trong ký ức để thỉnh thoảng dậy lên trong tôi cái mùi thơm ngọt lịm của “Những ngày xanh”, nói theo cách mà chị hay nói. Trong ảnh, thằng cháu tôi cầm chặt chùm bong bóng trong tay. Nó đưa chùm bóng căng phồng nhiều màu nhiều sắc về phía trước và tít mắt cười. Tôi vẫn còn nhớ mình đã kịp đưa mắt nhìn khắp lượt cái không gian tràn nắng ấm. Tôi chưa bao giờ được thấy nơi nào đẹp như vậy. Đường phố, góc phố, những tòa nhà tráng lệ và vô số những con người với vẻ mặt khác nhau, những bước đi khác nhau, thong dong, hối hả. Cả chị tôi nữa, chị cũng thật đẹp trong buổi sáng bịn rịn ấy. Chị mặc chiếc áo sơ mi màu xanh nước biển. Chị trẻ trung giống như một cô sinh viên năm cuối hơn là một người đã làm mẹ đứa con trai bốn tuổi. Chị đứng sau người thợ chụp hình, má ửng hồng vì nắng, tóc lòa xòa nơi trán, tay đưa lên ra dấu, vừa trêu chọc cậu cháu tôi vừa nói như hét: “Cười lên! Tự nhiên hơn! Thêm một pô nữa…”. Chị em cậu cháu tôi còn định chụp thêm mấy pô hình trước Nhà hát Thành phố, nơi chị khoe đã một lần được vào bên trong, ngồi vào chiếc ghế bọc nhung và được xem Hồ thiên nga, một vở múa ba lê đã khiến chị khóc khi xem và còn rưng rưng nước mắt mỗi khi nhớ lại. Lúc qua đường, chị em tôi lựng bựng tránh dòng xe lớn, xe nhỏ nối đuôi nhau. Khi bước chân lên được những bậc đá của thềm nhà hát thì người thợ ảnh đã không còn chờ ở đó. Lúc đến cửa hiệu lấy ảnh, chị em tôi không gặp người thợ chụp ảnh để hỏi vì sao ông ta lại bỏ rơi khách hàng như vậy.

Sau này, lúc nằm trong quân y viện, mỗi lần nhớ đến lúc hai chị em đưa mắt dáo dác kiếm tìm người thợ ảnh, tôi lại không sao rứt được ý nghĩ, giá như lúc đó, chị em tôi không bị vướng phải dòng xe, giá như lúc đó người thợ ảnh nán lại ghi thêm vài pô ảnh thì biết đâu… cũng có thể tôi đã không kịp có mặt trên chuyến xe về lại đơn vị vào tối hôm đó. Có thể tôi về đơn vị trễ hơn và chiếc xe đầu tiên vượt qua bên kia biên giới tôi chưa kịp có mặt, có thể tôi sẽ đi vào chuyến xe sau. Và như vậy, biết đâu, chuyến ra quân đầu tiên, tôi đã không vướng mìn.

Mãi về sau, vẫn trở đi trở lại trong tôi cái ý nghĩ: Chuyến xe số phận của kiếp người cũng có thể bất ngờ xoay chiều đổi hướng chỉ trong một tích tắc. Với tôi, dường như cái khoảnh khắc định mệnh ấy đã vướng lại bởi dòng người ngược xuôi trên một đoạn đường có lẽ là đẹp nhất mà tôi từng biết, đoạn đường chạy ngang qua nhà hát của một thành phố có chiều dài lịch sử hàng trăm năm.

Và tấm ảnh trước nhà hát thành phố tuy không được chụp vẫn còn lưu giữ đâu đó nơi ký ức. Hình ảnh tưởng chỉ thoáng qua đó lại chập chờn cả trong lúc tôi rơi vào trạng thái tồi tệ nhất, lúc tôi đau đớn cùng cực, miệng gọi mẹ, gọi chị và đầu óc không ngừng nghĩ tới vốc thuốc ngủ hay đại loại thứ thuốc gì đó có thể giúp tôi ngủ vùi, ngủ mãi.

Riêng tấm ảnh chụp được trước khung cửa kính của nhà hàng Givral vẫn luôn bên tôi. Lúc tôi trúng mìn, chiếc ba lô bị hất lên vùi xuống nhưng tấm ảnh cất dưới đáy ba lô thì vô sự.

Khi đôi chân không còn, tấm ảnh đó cũng còn là một minh chứng, rằng: Tôi, một chàng trai cũng từng có một hình vóc nguyên vẹn, một sinh linh bình thường của tạo hóa. Và rằng, đôi chân tôi từng thuộc về thân thể tôi, máu thịt tôi đang mục rữa ở đâu đó, như bao nhiêu đôi chân, bao nhiêu thân thể đang mục rữa trên mặt đất này.

Chị rời mắt khỏi tấm hình của hai cậu cháu tôi và dán mắt vào bức ảnh bên cạnh. Bức ảnh một con tàu màu trắng đang lướt đi trên mặt biển xanh. Chị đóng chặt cái nhìn vào đó, như muốn kéo con tàu đi ngược lại và neo vào cái bến khuất sóng khuất gió nào đó.

Bất ngờ, chị quay lại tôi, nói:

- Chị nghe cậu đây!

Tôi nhìn thẳng vào mắt chị.

Có lẽ không chịu nổi cái nhìn bất bình lẫn khinh thị của tôi, chị rời mắt khỏi tôi, cúi xuống, rút ra quyển sách Những ngày xanh của Cronin, quyển sách có một ý nghĩa đặc biệt đối với hai chị em, không chỉ từ những nhân vật có cá tính gần gũi dù cho họ sống cách chị em tôi hơn nửa thế kỷ và cách xa chị em tôi gần nửa vòng trái đất, mà còn từ cái cách mà chị em tôi có được nó và ám ảnh bởi những bất trắc từ số phận của những nhân vật mà mình yêu thích; từ trong cái túi xách giả da mà chị đeo bên hông. Nhìn vào bìa sách, tôi biết đó là quyển sách vừa được tái bản. Bản sách vẫn giữ cái bìa cũ, cái bìa vẽ một cô gái tóc vàng đội mũ rộng vành, tên sách vẫn giữ kiểu chữ giản dị quen thuộc, chỉ khác là giấy in bìa dày hơn, đẹp hơn. Chị đưa quyển sách cho tôi, định mở miệng nói gì đó, tôi liền đẩy quyển sách trả lại chị, nói như gào lên:

- Chị dẹp hết ba thứ sách vở phù phiếm đó đi. Chị mơ mộng như cô bé tay còn vương mực tím. Chị nhập nhòa. Chị lầm lẫn... Trời, sao chị điên rồ như vậy?

Tôi như hụt hơi, vội kéo quyển nhật ký yêu đương cháy bỏng của chị mà mấy ngày qua tôi ém nhẹm dưới chiếu, ném về phía chị. Chị không kịp đưa tay đón lấy, quyển nhật ký rơi xoạc xuống nền nhà. Chị vừa nhấc chân, định bước đến chỗ quyển nhật ký, lập tức tôi chặn chị lại:

- Dù có muộn đi nữa tôi vẫn xin chị điều này: Chị mau mau quay về với mái ấm của mình!

Chị nhìn sững tôi. Có lẽ chị bất ngờ với tiếng “tôi” lần đầu tiên bật ra từ miệng đứa em mà chị luôn dành cho thứ tình cảm dịu dàng, che chở. Chị ngỡ ngàng:

- Quay về… mái ấm…

- Phải! Chị mở mắt ra đi. Trời, vàng ròng trong tay mà không biết.

- Út, theo cậu, chị phải làm sao?

Cái giọng bình tĩnh dịu dàng của chị khiến tôi gầm lên:

- Phải phục thiện! Chị phải trở về và quỳ dưới chân người chồng đáng kính kia mà xin được tha thứ.

Đột ngột, chị đứng phắt lên:

- Chị sẽ chờ đến lúc cậu thật sự trở thành một người đàn ông, khi đó, cậu sẽ hiểu chị.

Chị bước đến chỗ quyển nhật ký nằm xoài trên nền gạch. Chị cúi xuống gấp ngay ngắn từng trang và nâng nó trên đôi tay. Dáng vẻ chị thành kính như đang nâng một linh hồn.

 

6

 

Tôi vẫn nương nhẹ chị.

Không phải vì tôi chưa trở thành người đàn ông thực sự như chị nói mà bởi tôi vẫn giữ nguyên vẹn tình thương yêu nơi chị, cho dù chị đã là mẹ của đứa con trai bảy tuổi, cái tuổi mà ngày xưa, nhiều lúc chị đã thay má chăm sóc cho tôi.

Ngày xưa, ở tuổi lên bảy, chị đã bồng ẵm, chiều chuộng, hát ru tôi. Nhiều lần, trong đêm tối mịt chị vừa bơi xuồng, vừa gào, vừa khóc, vừa réo xóm gọi làng và chạy tìm bằng được ông thầy thuốc chữa trị những cơn sốt co giật của tôi. Ở tuổi lên bảy, tôi không hiểu làm sao chị có thể thức trắng đêm để canh cho tôi ngủ. Chị sợ khi chị ngủ quên, cơn co giật có thể làm cho tôi té xuống đất lạnh. Lúc nào tôi cũng muốn giữ nguyên tình thương yêu quyến luyến nơi chị. Một tình thương yêu mà tôi không muốn chia sẻ.

Tôi nhớ, tôi hết sức ngạc nhiên khi biết tin chị sẽ lấy chồng. Và ghét hơn cả là vị hôn phu của chị. Với tôi, tôi cho anh ta là một kẻ quyến rũ từng trải. Còn chị chỉ là một thiếu nữ ngơ ngác, một cô học trò mơ mộng. Trong khi anh ta là kẻ lừa dối có bằng cấp. Cho dù đối với chị, những gì có được từ anh ta: tấm bằng học vấn, cách nói hoạt ngôn, ngón đàn tài tử, giọng hát trầm ấm, vẻ bất cần… đều lung linh trí tuệ, lóng lánh tài hoa. Chị đến với anh ta bằng tất cả sự ngưỡng mộ. Trước chị, anh ta còn như một góc thư viện, không phải là cái thư viện buồn tẻ giống như cái nhà kho chứa những dãy sách bụi phủ mà má tôi đã làm thủ thư trong một thời gian, mà lại là thư viện quốc gia, nơi lưu giữ hàng pho sách quý, nơi mà mỗi khoảnh khắc lưu lại, tìm kiếm là mỗi khoảnh khắc khám phá ra thế giới. Cái thế giới rộng lớn kỳ thú đó cuốn hút chị. Chị háo hức lao vào, háo hức khám phá. Lúc đó tôi chưa thể biết mớ hành trang ít ỏi cho cuộc hành trình mới mẻ của chị. Tôi muốn tìm cách gì đó để trì hoãn chuyến đi mà tôi cho là đường đột của chị. Ngày cưới chị, tôi đã lén giấu dây pháo đi. Mọi người xì xào về lễ cưới vắng tiếng pháo. Có người còn cho đó như điềm gở. Rồi ai đó sục sạo và tìm gặp, lôi dây pháo dài mấy mét mà tôi đã cuộn lại bỏ vào ngăn đựng sách vở học của tôi. Tiếng pháo nổ muộn vào lúc khách đã lác đác ra về. Tiếng pháo lại nổ giòn và kéo dài như những tràng liên thanh. Tôi cuống cuồng chạy đi tìm chị. Chị ở giữa đám đông. Chị rạng rỡ trong nét mặt cô dâu, trong bộ áo cô dâu.

Nét mặt ấy tôi vẫn nhớ. Chị nép bên chồng. Những lọn tóc giả loăn xoăn mà chị đã dành cho nó gần nửa ngày trong cái tiệm uốn tóc ở đầu đường, nơi gắn bảng hiệu sặc sỡ với hình cô gái ngưa ngửa mặt, miệng há ra trước trái táo chín ửng. Từ nơi đó bước ra, chị bị tước mất vẻ dịu dàng quen thuộc. Mái tóc buông suôn dài của chị được đánh rối, chải từng lọn loăn xoăn. Mái đầu chị thành đầu của một bà hoàng thường thấy trên phim. Mái đầu ấy nép bên chồng. Gương mặt chị chín ửng. Vẻ mặt chị rạng ngời.

 

7

 

Vẻ mặt hạnh phúc ngày ấy gần tôi lắm. Tôi gọi chị. Gọi to:

- Chị, chị ơi…

Chị giật mình, quay lại. Và tôi, tôi cũng giật mình bởi tiếng gọi thảng thốt ấy. Tôi dụi mắt, lắc đầu mấy cái, vẫn chưa định thần, chợt nghe tiếng anh tôi:

- Chú mày mơ giữa ban ngày à? Thôi, dậy, dậy đi!

Rắn rỏi, cao to anh tôi đột ngột che mất một phần cửa sổ. Tôi chưa kịp xoay trở đã thấy anh cúi xuống, đưa tay kéo phăng tấm mền đang trùm kín người tôi. Tôi bấu góc mền. Anh giựt phắt chỗ bíu giữ cuối cùng. Trên người tôi, chỉ còn mỗi cái quần đùi. Tôi giãy nảy, chưa kịp buông lời cộc cằn mà tôi vẫn thường dành cho anh, anh đã nhanh hơn. Vẫn cái giọng tưng tửng:

- Nhìn bộ dạng chú mày sắp thành người rừng rồi. Anh đưa chú mày đi tắm rửa, cạo râu để chuẩn bị thắp nhang cúng nội.

Dứt lời, anh xán đến bên tôi. Tôi giãy giụa phản ứng, anh mặc kệ, cứ thản nhiên xốc tôi lên, áp vào người, rồi bê gọn tôi vào nhà tắm. Anh vẫn giữ chặt tôi trên người, một tay với mở công tắc đèn. Khi đèn bật sáng, anh dùng chân đẩy cái ghế thấp vào gần cái bồn nước và đặt tôi ngồi trên ghế. Anh mở cái hộp đựng xà-bông ra, thấy miếng xà-bông tắm màu ngà còn mỏng như cái lưỡi lam, anh đậy hộp nhựa lại, nói:

- Chờ anh một chút!

Anh bước ra, chốt cửa bên ngoài. Chừng hơn phút sau, anh trở vào, tay cầm cục xà-bông Fa, loại xà-bông không dễ tìm dễ mua và quá xa xỉ đối với một gia đình công chức, dù là hạng công chức có cỡ như ba tôi. Anh khòm xuống, xát xà-bông vào người tôi, tôi giật nẩy, la chói lói:

- Anh để mặc em!

Anh để cục xà-bông trước mặt tôi, lấy xô múc đầy nước để cạnh tôi, rồi bước ra, khép cửa buồng tắm.

Cử chỉ gần gũi đột ngột của anh va đập mạnh vào tình ruột thịt mà tôi tưởng đã tê liệt từ lúc tôi trở về từ quân y viện. Mẹ khóc, chị khóc, dường như nước mắt họ để dành tất cả cho tôi. Còn ba, ông nắm bàn tay tôi, bóp nhè nhẹ rồi buông ra. Ông thở dài, đứng nhìn tôi một hồi rồi lặng lẽ ra khỏi nhà, đến chỗ làm. Anh tôi nấn ná, nửa thương hại, nửa an ủi: “Dù sao chú mày cũng được sống sót. Chú mày sẽ không còn phải vật lộn với cuộc sống. Còn anh chú mày đây, chỉ cần một phút lơ là cũng có thể đi đứt, đi đứt tất cả…”. Tôi vẫn còn nhớ vẻ mặt bất an khi anh nói với tôi câu nói đó và mỗi lần nhớ, tôi thấy anh cũng là một kẻ đáng thương. Không nỡ để vợ con phải chịu cảnh sống chật vật như gia đình cha mẹ mình, anh đã chọn cách sống khác hơn với những gì đã được học, được rèn và khác xa nếp nhà mà anh sinh thành. Sự chọn lựa của anh khiến ba tôi không kềm được sự giận dữ dù ông là người nhã nhặn. Dù cố lẩn tránh nhiều lần ba tôi và anh tôi cũng chạm mặt nhau. Lập luận có tình có lý của ba tôi thường khiến anh tôi bừng bừng khẩu khí. Anh nhìn ba, gân cổ cãi: “Con chỉ làm những điều luật pháp không cấm”. Ba tôi bước ra, khép cửa, khóa chốt bên trong rồi quay lại anh tôi: “Luật pháp ta còn quá nhiều chỗ hở, nếu là một người tốt, con phải góp phần lấp kín chỗ hở đó?”. Anh tôi nói luôn: “Ở nhà mình có nhiều người quá tốt rồi nên con không cần phải tốt như vậy để dễ sống hơn!”. Ba tôi giận run, dù cố nén. Trước khi ra khỏi nhà, anh bước vào chỗ tôi. Anh nhét mớ tiền dưới gối tôi: “Chú mày giữ lấy để tiêu xài, có gì gọi điện thoại cho anh!” rồi đi. Tôi nghe tiếng mở chốt cửa, và nghe được cả nỗi đau câm nín từ ba.

Nỗi đau đó không nén được lâu. Ba tôi trút cho má. Má tôi đứng ngồi không yên. Bà dốc sức làm nhịp cầu. Nhưng chưa lần nào, ba tôi và anh tôi cùng nhau bước đi trên nhịp cầu đau đáu yêu thương đó. Gập ghềnh. Chênh vênh. Giữa ba tôi và anh tôi hình như không cùng điểm đến dù họ cùng có chung những điều hết sức thiêng liêng.

Và cũng vì còn chung những điều thiêng liêng, mà anh tôi có mặt hôm nay, ngày giỗ ông tôi.

Tôi nhìn xuống cái bụng đang đói của mình. Tôi cầm cục xà-bông thơm của anh xát khắp bụng, khắp ngực, rồi cổ, vai, tay, hai khúc đùi còn lại và sau hết, chà nhè nhẹ vào chùm sinh dục nhão nhẹo.

Đó là chỗ tôi luôn kỳ cọ kỹ lưỡng nhẹ nhàng và âm thầm nhận ra sự khỏe mạnh nguyên vẹn trong cái thân thể tật nguyền của mình. Tôi xối nước. Bọt xà bông trôi đi, mùi thơm trôi đi, còn lại khúc thân thể trần truồng lệch bệch trên nền gạch trơn trợt. Lúc đó tôi mới chợt nhớ, lúc vào đây, tôi không kịp mang khăn tắm và quần áo. Lẽ ra tôi phải đập cửa, kêu ai đó mang khăn, mang quần áo thì tôi lại cúi xuống, đưa tay nâng đỡ rồi ve vuốt cái bộ phận đàn ông của mình.

Tôi ve vuốt cho đến khi “thằng nhỏ” ấm lên, săn lại, nóng hổi sinh lực. Tôi tiếp tục vuốt ve cho đến khi thốn đau, đau thốn lên ngực rồi rân rân từng tế bào thịt da cái nỗi khát khao một thân thể lành lặn. Khao khát một thân thể… khác mình.

Tôi lại dội nước. Dội xối xả. Dội cho đến khi nhấn chìm hết mọi thèm muốn thì thịt da tôi bắt đầu nổi gai, ớn lạnh. Tôi chưa kịp đập cửa gọi thì anh tôi trở vào. Anh cầm khăn lau nước khắp người tôi. Anh đưa bộ quần áo mới toanh mà anh vừa mua cho tôi mặc. Lúc nhìn tôi mặc quần áo, anh cười nói:

- Chú mày có bộ râu khá được đó!

Tôi không thể rướn cao hơn để nhìn được mặt mình qua tấm gương mờ mờ trong phòng tắm. Tôi đưa tay sờ lên mặt mình, sờ bộ ria mọc lởm chởm.

Anh tìm thấy dao cạo của ba trên chỗ để kem, bàn chải, rồi ngồi thụp xuống và chỉ vài phút thao tác, anh làm da mặt tôi nhẵn nhụi. Anh bê tôi ra khỏi nhà tắm, bê thẳng tôi ra nhà trước, nhưng rồi bất ngờ rẽ ngoặt lại, bước vào phòng tôi, và đặt tôi ngồi trên xe lăn.

 

8

 

Anh tôi đẩy tôi ra phòng khách, nơi tạm đặt chân dung của nội bên cạnh mâm cơm cúng.

Anh đặt tôi ngồi giữa tình huyết nhục trước bữa cơm giỗ nội.

Chân dung nội và bình hương được đặt trên cái bàn thấp phủ tấm nỉ màu xanh lá kê giữa phòng khách. Anh tôi đặt bình hoa huệ trắng muốt cạnh bức chân dung nội. Hương huệ thoang thoảng lan. Anh bước đến, đưa tay chỉnh sửa bức chân dung của nội. Anh để bức chân dung hơi ngả về phía sau. Ở tư thế đó trông ông nội như được thư nhàn. Hài lòng với sự sắp đặt của mình, anh rút ba nén nhang, thắp lên. Anh cúi đầu trước chân dung nội, nói thành tiếng:

- Nhờ phúc đức ông bà mà con cháu mới có được ngày hôm nay!

Giọng anh chân thật, mặt anh chân thành, cả khói nhang cũng vấn vít chứng kiến lòng thành. Điều anh vừa nói, có lẽ không dành cho riêng anh. nhưng điều anh nói lại không đúng cho tất cả, nhất là đối với đứa em tàn tật của anh. Như cùng một lúc, má tôi, cô tôi, chị tôi đều nhìn tôi. Tôi ngồi chết cứng trong chiếc xe đẩy mà tôi ít khi dùng, trừ những dịp tết nhứt giỗ kỵ. Tôi ngây người chống đỡ những ánh mắt ruột thịt. Và cả nội nữa. Ông cũng đang nhìn tôi.

Vẫn cái nhìn ấy, khoảnh khắc ấy…

Vừa muốn trả nghĩa, cái nghĩa huyết nhục lại vừa oán trách là trạng thái thường trực của ba tôi dành cho người cha không tròn trách nhiệm làm cha. Khi đứa con mất mẹ chưa biết nói biết đi, ông nội tôi đã bán sạch nhà cửa đất đai và bỏ mặc đứa con côi cút cho bà mẹ vợ. Ông theo một người đàn bà trẻ đẹp, bỏ quê ra thành thị, thử làm nhiều việc và sống được bằng cái nghề đánh bài tứ sắc cho đến khi chân run, mắt mờ. Cô và chú tôi không rơi vào tình cảnh bị hắt hủi như anh trai. Cô chú còn được ông tôi đưa đến nhà thờ làm lễ rửa tội, dù có thể ông cũng thừa biết lầm lỗi do con người gây ra thường không dễ gì gột rửa, cho dù đó có là nước thánh.

Với ba tôi, ký ức có được về người cha, dù là qua lời kể, không tìm thấy chút yên ắng nào. Trong thẳm sâu, mớ ký ức tăm tối đó có sức tàn phá âm thầm, dù ba tôi đã cố gắng vượt qua bằng nghị lực và ý chí của một người đang thực thi các sứ mệnh hàn gắn và hồi sinh.

Những tháng ngày già yếu bệnh tật cuối đời, nội tôi được ba tôi rước về nuôi dưỡng bằng trách nhiệm của người con cả. Mỗi tối, ông tranh thủ thời gian ngồi cạnh cha ít phút, khi nắm tay, khi trò chuyện năm ba câu về thời tiết, về sự thay đổi thất thường của trời đất, những đề tài mà cả hai đều không mấy quan tâm. Bởi, dù trời nắng như đổ lửa hay mưa gió sụt sùi thì nội tôi vẫn không thể đi đâu khác hơn ngoài phòng khám, giường bệnh và ngôi nhà tạm thuộc quyền sở hữu của con trai. Còn ba tôi dù trời hạn hán hay lũ lụt ông vẫn có mặt đúng giờ, đúng hẹn ở công sở hay trong các cuộc hội họp, gặp gỡ, kể cả những nơi heo hút cách một hai ngày đường, khi đi tàu, khi đi vỏ lãi, khi đi xuồng chèo và có lúc phải xắn quần lội sình lầy. Dù cố gắng lắng nghe nhau nhưng dường như nội tôi và ba tôi chưa lần nào trò chuyện thân mật và cũng chưa nhìn thẳng vào mắt nhau. Với nội, người đã tự tước mất cái quyền làm cha ngay từ lúc ông bỏ rơi con mình, ông âm thầm sống trong mặc cảm và sợ mình mắc thêm lỗi lầm. Ông sợ tiếng nói làu khàu của mình có thể làm mất giấc ngủ của con trai. Ông cũng sợ việc đi lễ nhà thờ thường xuyên sẽ làm cho ba tôi khó chịu. Ông thường lẩm nhẩm đọc kinh và lần chuỗi hạt sau khi đã ý tứ tắt bóng đèn treo lơ lửng chỗ đầu giường, dù ba tôi đã cất tiếng ngáy.

Và để tròn bổn phận đứa con hiếu nghĩa, ba tôi cũng đã giang vòng tay đón lấy hai đứa em cùng cha khác mẹ, dù cho vòng tay ấy đã không đủ rộng để níu giữ chú tôi.

Dù đã cố gắng thật nhiều, khoảng cách giữa ông tôi và ba tôi, vẫn khó thu hẹp, khi một người nặng trĩu cái gánh mặc cảm lỗi lầm, còn một người gắng gượng trong tâm thế của kẻ vị tha.

Sự xa cách giữa ba tôi và nội tôi đẩy má tôi lâm vào tình thế khó xử.

Khi không làm được nhịp cầu nối kết giữa chồng và con, bà càng không thể đặt được viên gạch trên lối đi khập khênh của chồng và cha chồng. Tách trà thơm, mâm cơm bốc khói, những câu chuyện rời rạc về nắng mưa chỉ giữ ông tôi và ba tôi nấn ná bên nhau chớ không đẩy được họ đến gần nhau.

Ký ức đã không có nhau, hiện tại lại càng khó tìm thấy nhau dù đó là hai con người ruột rà ở cùng một mái nhà và ăn cùng một mâm cơm.

Dần dà, má tôi phải dọn cho ông tôi ăn riêng để cho ông khỏi phải chờ đợi và ba tôi không phải áy náy mỗi khi có việc ông phải về muộn. Và, cũng để ông và cả ba tôi nữa đều có thể dễ cựa quậy, dễ xê dịch hơn trong cái giới hạn cách biệt của mình.

Với tôi, lúc đó tôi luôn đứng lệch về phía ba. Tôi tin là ông tôi bị chứng bệnh truyền nhiễm nào đó nên ăn uống phải cách ly. Trước mắt tôi, những cơn họ sù sụ của nội, chứng tỏ lũ vi trùng nguy hiểm đang gặm nhấm và hành hạ thân xác ông. Và, trước mắt tôi, nội tôi chẳng khác gì con vi trùng lao khổng lồ, trắng lốp. Ông toàn mặc trắng. Mái tóc trắng, chân mày trắng, râu ria cũng trắng. Trắng đến nỗi, quanh ông mọi thứ đều ngả màu, xỉn đi. Tôi ghê ghê người mỗi khi nhìn thấy màu sắc, vật dụng quanh ông. Cái hũ rượu ngâm con tắc kè lềnh bềnh trong đó mà nhiều lần tôi thấy ông dùng ly múc từ đó ra thứ nước có màu vàng sẫm, cho đến sau này tôi mới biết nó hao hao màu hổ phách mà ông thường uống trong lúc ăn cơm, luôn khiến tôi rờn rợn. Tôi còn ghê sợ cả chính ông. Khi phải chào ông, tôi miễn cưỡng. Cái cổ tôi cứng đơ như bị nẹp ván, đầu gục xuống khó khăn kéo theo bộ mặt uất ức vô cớ.

Và lần cuối cùng vào một trưa đổ nắng, sau một buổi học nóng bức mệt nhừ, tôi trở về nhà và không còn chịu nổi khi thấy ông ôm ngực và khục khặc ho. Tiếng ho như không chịu dứt, một tay ông vuốt ngực, một tay chỉ vào dĩa khoai luộc mà ông cẩn thận bọc vào trong một lớp ni-lông để giữ nóng. Tôi quăng cái cặp học lên ghế rồi bước đến chỗ dĩa khoai ông đặt trên đầu giường. Tôi cầm củ khoai còn âm ấm trong tay. Ông nhìn tôi, chưa kịp nói tiếng nào, cơn ho lại chẹn lấy cổ họng ông. Không chịu nổi cơn ho và cũng không chịu được sợi dây huyết nhục ràng rịt ngột ngạt, thình lình, trước đôi mắt rụt rè yêu thương của ông, tôi quăng mạnh củ khoai ra khỏi cửa như vứt đi thứ rác rưởi bốc mùi.

Ông ngồi bất động ở mép giường, cơn ho cũng ngừng bặt. Rồi ông đưa mắt nhìn theo củ khoai bung nứt nát nhừ trên mặt đất. Nhìn trân trối. Cái nhìn đau đớn, sững sờ. Như ông đang thấy tôi nghịch ngợm leo trèo và bất ngờ ngã xuống từ trên một cành cao.

 

 

 


PHẦN HAI

 

1

 

- Anh hai, anh hai về!

Tiếng reo của cô tôi đột ngột khép lại hình ảnh té ngã, trầy sướt máu me của chính tôi trong lớp ký ức mong manh về ông tôi.

Ba tôi về lúc thức ăn đã bốc hết khói, lúc mọi người đang nhấp nhổm ngóng trông. Má tôi giục ba tôi:

- Mình thắp nhang cho ba đi!

Bà thắp ba nén nhang đưa cho ba tôi. Đặt ba nén nhang giữa lòng bàn tay, ông chấp lại trước ngực. Ông ngượng nghịu bước đến trước bàn thờ, đưa đôi tay xá xá mấy cái, rồi nói thành lời:

- Con mời ba, con mời… má nữa, cùng về ăn bữa cơm sum họp với con, với cháu!

Ông nói to, nói rõ như thể ông tôi đang mải đánh bài tứ sắc mà đôi tai thì nghễnh ngãng. Tuy vậy, giọng nói và cách nói của ông vẫn có cái gì đó như thiếu trang nghiêm. Giọng điệu trong câu nói như têu tếu, hài hước. Trong khung cảnh đầm ấm khói hương, cái giọng khôi hài quen thuộc của ba tôi không đưa ông đến gần hơn với những người thân mà lại như tách ông ra. Ông như đang đứng một mình đưa mắt quan sát hơn là nhập cuộc, dù là cuộc tưởng nhớ người cha mình.

Ông vừa muốn những người quanh ông được tự do như chim trời, được sải đôi cánh dưới bầu trời tâm tưởng, nhưng đồng thời ông lại sợ tự do sẽ kéo những người thân của mình lạc hướng. Ông muốn họ biết phủ nhận thẳng thừng mọi mơ tưởng về một thế giới huyền bí linh nghiệm nào đó vượt ngoài tầm kiểm soát của ý thức. Còn con người bình thường như ông tôi, thậm chí còn dưới mức bình thường bởi lấy cái nghề cờ bạc làm kế sinh nhai thì khi chết là hết, là chỉ còn tro bụi. Còn sự linh thiêng luôn thuộc về cõi bất tử và đáng được coi là bất tử khi được đời đời tưởng niệm. Khi ấy, sự bất tử không còn là của riêng một ai, nó trở thành giá trị tinh thần của tất cả.

Im lặng. Chỉ có khói nhang lan tỏa, mùi thức ăn lan tỏa. Không gian trầm mặc. Ba tôi bước lui hai bước, hai tay thọc vào túi quần, khuỷu tay khuỳnh khuỳnh hai bên, đưa mắt hướng về chân dung nội. Ông dừng mắt ở đó, lặng yên. Lúc đó không biết sao, tôi lại tin là ông đang nghĩ đến những khoảnh khắc cuối cùng của cha mà ông không có mặt, cũng như tình yêu thương mà ông dành cho cha cũng chỉ là những khoảnh khắc, những khoảnh khắc trong cái quỹ thời gian ông dành cho công việc, dành cho mọi người. Bất ngờ tôi nghe ba nói:

- Con chúc ba, con chúc má… ăn ngon miệng. Bao nhiêu năm gia đình mình mới có dịp họp mặt quây quần đông đủ như vầy…

Lần thứ hai ba tôi nhắc đến mẹ và lần này thì những người có mặt hình như đều nhìn nhau và nhìn theo đám khói trắng vấn vít quanh di ảnh ông tôi, nơi bên cạnh, lẽ ra là di ảnh của bà tôi hay ít ra cũng là hũ tro hài cốt của bà.

“Bao nhiêu năm gia đình mình mới có dịp quây quần…”, có lẽ đây là câu nói của đứa con mà vong linh đấng sinh thành đang chờ đợi. Nghe vừa chân thành lại vừa chứa đựng nỗi niềm. Và day dứt. Day dứt vì dúm lửa tình phụ tử nơi ba tôi đã chưa kịp bén thành ngọn. Ông tôi ra đi trong sự thiếu vắng của cả hai người con trai. Cho đến khi ba tôi trở về, đưa tay vuốt mắt, mắt ông tôi mới khép lại.

Bất giác, tôi nhìn chân dung ông tôi rồi nhìn ba. Chưa lúc nào tôi thấy ba tôi giống ông tôi như lúc này. Gương mặt vuông, vầng trán cao, mắt sâu, mũi thẳng. Và đôi tay nữa. Ông tôi ngồi trước bàn trà, duỗi thẳng đôi tay xuống đầu gối. Đôi tay giống hệt đôi tay ba tôi với cái dáng vẻ đầy đặn, ngón thon dài, mềm mại. Đôi tay của cả hai người đều không thể lao động tay chân nặng nhọc. Đôi tay không biết cầm cuốc, cầm cày. Đôi tay cũng không thể cầm gươm, cầm súng. Ba tôi cầm bút, còn ông cầm những lá bài. Có lẽ ba tôi cũng nhận ra được hình dáng mình từ vóc dáng người cha. Ông chợt bước tới, sửa lại cành huệ che một phần chân mày của cha. Rồi ông bước trở lui và đứng lặng, nhìn cha.

Nhìn ba đứng lặng lẽ giữa tình thân, tôi không nghĩ gì khác ngoài ý nghĩ, có lẽ ông đang nghĩ đến ngày mai của mình, nghĩ đến cái tuổi sắp nghỉ hưu của mình, nghĩ những ngày tháng già nua bệnh tật mà ông tôi đã trải và nghĩ đến cuộc sống hữu hạn và cái sự sống vô hạn mà ông luôn bận tâm và đang dốc hết lòng, hết sức vì nó.

Trên lư hương, tàn nhang uốn cong lại thành những vòng tròn lớn nhỏ, chen chúc, xoắn xuýt. Má tôi nhìn chồng, hân hoan:

- Ba má chứng kiến tấm lòng của ông rồi đó!.

Ba tôi cũng hân hoan. Ông đưa mắt nhìn khắp lượt như muốn chia sẻ niềm vui mới lạ mà mình vừa có được. Ba cúi xuống vò tóc tôi:

- Con thắp nhang cho nội chưa?

- Nó là người thắp nhang sớm nhất!

Má trả lời thay tôi.

Ông lại cúi xuống vuốt vuốt tóc tôi:

- Được, được lắm!

Rồi như sực nhớ, ông hỏi chị tôi:

- Chồng con con đâu, sao chưa tới?

Không đợi chị tôi trả lời, ông nhìn mọi người, giục:

- Nào nâng ly!

Khi ăn chén cơm, có lẽ do đợi chờ, do hoài mong mà những hạt cơm trong miệng tôi mềm lạnh khác thường. Chừng như chén cơm thấm ướt những giọt nước mắt hoan hỉ của nội tôi.

Ba tôi lặng lẽ và cơm. Ông nhai chậm như muốn cảm nhận cho hết dự vị mặn ngọt khác thường của nó. Ông ăn được lưng chén cơm, điện thoại đặt trên cái lưng con voi gãy vòi reo.

Má tôi thở phào, đưa mắt nhìn từng người như vừa giật được một chiến tích khi nghe ba tôi khước từ lời mời ông đến dự buổi liên hoan nào đó. Ba tôi nói rõ lý do: “Phải ở nhà cúng cơm ông già”. Sự lựa chọn dứt khoát của ba là phần thưởng bất ngờ mà ông dành cho mọi người. Không khí rôm rả hẳn lên. Mọi người nhích về phía ba và nâng ly.

Má rót thêm bia vào ly cho tôi, cho anh tôi, chị tôi, cô tôi và rót vào ly cho mình. Rồi bà đưa ly bia chạm vào ly bia ba nghe một cái “keng”, rồi nói:

- Cả nhà uống với ông!

Tôi uống. Anh tôi uống. Chị tôi uống. Cô tôi uống. Ba tôi cũng uống. Không uống nửa ly mà dốc ly, uống cạn. Người tôi rân rân. Không biết do men bia ngấm vào máu hay do tình máu mủ đang chảy tràn trong huyết quản. Má tôi còn sung sướng hơn cả tôi. Bà lật đật thắp ba nén nhang đưa cho chồng:

- Trước bàn thờ trời phật, tổ tiên, và trước vong linh của ba, của má, ông hứa là cả nhà mình sẽ tìm cho được hài cốt của mẹ, hứa đi ông!

Nhiều lần tôi nghe má nói về những tiếng gõ cửa giữa khuya khi bà mỏi mệt gục đầu trên bàn máy may và cả những lúc nằm trằn trọc cạnh ba tôi. Má nói tiếng gõ thật khẽ, khẽ như ngón tay của gió. Đôi lần tôi thấy gai gai người khi nghĩ, biết đâu, đó là tiếng gọi của bà tôi, của chú tôi và của đứa em gái chưa biết khóc của tôi.

Như kẻ bước quá đà, ba tôi chới với, lảo đảo rồi nhanh chóng lấy lại thăng bằng. Ông lịu nghịu cầm mấy nén hương từ tay vợ:

- Ờ… ờ… hứa thì hứa!

Người vỗ tay lớn nhất lại là chị tôi. Tiếng vỗ vừa to vừa kéo dài của chị khiến ánh mắt ba tôi dừng lại gương mặt chị, lặp lại câu hỏi:

- Sao chồng con con chưa tới?

Chị tôi nhìn ông:

- Như vầy cũng… đủ ấm mà ba.

Chị nâng ly bia chạm vào ly bia của ba:

- Lâu quá rồi nhà mình chưa được nghe ba hát. Ba hát đi ba!

Mọi người hưởng ứng đề nghị của chị. Ba gỡ cây đàn ghi-ta phủ bụi mắc trên tường xuống. Chị tôi lật đật tìm khăn lau bụi bám trên đàn và trao lại cho ba tôi. Ông cầm đàn, chậm rãi so dây. Chị tôi lại yêu cầu:

- Hát Tình ca đi ba!

Ba gảy những nốt nhạc đầu tiên, gật gù: “Khi cất lên tiếng ca gởi về người yêu phương xa…”.

Ông hát câu hát đến lần thứ ba vẫn chưa ăn nhịp với tiếng đàn. Trúc trắc đâu đó nơi giọng hát. Trúc trắc đâu đó ở cảm xúc. Má tôi tìm cách giải cứu cho ông. Bà nhìn chị tôi:

- Bắt ba mày hát Tình ca thì ác quá!

Và bỗng bất ngờ như tìm thấy một kỷ vật, bà reo lên:

- Nhạc rừng, mình hát Nhạc rừng đi!

Nói xong bà chạy đi. Một phút sau, bà quay trở lại, cây đàn măng-đô-lin trong tay với ánh mắt rạng ngời.

Đã thật lâu, má không đàn và cất cây đàn một chỗ nào đó trong buồng ngủ của ba má, dù tôi biết bà vẫn muốn được chơi đàn, như ngày nào, thỉnh thoảng, sau những lúc làm việc đầu tắt mặt tối, cứ tưởng bà không có ước muốn nào hơn là được nằm xoải ra giường và nghỉ ngơi, vậy mà bà vẫn ôm đàn, so dây và khích lệ chị em tôi hát theo những bản nhạc từ tiếng đàn. Chị em tôi không ai có giọng hát truyền cảm như ba và cũng không ai có được ngón đàn điêu luyện của má. Tôi vẫn thích nghe má vừa đàn, vừa hát: “Ới này cô thôn nữ, nắng tắt rồi còn tiếc chi chưa ngừng tay…”, bài hát này sau đó, tôi mày mò và thổi những giai điệu của nó vào tiếng kèn ác-mô-ni-ca, một nhạc cụ duy nhất mà tôi chưa rời xa, kể cả những ngày nằm trên giường bệnh.

Má tôi chậm rãi gỡ bao đàn và cũng chậm rãi so lại dây. Trông dáng má ngồi nghiêng nghiêng, đầu cúi xuống những phím đàn, bàn tay thô ráp hằn rằn rịt những đường gân xanh, tự dưng, sống mũi tôi cay cay.

Sau một hồi ngập ngừng, tìm kiếm, má tôi ba tôi gặp được nhau bằng chất giọng nữ cao của má và giọng nam trầm của ba. Họ nâng đỡ nhau rồi hòa vào nhau và dắt dìu nhau vào cảnh rừng suối thơ mộng để cùng chìm đắm trong tiếng nhạc rừng, trong thứ cảm xúc mà cả hai vừa khơi dậy.

Tôi ngỡ ngàng. Mọi người ngỡ ngàng. Anh tôi còn chắc lưỡi xuýt xoa nghe thật rõ. Cả con Phèn cũng rướn cái mõm về phía tiếng hát tiếng đàn và vểnh đuôi ngoe nguẩy.

Phút chốc, ba tôi má tôi như thoát khỏi tất cả: những ràng buộc của trách nhiệm, những niềm vui chóng vánh, những nỗi đau câm lặng, những điều phải đánh đổi, phải hy sinh, phải âm thầm chịu đựng và cả những ám ảnh về những tiếng gõ cửa thật khẽ trong đêm.

Nét mặt cả hai bừng lên thứ ánh sáng trong trẻo, tinh khôi của ký ức.

 

2

 

Anh rể dẫn con trai của anh đến giữa lúc ba tôi má tôi chiều theo yêu cầu của mọi người hát lại lần thứ ba bài Nhạc rừng.

Sự có mặt trễ tràng của người con rể bất chợt làm những sợi dây đàn chùng xuống. Ba tôi ngập ngừng mấy nhịp đàn. Má tôi cũng lịu nghịu, lỗi nhịp. Phải mất mấy phút, ba tôi, má tôi mới tập trung vào nốt nhạc, lời hát.

Anh rể lặng lẽ bước đến bàn thờ rút mấy nén hương, thắp lên bằng cái quẹt ga móc từ túi áo, lấy bàn tay phủi tắt ngọn lửa, chắp vái chậm rãi trước vong linh nội.

Con trai anh chạy lại chỗ mẹ, phụng phịu. Con Phèn rời khỏi tôi mon men đến bên thằng bé. Chị tôi xua con Phèn ra, kéo con trai ngồi xuống cạnh mình, lấy chén gắp thức ăn cho nó. Thằng bé chỉ vào cái càng cua rang muối. Chị tôi lấy càng cua, gỡ vỏ lấy thịt đút vào miệng con trai. Thằng bé nhai nuốt trông thật ngon. Tôi cũng bẻ một càng cua trong dĩa, tiếp chị, gỡ thịt đút cho thằng bé.

Anh rể tôi rời chỗ cúng nội, bước lại, ngồi xuống bên tôi. Tôi đẩy chén đũa về phía anh. Anh cầm chén cầm đũa, ơ thờ nhìn thức ăn, chẳng gắp món nào, rồi đặt chén đũa xuống. Anh móc từ túi áo ra bao thuốc, rút một điếu châm cho mình rồi đặt bao thuốc ra trước mặt.

Anh trai tôi khó chịu trước cử chỉ đó. Anh đẩy bao thuốc ba số 5 về phía anh rể và hất hàm mời. Anh rể vẫn điềm nhiên trước cách mời xấc xược của thằng em vợ. Anh rít thuốc, nhả khói và trầm ngâm nhìn khói thuốc. Hai người, anh rể và anh trai, khác nhau như hai bao thuốc trước mặt. Một người cũ kỹ trong pháo đài xám xịt của thói quen nhàn nhã, an phận. Một người hào nhoáng, không ngừng xê dịch kiếm tìm cơ hội thoát khỏi xích xiềng của lề thói và nghèo khó. Khói thuốc khen khét của anh rể khiến anh trai tôi nhăn mặt, lấy bàn tay xua đám khói xám.

Anh rể tôi chợt bừng tỉnh khi tiếng vỗ tay vang lên. Má tôi ngưng đàn, với lấy ly nước uống liền mấy ngụm. Ba tôi đặt cây đàn qua một bên, móc khăn mặt từ túi quần ra lau mồ hôi rịn ướt nơi trán, nơi cổ. Không hiểu sao, tôi nghe mình buột miệng:

- Hát đi, anh hai!

Má tôi lấy tay quệt mồ hôi tươm ướt nơi trán, quay qua anh rể, khích lệ:

- Con hát một bài đi!

Anh rể tôi không uống ly bia tôi rót cho anh mà cầm chai rượu trắng, chai rượu chưa ai đụng vào, vẫn còn đầy đến cổ, tự rót vào ly cho mình. Anh nâng ly lên rồi dốc ngược vào cổ họng.

Uống cạn ly thứ ba, anh rể đặt ly xuống, với tay cầm cây đàn ghi-ta mà ba tôi vừa đặt xuống. Vẻ mặt căng thẳng của anh làm mọi người căng thẳng chờ. Anh rảy những nốt nhạc và cất lên lời hát: “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng. Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang…”. Anh ngân nga, chậm rãi, dìu dặt, tha thiết rồi đột ngột, lời hát, giai điệu từ anh bục ra như con đê bị vỡ: “…Rượu cạn ly uống say lòng còn giá…”. Anh lập đi lập lại: “Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng. Đường thênh gió lộng một mình ta. Rượu cạn ly uống say lòng còn giá…”. Dòng thác âm thanh cuồn cuộn, trào dâng, cơ hồ đủ sức nhấn chìm sự bình yên của những người có mặt. Ba tôi lên tiếng:

- Say rồi! Tốp! Tốp!

Giọng ba bực bội, bất bình, dù ông thừa biết với vài ba ly rượu gạo, con rể ông chưa thể say. Ông vốn không quen và không muốn nhìn nỗi đau bộc lộ. Cả tôi nữa, tôi cũng muốn anh kìm giữ, dù tôi biết, nơi anh, nỗi đau đang gào thét.

Anh rể tôi trả đàn về chỗ cũ, nói lời từ giã mọi người, rồi đi vòng qua chỗ thằng con trai đang ngồi cạnh mẹ. Anh cúi xuống, nhấc bổng thằng bé lên, xốc nó lên vai, bước đi. Thằng bé giãy giụa:

- Mẹ ơi, mẹ ơi…

Chị tôi vụt đứng lên, ghì giữ thằng bé lại. Anh rể tôi lạnh lùng gỡ tay vợ ra, bước thẳng. Chị tôi chạy theo, nói điều gì đó với chồng. Anh rể tôi gầm gừ điều gì đó nơi cổ họng, rồi chuyển thằng bé ra trước ngực, ôm gọn rồi bước ra khỏi cửa. Chị tôi luýnh quýnh chạy theo chồng, con. Con đường trước chị đã tràn bóng tối.

Ba tôi, người đầu tiên lên tiếng để khỏa lấp không khí nặng nề mà anh rể và chị tôi để lại. Ông nói một cách ví von, rằng đó là nốt trầm trong bản nhạc cuộc đời mà anh chị tôi đang nếm trải. Ông đề nghị những ai nãy giờ ngồi thưởng thức thì giờ phải góp phần. Ông nhìn quanh, nói:

- Nào, hát hay không bằng hay hát!

Cô tôi, người lúc nào cũng e dè khép nép như sợ mình vụng về chạm vào thứ gì đó và làm đổ vỡ. Cô ngồi thẳng lên, kéo ngay ngắn vạt áo, rụt rè:

- Em hát một bản vọng cổ được hôn anh hai?

Ba tôi nhìn cô, khích lệ:

- Em hát đi!

Cô tôi ngượng nghịu, ngập ngừng, rồi bắt đầu cất tiếng: “Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi. Đường dài mịt mù anh không đến nơi…”.

Cô hát say sưa, đẩy đưa nhấn nhá và thể hiện được nỗi đau thương cách biệt của đôi trai tài gái sắc trong chinh chiến, khiến tôi, má tôi và anh tôi đều hồi hộp lắng nghe và thích thú ra mặt.

Dứt sáu câu vọng cổ, má tôi xuýt xoa:

- Cô hát mùi quá!

Ba tôi lại nói:

- Nghe não nuột quá!

- Vọng cổ mà anh hai - Cô tôi lên tiếng.

Ba tôi cầm đàn lên, rảy nhẹ:

- Em hát thêm một bài tân nhạc đi!

Giọng cô tôi chợt buồn:

- Phải chi thằng út có ở đây…

Câu ước bất ngờ của cô tôi làm những người có mặt như chới với và vội nhìn nhau. Ba tôi buông đàn xuống. Ông đi pha bình trà. Má tôi giục mọi người ăn tiếp nhưng lại đưa mắt nhìn ra ngoài cửa. Tôi cũng nhìn theo. Chỉ thấy bóng tối đang trùm xuống. Hình như má tôi mường tượng bóng dáng của chú bước ra từ bóng tối. Bà quay sang cô tôi, nói:

- Thỉnh thoảng chị nằm chiêm bao thấy chú út về nhưng chưa lần nào thấy chú hát.

- Nó hát tân nhạc hay lắm- Cô tôi nói.

- Chị nghe tiếng chú gọi nhưng không biết sao, chị không nhúc nhích được, chân nặng như bị cùm - Má tôi đưa tay chỉ vào cánh cửa có cái chốt hoen gỉ trước mặt - Hình như chú gõ vào cánh cửa này…

Có lẽ đó là những tiếng gõ cửa khe khẽ vẫn ám ảnh má tôi.

Ba tôi ngồi vào chiếc ghế của mình, nhìn má:

- Mình tin vào mộng mị à?

Má tôi nói luôn:

- Cả ông nữa, tôi cũng thấy ông ngủ như chết, mặc cho chú gọi.

Như thấy câu chuyện vòng vèo lệch sang một hướng khác, anh tôi lên tiếng, giọng anh như pha trò:

- Tại chiêm bao má không gọi con, chớ có con, con đã lo ba cái vụ cửa nẻo đó rồi.

Má tôi nói với anh tôi:

- Thôi, đừng lo vụ cửa nẻo trong chiêm bao, mà con lo sửa lại cánh cửa dùm má đi.

- Việc nhà mình mình lo, sao bà lại nhờ nó?

Má tôi nói ngay:

- Nó là con cái trong nhà, không nhờ nó giúp được sao, ông?

Ba tôi cố giữ điềm tĩnh:

- Tôi chỉ lo nó giúp cũng giống như thằng út giúp, giúp kiểu đó có khác gì báo hại.

Má tôi nhìn ra cửa, im bặt.

Trong những người có mặt quây quần trước mâm cơm cúng nội, có lẽ chỉ mỗi cô tôi là không biết được việc chú tôi đã mắc vào cái tội… ăn cắp điện. Chú mày mò cải tiến cái tủ lạnh bình thường thành cái tủ lạnh đông được nhiều đá cục để má tôi bán cho cái quán nước gần nhà, góp thêm vào số tiền đi chợ vốn ít ỏi mỗi ngày. Để ít tiêu tốn tiền điện, chú đã lén gỡ niêm phong đồng hồ điện, xoay kim đồng hồ chạy chậm lại.

Và có lẽ, chú cũng không ngờ, từ một việc làm tưởng là giúp ích cho gia đình anh mình, chính chú đã xoay ngược cuộc đời chú, đẩy chú vào ngõ cụt. Rồi đến khi cùng đường, chú cũng đã lén lút mở cho mình một lối đi, một lối đi trên biển cả mênh mông và không hẹn ngày về.

 

3

 

Má tôi mấy lần đưa mắt nhìn đồng hồ treo tường, rồi nhìn ba. Thấy ông trò chuyện thân mật với cô tôi, má chen vào:

- Cô nó phải về cho kịp chuyến tàu khuya đó ông!

Ba tôi nói:

- Vậy thì mình tiễn em nó về!

Má tôi ngập ngừng:

- Giờ này… chắc khó đón xe. Hay… mình cho xe đưa cô sắp nhỏ về…

Khi biết rõ yêu cầu của má, ba tôi tránh cái nhìn hồi hộp của má tôi.

Ông đưa mắt nhìn ra đường. Bất giác tôi cũng nhìn theo.

Trong khoảng sáng lờ mờ của bóng đèn đường, trên con đường lồi lõm trước mặt, một chiếc xe lôi đạp lăn lộc cộc trên đường. Chiếc xe như đổ nghiêng nghiêng trên quầng sáng lạnh lẽo lất phất mưa. Tấm lưng còng của người đạp xe như dính chặt trên cỗ xe chênh vênh của mình. Cái tư thế kết dính cam chịu trong sự vận động liên tục rã rời để đổi lấy miếng ăn, để được tồn sinh.

Ba nhìn một hồi lâu vào khoảng sáng nhập nhòa trước mặt, nơi hình ảnh chiếc xe lôi đạp đi qua và dường như cũng như vừa đặt lên vai ông cái gánh cần lao của cộng đồng và ông đang gồng vai, lượng sức. Má tôi nhận ra sự lưỡng lự cân nhắc đó. Giọng má nhỏ, như thủ thỉ:

- Mình à, đây đến đó cũng không xa, hơn nữa…

Ba tôi chặn ngang:

- Gần xa không phải là vấn đề. Vấn đề đáng nói ở đây là xe của tôi đi là xe của Nhà nước!

Má tôi lắp bắp:

- Phí tổn bao nhiêu chị em tôi chịu!

Ba tôi buông gọn:

- Vấn đề là ở chỗ mình không được lạm dụng của công!

Câu nói đó, với má tôi, trong cái không gian đầy ắp tình thân, ba tôi như đã vô tình đẩy má tôi và đẩy cả chính ông nữa, bật khỏi cái vòng vây yêu thương mà bà đã tỉ mẩn se thắt từng nuột.

Câu nói của ba đột ngột tạo nên sức công phá.

Má tôi mặt mày tái nhợt. Có lẽ bà không chịu nổi cái từ “lạm dụng”, bởi gần hơn nửa cuộc đời bà chỉ biết cho, biết tặng, biết hy sinh, lặng lẽ hy sinh, nhẫn nhục hy sinh. Từ một cô gái biết đàn biết hát, biết đọc, biết viết tiếng Tây, bà đã khước từ gần như tất cả để được sống với người đàn ông chân chất mà tài hoa, cũng biết đàn, biết hát, biết viết kịch, biết làm thơ. Với má tôi, ba tôi còn như là lẽ sống và bà âm thầm sống theo cách sống mà ba tôi mong muốn.

Một nách nuôi một lũ con, bà lại đi đầu tham gia nhiều hoạt động xã hội, từ các công tác hội đoàn, làm thầy thuốc, làm bà đỡ, cho đến những lần, cùng với đội quân tóc dài, chèo chống chở những xác người bị trúng bom trúng đạn đã trương phình biến dạng, vượt cả ngày đường, ra tận đồn bót, trực diện đấu tranh, buộc kẻ giết chóc phải khựng lại.

Việc gì má tôi làm là làm đến kiệt cùng sức lực, làm đến nỗi em gái tôi phải chết ngạt, chết khô trong bụng bà.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, với một niềm tin tuyệt đối vào cái tương lai thật gần mà ba tôi như đã thấy được, từ một người có được ngôi nhà, mảnh vườn, miếng ruộng, má tôi, gia đình tôi, gần như trở thành kẻ trắng tay khi gởi trọn số tiền bán hết cơ ngơi của mình vào Ngân hàng nhà nước, để chỉ một thời gian ngắn, sau lần đổi tiền, số tài sản mà má tôi đã đánh đổi bằng mồ hôi và cả nước mắt, chỉ còn mua được cái ti vi cũ có chân gỗ và cánh cửa lùa, kéo ra đẩy vào.

Rồi thêm một lần, nghe ba tôi phân tích: “Mình cũng là người của nhà nước mà kiện tụng nhà nước thì ai còn tin nhà nước nữa?” mà một lần nữa, má tôi đành ngậm bồ hòn khi không dám làm đơn kiện cái ngân hàng tín dụng khi ngân hàng đó đã cuỗm trọn số tiền má tôi chắt mót dành dụm được cùng với sợi dây chuyền vàng có mặt khảm ngọc mà má tôi được bà ngoại trao lại. Sau lần trắng tay thứ hai này, má tôi xin nghỉ làm việc nhà nước, nghỉ ngồi tám giờ trong cái kho sách ngồn ngộn mà lác đác người đọc để làm người may vá tự do tại nhà, góp với đồng lương ít ỏi của ba tôi để duy trì cuộc sống gia đình.

Rồi cũng vì trung thành với phẩm chất tận hiến của ba tôi, mà má tôi thuyết phục tôi, tạm rời ghế nhà trường, tạm gác lại ước mơ được phiêu lưu với biển cả, để vào lính, ra chiến trận, tuy chưa một lần được bóp cò súng…

Câu nói có sức nặng bom tấn của ba tôi thình lình dập đi ngọn lửa le lói của tình huyết nhục vừa được khơi dậy.

Chiếc xe Peugeot 404 cũ kỹ, cái phương tiện đi lại, lại hiện ra thành khối thép chắn giữa ba tôi và má tôi.

Ba tôi dường như lại không nhận ra mình cũng lạm dụng. Ông cũng đang lạm dụng niềm tin yêu và lạm dụng sức chịu đựng của người bạn đời mà quên rằng mọi thứ đều có giới hạn của nó. Ba tôi đã đẩy sự chịu đựng nơi má đến giới hạn cuối cùng.

Giới hạn đó, má tôi, chỉ sau một khoảnh khắc đã biến bà thành người đàn bà đi quá đà cảm xúc, đẩy bà trượt vào cuộc đọ sức mà bà không còn cách lẩn tránh.

 

4

 

Trước mặt ba, má tôi bảo anh tôi phải tìm cho được một chiếc xe. Anh tôi như chỉ chờ có thế để anh được thể hiện mình, thể hiện khả năng của một thằng con hiếu nghĩa và hữu dụng.

Anh tôi đứng lên, bước tới lui, dừng lại, ngần ngừ trước cái điện thoại cũ mốc đặt trên lưng con voi không nguyên vẹn cái vòi, rồi cúi xuống, nhấc ống nói lên và quay những con số. Qua đối đáp của anh tôi, những người có mặt đều biết anh mượn được xe nhưng tài xế của chiếc xe đó đang có rượu sau buổi tiệc tùng gì đó. Anh tôi cúp máy, rồi lại nhấc ống nói, định quay tiếp những con số thì má tôi chặn lại:

- Đừng gọi lung tung nữa, má sẽ nhờ tài xế của ba con!

Anh tôi chuyển cái ống nói cho má. Má quay số và gặp ngay anh tài xế đang ở nhà với vợ con. Qua cách nói của má, tôi biết anh ta sốt sắng nhận lời. Tôi biết, anh ta nhận lời vì nể trọng má tôi chớ không phải vì uy quyền của ba tôi.

Chừng hai mươi phút sau, qua chỉ dẫn của anh tôi, anh tài xế đưa chiếc xe đen bóng đến.

Khi xách cái túi xách tay ra đến cửa, má quay lại nhìn, thấy tôi ngồi nhìn theo, bà bước trở lại, nói:

- Con đi cùng cho vui!

Rồi má bảo anh tôi giúp tôi lên xe, ngồi ở ghế trước, cạnh tài xế. Má tôi, cô tôi và anh tôi ngồi ở băng sau. Lúc xe chuyển bánh, tôi thấy ba còn đứng lựng sựng trước cửa, đưa tay vẫy vẫy. Cô tôi ngoái đầu lại, hạ cửa kính, cũng đưa tay, vẫy vẫy anh trai mình.

Chiếc xe thận trọng, chậm chạm trườn đi trong mưa.

Anh tài xế liên tục lấy giẻ lau hơi nước trên mặt kính, dù cho cái gạt nước không ngừng chuyển dịch. Tôi chăm chú nhìn theo luồng sáng mạnh mẽ dọi về phía trước. Vô số giọt mưa như được dát bạc đổ xiên xiên xuống mặt đường.

Tôi không nhớ mình đếm đến cây số thứ mấy nằm dọc theo đường quốc lộ. Con đường tôi đã đi lại nhiều lần, nhiều nhất là thời gian lên trọ học ở Sài Gòn, đi trên những chuyến xe đò dằn xóc, chật ních người, ngột ngạt, mệt nhừ. Tuy vậy, tôi vẫn chưa có được cái cảm giác quen thuộc mỗi khi đi trên con đường này. Mỗi lần đi là mỗi lần thấy đổi khác. Mặt đường không ngừng làm mới và lúc nào như cũng cày xới dở dang, không đoạn này cũng đoạn khác. May là xe đang đi trên đoạn đường dường như vừa hoàn tất, hai bên đường vẫn còn lù lù những cái thùng nấu nhựa rải đường.

Gió vẫn không ngừng vờn đuổi. Mưa vẫn đổ xiên xiên. Những cột cây số giống nhau, những khoảnh khắc giống nhau lướt qua vun vút trước tôi.

Thấy phập phồng trước cái tốc độ khá nhanh trên con đường khá trơn, tôi muốn nói anh tài xế cho xe đi chậm lại. Nhưng rồi tôi không mở được miệng trước sự im lặng kéo dài trong chiếc xe bịt bùng.

Cảm giác thừa thãi lúng túng, tôi lại chạm tay vào cái nút bấm của cửa kính. Kính chắn trụt xuống. Lập tức mưa quất ràn ràn vào xe. Anh tôi la lên:

- Khùng hả út?

Tôi lật đật ấn tay vào nút bấm. Cửa kính đóng lại. Trong xe lưu lại cái ẩm ướt, bất thường.

Trong cái hộp bít bùng, sự im lặng như ngày càng gia tăng. Tôi thấy ngột ngạt trước sự ngăn cách vô hình giữa những con người ruột thịt đang ngồi bên nhau.

Ngoái cổ ra sau, tôi nhìn lướt qua từng gương mặt. Tôi mong anh tôi tiếp tục la mắng tôi, tiếp tục càm ràm hoặc lên cái giọng khó nghe của một kẻ hãnh tiến. Tôi cũng muốn nghe má nói câu gì đó, cả cô tôi nữa, người mà tôi mong sẽ lên tiếng, sẽ nói và nói về ông nội tôi, người mà con cháu vừa họp mặt để kỷ niệm ngày mất của ông, chỉ còn có thể là cô tôi. Cũng là máu thịt của nội, nhưng ba tôi là kẻ bị ông bỏ rơi khi ba tôi chưa biết gọi “cha!”; còn với cô tôi và chú tôi, ông đã bảo bọc họ an toàn trong suốt quãng đời tuổi thơ bằng cái nghề mà trước con mắt nhiều người là không lương thiện.

Nhưng rồi không một ai chịu lên tiếng, kể cả người hay nói tuy không nói hay là anh tài xế.

Im lặng kéo căng như dây đàn sắp đứt.

 

5

 

Thứ im lặng che giấu những điều muốn nói, thường là những điều không dễ nói.

Thứ im lặng chứa đựng niềm đau vừa kìm nén vừa chực vỡ òa. Nó khiến tôi nhớ đến cái giây phút cô tôi gục xuống bên xác cha và gào lên:

- Sợi chuỗi ba đâu?

Vừa câu hỏi vừa như là mệnh lệnh. Tất cả lặng đi. Không một ai dám nhìn vào mắt nhau. Rồi không ai bảo ai, tất cả đều xông vào cuộc tìm kiếm như thể đó là một vật hiển linh có thể làm ông tôi sống lại. Tủ quần áo của ông được mở toang. Trên mắc, áo quần ông được ủi phẳng phiu và được treo ngay ngắn. Hai chiếc áo sơ-mi, ông thắt sẵn chiếc cà-vạt lụa có đính ghim mạ vàng lấp loáng. Dường như ông luôn chuẩn bị cho mình cái tư thế của kẻ dự lễ lạc, tiệc tùng, dù tôi biết, ngoài những lần đi lễ nhà thờ vào sáng chủ nhật mỗi tháng, một vài lần đi đám tang của người quen, ông gần như không đi đâu, cả bạn bè tâm giao cũng không thấy. Ba tôi nhìn vào tủ quần áo của cha, quay lại nói với má tôi:

- Mình nhớ đem hết những gì của ba theo ba!.

Má tôi kéo vạt áo lau nước mắt. Rồi bà lục lạo, gom góp quần áo ông, xếp lại. Bà cũng lần kỹ trong túi áo, túi quần xem có gặp sợi chuỗi không. Cô tôi vừa gào khóc vừa ráo riết sục sạo khắp nơi. Chỉ còn một ngăn tủ của chiếc tủ áo quần không tìm thấy chìa. Tôi chạy đi lấy búa. Ngăn tủ được đập phá.

Một thế giới gói ghém ràng rịt hiện ra. Vô số gói lớn gói nhỏ mang dáng dấp hình khối vuông, khối chữ nhật được ông xếp bằng giấy báo, giấy dầu, giấy vở mà tôi dùng làm nháp và quăng đi. Sợi chuỗi nâu và bức chân dung đức mẹ bằng bàn tay luôn ở bên ông tôi, vẫn chưa tìm thấy. Tôi thọc tay vào ngăn tủ, bới lên lần nữa. Trước mắt tôi ngổn ngang vật dụng không có giá trị về vật chất, thậm chí chỉ là những thứ bỏ đi: Những chiếc nút áo bằng vàng mạ tróc hết lớp xi, mấy cái tẩu hút thuốc gỉ sét, mốc meo, vài ba vỉ thuốc trị bệnh không còn thuốc, những đôi vớ thệu thạo không còn độ co giãn, những chiếc khăn tay mòn cũ mỏng tang không còn dùng được, những chiếc túi ni-lon, vô số túi ni-lon với nhiều cỡ kích được ông xếp hai, xếp tư và chưa kịp ràng rịt. Tôi cầm lên một túi ni-lon, gấp lại và lờ mờ hiểu: Cái ngăn tủ khóa kín này không phải là nơi ông lưu giữ thứ gì đó quý giá của riêng ông. Hình ảnh, kỷ vật của bà tôi và mẹ đẻ của cô tôi, chú tôi, người đàn bà thứ hai của đời ông, cũng đã chết trẻ, đều không tìm thấy. Kể cả những kỷ vật thơ ấu của những đứa con mà nhiều người làm mẹ, làm cha còn lưu giữ như: cái cuống rún khô cứng còn bằng cái móng tay, những chiếc áo sơ sinh, những đôi vớ nhỏ xíu… cũng chẳng tìm thấy.

Lúc đó tôi cũng lờ mờ hiểu, thực ra, ngăn tủ bí mật đó chỉ chứa đựng mớ tài sản nghèo nàn của một ông lão sống lầm lũi thừa thãi trong ngôi nhà mà con trai mình được sở hữu. Những việc làm tủn mủn vô nghĩa như xếp gói giấy và túi ni-lon, có lẽ giúp ông tôi xua đi được phần nào cái thời gian dằng dặc hiu quạnh của mình.

Và cho đến lúc đó, tôi mới nhận ra là, con cháu của ông đã mất ông từ lâu lắm rồi. Mất từ lúc ông vẫn còn lò dò đi lại trong ngôi nhà này.

Cô tôi nấc lên dữ dội khi cuộc tìm kiếm kết thúc mà sợi chuỗi tràng hạt và bức ảnh đức mẹ vẫn không tìm thấy.

Tiếng khóc tức tưởi như ai oán của cô tôi khiến ba tôi nhượng bộ.

Khi cử hành tang lễ, ba tôi bỏ vào nhà sau, đứng ngồi bứt rứt.

Đám tang của ông tôi được cử hành theo nghi lễ của người có đạo.

Và người nói lời đưa tiễn ông tôi về nơi an nghỉ cuối cùng là một cha xứ. Ông ta chưa già, mập mập hồng hào, trông còn trẻ hơn ba tôi nhưng lại có giọng nói, cách nói đều đều, chậm rãi của một ông già. Ông ta nói khá dài. Tôi nhớ láng máng, chỉ lời cuối còn nhớ rõ, rằng: “kẻ mù lòa giờ mới tìm thấy ánh sáng của thiên đàng”.

 

6

 

Má tôi, cô tôi và anh tôi vẫn ngồi sát bên nhau.

Tôi quay lại phía sau lần nữa. Cổ tôi chạm ngay bàn tay đang nắm chặt lưng ghế mà tôi đang dựa. Tôi đưa tay mình nắm lấy bàn tay lam lũ bơ vơ của má.

Chợt tôi nghe tiếng anh tôi:

- Lần cuối cùng con cũng đi cùng với chú út trong một chuyến xe gặp mưa gió dai dẳng như vầy.

Một hồi sau, cô tôi lên tiếng:

- Bữa cơm cuối cùng cô nấu cho chú út con ăn chỉ có mắm kho chấm rau luộc, vậy mà chú ăn sạch cả nồi cơm.

Má tôi nắm tay tôi, siết nhè nhẹ, tiếp lời cô tôi:

- Còn chị, chị đã không kịp làm một bữa cơm đãi chú. Chị cứ tự trách hoài, sao mình không linh cảm thấy trước điều gì…

Tôi cũng như má, tôi cũng đã không linh cảm được sau vụ chú xoay ngược kim đồng hồ, lén lút gian lận điện và bị ba tôi bắt quả tang, và nhất là sau những giờ phút trực diện căng thẳng với ba tôi. Tôi không biết là chú tôi sẽ ê ẩm mặt mày, không dám nhìn thẳng vào mắt người thân và rồi sẽ đường đột có một quyết định bất thường nào đó. Tôi cũng không chút hoài nghi khi nghe mông đít mình rát rạt cái tát tay của chú: “Ngủ gì mà ngủ dữ vậy, nhóc?”, nên đã kéo mền trùm kín mặt và ngủ tiếp.

Linh cảm… giá như cái giác quan bén nhạy đó không ngủ mê, không biếng lười, biết đâu tôi đã ghì chú lại, và như mọi khi, lại cùng chú đánh vài ván tú-lơ-khơ, đùa giỡn, châm chọc, sát phạt, co kéo một hồi thế nào chú cũng xốc tôi lên, đặt tôi ngồi vào xe đẩy, hai chú cháu có thể đến cái quán cóc rào rạt gió cạnh bờ sông, nơi có cô chủ quán tóc thả dài sau lưng, môi miệng cười tươi như hoa đang nở. Tôi với chú có thể khề khà như hai thằng bạn nhậu. Chú có thể mở lòng ra và biết đâu, tôi cũng có thể tiếp chú, giúp chú quăng hết mớ rác rến vướng mắc trong lòng xuống cái dòng chảy ngầu đục trước mặt.

Bất chợt, tôi quay ra phía sau một lần nữa. Và cũng bất chợt, tôi nhận ra, anh tôi cũng giống chú. Cũng mái tóc dày hất ngược ra sau. Cũng cái trán vừa rộng, vừa cao. Cũng gương mặt vuông chữ điền. Gương mặt của ông tôi, gương mặt ba tôi và gương mặt tôi.

Tôi chợt giật mình với ý nghĩ, hình như chú cũng đang hiện diện. Chú đang nép sát vào những người thân.

Những sinh linh ruột thịt đang tựa vào nhau.

 

7

 

Anh tài xế mấy lần đổi băng cassette nhưng những bản nhạc quen thuộc của Trịnh Công Sơn vẫn không thuận tai anh tôi. Anh tôi còn chê là nhạc Trịnh ủ ê, thiếu cái chất mạnh mẽ quyết liệt của phái mạnh. Anh tôi còn cho là lạ, thậm chí là không bình thường khi những tác phẩm thiếu cái khí chất cường tráng như vậy lại có thể làm bao nhiêu người mê mẩn. Anh tài xế lầm lỳ làu bàu trong miệng điều gì đó như phản bác, như muốn tranh cãi, rồi lại lắc đầu làm thinh. Anh tôi như kẻ vung tay đánh vào bịch bông gòn. Mất hứng lại vừa mất sức, cũng ngồi im. Không khí trong xe tiếp tục tràn ứ âm thanh tiếc nuối buồn vương “… Trong khi ta về lại nhớ ta đi. Đi lên non cao, đi về biển rộng. Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng…”. Anh tôi chồm về phía anh tài xế:

- Anh không có băng nhạc không lời sao?

Không trả lời, anh tài xế lặng lẽ tìm băng nhạc thay vào chỗ băng nhạc đang mở. Tiếng hát Khánh Ly đột ngột ngưng, vài giây sau tiếng đàn piano ngân lên. Anh tài xế quay sang tôi:

- Anh vừa sang được mấy băng của Richard Clayderman. Muốn nghe, anh cho mượn.

Có lẽ anh là tài xế duy nhất của xứ sở nhà nhà mê cải lương mà không biết ca một câu vọng cổ và còn là người biết chọn nghe nhiều bản nhạc không lời. Đó có lẽ cũng là một lý do trong những lý do mà ba tôi chọn anh làm tài xế cho mình. Ông khích lệ âm nhạc truyền thống nhưng trong thâm tâm dường như ông chưa đặt nó ngang tầm trong sự chiêm ngưỡng của mình. Cũng như anh tài xế, ông không thuộc nổi một câu vọng cổ và cũng chưa một lần cầm trong tay cây đàn ghi-ta phím lõm. Các con ông cũng vậy, chẳng đứa nào biết thưởng thức đúng nghĩa cái loại đặc sản tinh thần này. Ông chọn anh làm tài xế cái chính là anh lái giỏi. Trên xe, dù trước kia là ông tướng ngụy hay nay là ba tôi, anh đều lái cẩn trọng như nhau. Cũng như với mọi tài xế khác, với anh, an toàn tính mạng là cái đích trên mọi cuộc hành trình. Tuy vậy, im lặng vẫn là khoảng cách giữa anh tài xế với ba tôi. Anh luôn lấp vào khoảng trống đó bằng tiếng nhạc, thường hơn cả là nhạc không lời. Âm nhạc dễ làm cho ba tôi lim dim trên ghế ngồi nhưng lại giúp người lái xe tỉnh táo trên đường. Mỗi tuần, sau khi chu cấp đầy đủ cho vợ và một lũ con, anh có thể mua thêm vài băng nhạc từ đồng tiền chạy xe ôm mỗi tối, sau khi dùng ống cao su hút xăng từ chiếc xe mà anh thuộc tính nết hơn cả con mình, sang chiếc Honda 67 đen bóng, chiếc xe được anh lau chùi chăm chút hàng ngày. Đó là số xăng dôi ra do ba tôi nhiều lần khước từ đón rước nếu ông có thể cuốc bộ từ nhà đến nơi làm việc, hoặc từ nơi làm việc tới những nơi hội họp và những lần ông ngồi chen chúc trên xe khách để thấy mình không rời xa cái cộng đồng mà vì họ, ông tìm thấy trọn vẹn hơn cái ý nghĩa của sự tận hiến tận trung. Anh tài xế tỏ ra không đồng tình với sự cần kiệm khác thường của ba tôi nhưng lại lợi dụng, triệt để lợi dụng nó. Anh thường kê khống số xăng mà ba tôi không dùng chiếc xe đi công cán và cũng kê thêm số tiền sửa những hỏng hóc của chiếc xe già nua, thường bệnh tật. Anh lặng lẽ bù đắp sự vô sỉ của mình bằng thái độ làm việc tận tụy. Giờ giấc đi lại của ba tôi lúc nào anh cũng tuân thủ khít khao. Xe chạy bao nhiêu năm chưa một lần xảy ra sự cố đáng tiếc nào, anh tránh được cả những va chạm trầy xước. Anh còn tỏ ra gần gũi và thấu hiểu từng thành viên trong gia đình tôi. Đối với tôi, anh không vướng vất kiểu cảm thông giả tạo hay vờ vịt lòng thương hại. Anh thường gọi tôi: “Cụt, cụt ơi!”. Tiếng gọi sỗ sàng của anh cũng tế nhị ngang việc ba tôi suýt đem con Phèn đến một địa chỉ khác trước khi đón thân thể tật nguyền của tôi từ bệnh viện trở về nhà.

Tôi lên tiếng:

- Dạo này em lại thích nghe nhạc có lời.

Anh tôi chen vào:

- Nhạc có lời nhà anh cả đống, mai mốt anh đem lại cho.

Anh tài xế lên tiếng:

- Tôi sợ nhạc chú chọn không hợp gu của em trai chú.

Anh trai tôi cười thành tiếng:

- Cái đó thì chưa biết, nhưng cái tôi biết là tôi không chọn nhạc Trịnh.

Cái kiểu đối đáp như chọc ngoáy đó, khiến má tôi lên tiếng:

- Chín người mười ý mà, anh em bây hết chuyện nói rồi sao?

Không ai trả lời.

Cũng không ai cố gắng ráp nối những ý nghĩ bỏ dở.

Tôi cũng vậy. Tôi sợ cái không khí căng thẳng của cái ngòi nổ sắp khai hỏa. Và còn sợ hơn là sự im ắng sau cuộc chiến, cho dù đó không phải là cuộc chiến có đạn bom và máu chảy. Chẳng ai được cả, kể cả người thắng cuộc. Tổn thương và mất mát. Mất mát hằn sâu trong ký ức. Mất mát chập chờn trong thức, ngủ. Mất mát hiện diện mọi nơi.

Đó là cái giá phải trả cho mọi cuộc chiến.

Trong bất kỳ cuộc chiến nào, xuất phát điểm bao giờ cũng từ lợi ích. Lợi ích lại có muôn hình vạn dạng. Khi xâu xé khối vật chất có giá trị dễ được tính bằng bạc tiền. Khi giành giật thành quả lao động của những cái đầu vượt trội. Khi là cuộc tỉ thí giữa hai con đực để đoạt lấy con cái. Khi là sự phô diễn ngông cuồng thói tự phụ, kiêu căng. Khi là trận chiến giành lấy cái quyền được tác động, được ảnh hưởng, được tỏa sáng. Khi lại từ cuộc cạnh tranh mù quáng về thứ ảo ảnh lung linh nào đó.

Và trong nhiều cuộc chiến, không ít tình huống được châm ngòi từ những đóm lửa thất lạc, vô duyên. Chẳng hạn như tâm trạng muốn gây sự của anh trai tôi lúc này. Có thể anh tôi thấy khó chịu trước cái khoảng cách quá gần của người tài xế đối với nhiều thành viên trong gia đình ruột thịt của anh. Cũng có thể anh bực mình trước bộ mặt lầm lỳ với đôi mắt rắn trông gian gian của anh tài xế mà… bất thình lình anh đem nhạc Trịnh ra công kích. Nếu anh tài xế không kềm chế được và hùng hổ bảo vệ thần tượng của mình, thì chưa chắc anh ta còn giữ vững tay lái và tính mạng của những người trên xe chắc gì đã được an toàn.

May là anh tài xế làm thinh, tiếp tục điều khiển xe lướt đi trong mưa.

Mưa ngưng. Cây gạt nước nằm im. Nhìn vào lớp kính mờ mờ lấp lóa đèn trước mắt, bất chợt tôi liên tưởng đến ba tôi. Ông không như tấm kính nhòe nước mờ đục kia. Ông là lớp kính tận tụy trong suốt. Một tấm kính không dễ tìm được người dám soi mình vào.

Xe dừng trước một thị trấn nhỏ đìu hiu, mỏi mệt về khuya.

Cô tôi ra khỏi xe. Má tôi cũng ra theo. Má hấp tấp bước theo cô tôi. Hai chiếc bóng của hai người đàn bà như đổ vào nhau trên vũng nước lấp lóa trên đường.

Anh tài xế lùi xe vào vệ đường. Anh rồ máy cho hai bóng đèn pha rọi thẳng về phía trước soi đường cho cô tôi và má tôi. Má tôi tiễn cô tôi thêm một đoạn rồi quay lại xe.

Còn lại một mình, trong luồng sáng chiếu rọi mạnh mẽ, cô tôi quay lại, bịn rịn nhìn về phía những người thân.

Khi luồng sáng tắt, cô như giật mình, chới với.

 

8

 

Khi xe trở đầu, quay về với tốc độ nhanh hơn lúc đi, dù nhiều đoạn đường dằn xóc làm ê ẩm hai khúc đùi, tôi vẫn không rứt ra được hình ảnh giựt mình chới với của cô tôi.

Khoảnh khắc chới với, gượng lại và bước đi, một mình bước đi, dù còn có đôi chân nguyên vẹn để bước đi, cũng là những bước chân chênh vênh. Chênh vênh và đơn độc.

Má tôi, anh tôi và tôi nữa, hình như cũng chẳng khác gì cô, cũng chênh vênh và cô độc cho dù đang ngồi sát bên cạnh.

Rồi tôi lại nghĩ, nếu lúc đó, có mặt trong chiếc xe này, chú tôi có lẽ đã không để chị gái đi một mình. Chú sẽ đưa chị gái về đến nhà. Ngôi nhà nhỏ nằm cạnh con sông nhỏ của cô tôi sẽ ấm lên ngọn lửa nhảy nhót trong bếp lò khi đứa em trai bước chân vào nhà. Chồng cô sẽ lật đật chạy ra giở cái vó đặt nơi bến sông, xúc mớ tôm mớ cá đem về và chỉ ít phút sau chú tôi và dượng tôi đã có thể khề khà trò chuyện bên ly rượu với tôm nướng, cua luộc. Cô thì xăng xái vo gao nấu cơm rồi ra vườn hái mớ rau tạp đem vào nấu canh. Cô sẽ bưng tô canh bốc khói đặt vào bàn nhậu rồi ngồi cạnh ông chồng hiền như củ khoai. Cô sẽ bóc vỏ tôm và gỡ thịt cua bỏ vào chén cho chú: “Ăn nhiều đi em, ngoài chợ không có tôm cua tươi như vầy đâu!”.

Câu nói của cô tôi, dù chỉ trong ý nghĩ, khiến tôi bần thần. “ngoài chợ”, cách nói nôm na của cô tôi là chỉ nơi thành thị, đâu chỉ là thiếu thực phẩm tươi ngon mà thực ra còn thiếu quá nhiều thứ khác. Cái thiếu triền miên là cái không gian khoáng đãng yên bình. Lúc còn có chú, cứ vài tháng là chú kéo tôi về quê. Quê, dĩ nhiên không còn là chỗ có ngôi nhà ba gian của má, là nơi chôn giữ xương cốt đứa em chưa biết khóc của tôi, mà là nơi cô tôi đang sống. Mỗi lần trở về ngôi nhà nhỏ của cô dượng, chú cháu tôi được thỏa sức hít thở cái mát lành của con sông, của cánh đồng, của tình thân. Cái năng lượng tinh khôi đó làm chú và tôi luôn tươi tỉnh. Nhiều lần chú nói: “Hay sau này chú với mày cùng đem vợ con về đây sinh sống!”

Nếu có mặt trong chiếc xe này, có lẽ chú không vô tình như tôi đã bỏ mặc chị tôi. Tôi lại nghĩ đến chị. Tôi lại không rứt khỏi nỗi ám ảnh về một hiểm họa nào đó đang treo lơ lửng.

Tôi lại thấy cái dáng tất tưởi rượt đuổi của chị tôi trên con đường nhập nhoạng. Có thể chị đuổi kịp chồng con. Chị lại trở về mái nhà không còn lành lặn của mình. Có thể chị xoay trở. Chị vá víu. Cũng có thể chị vụng về và mũi kim khâu vá lại đâm bấy bá vào da thịt mình. Tôi như thấy những giọt máu nóng hổi của chị. Bất chợt tôi quay lại, nói với má:

- Lát nữa mình ghé qua nhà chị hai nghen má.

Má điềm tĩnh hơn tôi nghĩ.

- Anh chị con sẽ tìm được cách giải quyết. Hơn nữa, tụi nó còn có cu Bi.

Anh tôi lên tiếng:

- Đứa con thường là sợi dây ràng buộc nhưng cũng có khi lại là chiếc thòng lọng. Nhiều gia đình chết mòn chết mỏi trong sợi dây nhùng nhằng khó gỡ đó.

Hình ảnh sợi dây thòng lọng mà anh tôi nói khiến nhịp tim tôi như đập nhanh hơn. Tôi thở hắt ra một cái rồi ngả vào lưng ghế. Má tôi đưa tay nắn nắn vào bả vai tôi:

- Con mệt hả?

Tôi quay lại má:

- Con vẫn thấy lo. Mình đến nhà chị hai đi má!

Anh tài xế ngăn:

- Chú thử nghĩ, nếu đến đó, anh chị chú đang ôm nhau ngủ thì sao?

Anh tôi cũng thêm vào:

- Chú mày không nghe chuyện nhiều tòa dân sự còn bày ra cách hòa giải, bằng cách “nhốt” vợ chồng đòi ly hôn trong một căn phòng càng hẹp càng tốt và sau vài ngày, kết quả là hầu hết họ đều rút đơn ly hôn.

Sau câu nói của anh tài xế và anh tôi thì ý định ghé qua nhà chị tôi chẳng những không còn ai tán thành mà còn coi đó là một đề nghị… vô duyên.

Lúc xe dừng lại trước nhà anh tôi, tôi còn thấy tẽn tò khi nhận ra một điều là mình chưa hiểu bao nhiêu về cuộc đời muôn mặt này, kể cả việc hiểu được những người ruột thịt của mình. Và càng chưa hiểu được sự chung đụng của thể xác có thể kéo hai con người từng khước từ nhau lại quay về với nhau.

Anh tôi chưa ra xe vội. Anh nói với má, giọng nằn nì:

- Vô nhà con uống một ly nước, nghen má!

Má tôi nói:

- Khuya rồi con, để dịp khác.

- Con muốn thằng út biết nhà của anh nó luôn - Anh tôi nói thêm.

Má tôi bước ra khỏi xe.

Anh tôi đi vòng ra trước, mở cửa xe. Anh cúi xuống, bảo tôi vòng tay ghì cổ anh. Anh bê tôi ra khỏi xe.

Anh tài xế, cũng ra khỏi xe nhưng không vào nhà mà đứng cạnh xe, móc thuốc ra, bật lửa, châm hút.

Chị dâu tôi xúng xính trong chiếc áo ngủ vải lụa hồng có dún bèo ở tay ở gấu và đính ruy băng trước ngực. Chị đon đả chào mẹ chồng, em chồng và lăng xăng chạy ra chạy vào mời nước, mời ăn trái cây, mời xem ngôi nhà mới. Anh tôi khuấy đều ly cam vắt đưa cho mẹ và đẩy dĩa nho về phía em trai, rồi lên tiếng rầy vợ:

- Giờ này mà em muốn đày má với chú út sao?

Chị dâu chống chế:

- Đi xem một vòng chắc cũng…

Chị dâu bỏ lửng câu nói khi chợt nhìn thấy hai ống quần thõng thẹo của tôi. Chị ít khi đến nhà ba má tôi, trừ dịp tết nhứt, giỗ chạp. Không phải do chị hẹp lòng mà do chị rộng miệng. Chị hồn nhiên công kênh ông chồng tài năng tháo vát của mình và cũng không giấu được sự đổi đời không bao lâu sau ngày anh tôi làm sếp của mấy đơn vị phụ trách thi công về cầu đường. Chị cũng không chịu nổi khi nhìn bà mẹ chồng ngồi còng lưng bên chiếc máy may và nhìn mọi thứ đơn sơ tuềnh toàng trong ngôi nhà của một người đang giữ quyền chức như ba tôi, một cách khó hiểu và ấm ức. Thái độ đó đã khiến chị không thích thú gì khi lui tới nhà cha mẹ chồng và cả ba mẹ tôi cũng không thoải mái khi con dâu cả ở nhà mình. Chị cố gắng đến thăm tôi vài lần nhưng lần nào tôi cũng tựa lưng vào thành giường và lấy tấm mền phủ lên chỗ không còn đôi chân của mình. Chưa lần nào chị tận mắt thấy được hai khúc chân còn lại của tôi.

Chị dâu lật đật bù đắp sự vô ý của mình bằng việc đem thêm nhiều trái cây, bánh mứt ra, nài má, nài tôi ăn.

Nhìn cách chị dâu muốn làm vừa lòng mẹ chồng, em chồng, tôi biết anh tôi được vợ nể trọng, phục tùng. Đến nhà ba má tôi, anh tôi như một đứa trẻ bị cha mắng nhiếc, nhưng ở nhà mình, có lẽ anh mới thật sự là một người đàn ông, là ông chủ của gia đình, một gia đình sung túc. Ngay bức ảnh anh chụp với vợ bên bờ cát cạnh một đồi dương của một resort trên một bãi biển biếc xanh nào đó được phóng to lồng trong khung bạc treo trên tường giữa phòng khách, cũng thấy rõ thần thái của một kẻ trị vì. Anh tôi khác ba tôi, anh luôn biết tận dụng lợi thế, quyền thế có được và biết sử dụng nó như một chiến binh biết sử dụng vũ khí. Anh thạo tấn công, giỏi phòng vệ và khéo léo thâu tóm chiến lợi phẩm, trước hết cho cái vương quốc bé nhỏ của mình. So với ngôi nhà trưng dụng mà ba má tôi đang ở, thì cơ ngơi mà anh có được, quả là một lâu đài.

Lúc tiễn má và tôi ra xe, anh không vội quay trở vào nhà mình. Anh mở cửa xe sau, đưa tay chỉ về đám đất cỏ mọc um tùm tiếp liền với khuôn viên nhà anh, nói với má:

- Miếng đất đó con định sẽ xây cho ba má một ngôi nhà đàng hoàng.

Má tôi nhìn theo tay anh tôi.

Rồi bà lật đật sập cửa xe lại.

 

9

 

Con đường mới được mở rộng từ nhà anh tôi đến nhà ba má tôi nhấp nhổm ổ gà, nhiều chỗ mặt đường trũng xuống giống như những vũng trâu đằm. Anh tài xế dù đặt đôi tay uyển chuyển lúc dịu dàng, lúc cứng rắn, vẫn không tránh được những ổ dằn xóc, làm tôi và má tôi nhiều lần chúi nhũi về phía trước. Mặt hầm hầm nhìn mặt đường lồi lõm, anh ta nói, giọng bực tức:

- Nhà anh chú quá hoành tráng nên đường sá ra nông nỗi này!

Bám chặt tay trên vô-lăng, anh tài xế xoay trở liên tục. Lúc anh cho xe trườn tới, lúc quay lui. Khéo léo lắm anh mới điều khiển xe tránh được mấy vũng bùn lầy lội và vượt qua được những đoạn đường thi công còn nham nhở.

Má tôi ngồi làm thinh, mặt rầu rầu. Tôi cũng không nói tiếng nào, chỉ mong xe không đi tiếp trên đoạn đường xấu hơn. Anh tài xế lại nói tiếp:

- Mà có riêng gì anh chú đâu. Chú mày nhìn bên trái con đường này coi.

Bên trái con đường là những ngôi nhà mới xây. Mỗi ngôi nhà đều nằm riêng biệt trong một khuôn viên. Mỗi khuôn viên đều có hàng rào sắt hoặc hàng rào bê-tông bao bọc. Ngôi nhà nào cũng xây những cánh cổng, tuy có khác nhau về kiểu dáng, chất liệu nhưng hiện lên khá rõ vẻ kiên cố, bề thế trước ánh sáng của những bóng đèn cao áp.

Anh tài xế chợt quay về phía má tôi:

- Cháu chưa thấy ai sống thiệt thòi như chú. Hình như ai cũng nói một đường mà làm một nẻo…

Má tôi chặn lại:

- Cháu có quá lời không đó?

- Không ai rành sếp mình bằng cánh tài xế riêng như bọn cháu.

Nhìn vẻ mặt luận tội lạnh tanh của anh, tôi suýt hỏi: “Vậy chắc tài xế nào cũng rút xăng từ xe của sếp như anh?”. Khi một lần đã không lật được mặt kẻ gian, thì cái cơ hội đó không đến được ở những lần sau. Tuy vậy, tôi vẫn không thể quên cái lần tình cờ tôi thấy anh ta dùng cái ống cao su bằng ngón tay, rút từ bình xăng chiếc xe ba tôi đang đi, ra cái can xăng vuông vuông trăng trắng. Tôi đã không dám la lên, không dám vạch mặt kẻ gian mà tệ hơn, tôi lại tìm một chỗ khuất để nấp vào, sợ kẻ cắp nhìn thấy.

Giờ tôi lại ghìm lại câu hỏi lẽ ra tôi phải hỏi từ lâu, từ lúc tôi còn đủ đôi chân và còn đủ sức lực để quật ngã anh ta. Tôi ghìm lại, còn bởi tôi biết mình không đủ can đảm để đối đầu với câu trả lời. Có thể đó là lời biện minh che đậy dông dài thường thấy ở những kẻ điêu ngoa, giả dối; cũng có thể là lời thú tội trần trụi, hiển nhiên và cái hậu quả có thể là ba tôi mất đi một tài xế giỏi. Và ba tôi sẽ phải nhọc nhằn tìm kiếm một tài xế khác mà tài xế mới chắc gì lại không tiếp tục ăn cắp, biết đâu lại ăn cắp bạo hơn và chắc gì biết chọn những bản nhạc mà ba tôi có thể cùng nghe.

Về đến nhà, anh tài xế bê gọn tôi trên đôi tay rắn chắc và rõ ràng không hề sạch sẽ của anh. Anh đặt tôi ngồi trên chiếc ghế đá sứt sẹo đặt trước hiên nhà. Anh bước tới cánh cửa đóng chặt. Anh sáng lọt qua khe cửa. Hình như trong nhà, các bóng đèn đều được ba tôi bật lên. Anh tài xế áp tai vào cửa gọi:

- Chú ơi, mở cửa!

Tôi nghe tiếng ba trả lời và nghe tiếng dép lệch sệch của ông.

Ba lột rột rút chốt cửa bên trong. Khi đẩy cánh cửa bật ra, tôi thấy ba như phờ phạc trong bộ pi-ja- ma rộng thùng thình. Má tôi giả lả:

- Mình ngủ được hôn?

- Ờ… cũng nằm được một chút.

Như tránh phải trả lời thêm, ông bước đến bên tôi, vò tóc tôi mấy cái:

- Con ở nhà ngủ có khỏe hơn không?

Nói xong, ông bước luôn vô nhà.

Anh tài xế bước tới, xốc tôi lên, bê thẳng tôi vào giường của tôi. Má tôi gọi với theo:

- Cháu với thằng út ra đây ăn cái gì đó cho no bụng.

Chắc bụng đang đói nên anh tài xế nhanh nhẹn bê tôi trở ra, đặt tôi ngồi trên chiếc ghế cạnh anh bên chiếc bàn ăn mà thức ăn ban tối vẫn còn ê hề. Má tôi rót rượu cho anh, cho tôi và cả mình. Bà đưa ly cho anh tài xế rồi đưa ly cho tôi, nói:

- Uống cho ấm để ngủ ngon!

Má mong như vậy, nhưng có lẽ bà khó có giấc ngủ ngon, kể cả giấc ngủ còn lại của ba tôi.

 

 10

 

Có chút rượu và cũng mỏi mệt sau chuyến xe có quá nhiều xáo động cùng với cái đau rân rân ở hai mỏm đùi, tôi chìm dần vào giấc ngủ khi lẩm nhẩm đếm đến con cừu thứ chín mươi chín.

Gần sáng tôi thức dậy. Thấy mắc tiểu, tôi tốc mền, chồm tới, với tay lấy cái bô nhựa có nắp đậy. Tôi mở nắp bô, nhấc người lên và cũng không mấy khó khăn khi đút “thằng nhỏ” vào miệng bô. Tôi thấy hơi ngượng trước cái vòi nước phóng ồ ồ vào bô.

Phòng bên kia, ba má tôi cũng đã thức. Tôi nghe có tiếng nói nhưng không nghe rõ được âm thanh của tiếng nói.

Từ khi gần như nằm ngồi một chỗ, lỗ tai tôi thường vổng lên và trở nên thính nhạy. Hai cánh mũi tôi cũng siêng phập phồng. Chúng chẳng những thâu tóm được mùi gia vị nấu nướng tỏa ra từ nhà bếp mà còn ngửi được mùi tanh tanh của cái rãnh bùn trước cửa nhà và mùi hăng nồng của đám rau có nhiều mùi hương mà má vun trồng phía trước cửa nhà. Như một ả mèo giương đôi mắt tinh ranh nép mình trong bóng tối, tôi trở thành kẻ tò mò và hay nghe lén.

Lúc đầu, khi phát hiện ra mình mắc cái thói xấu này, tôi không khỏi ngỡ ngàng.

Càng ngỡ ngàng hơn khi tôi được biết, hầu như lũ bạn mà tôi còn liên lạc được hoặc gặp nhau vào dịp họp mặt ngày 27 tháng 7 hay nghe ngóng về nhau, những đứa bạn bị tàn phế mà không chết như tôi, ngoài mấy đứa còn cưới được vợ có con, số còn lại đều mắc thêm một vài tật xấu nào đó. Thằng làm càn, đập phá. Thằng chửi rủa, la hét. Thằng cạy miệng không nói lời nào. Thằng nằm ngửa hát nghêu ngao. Thằng hứng lên, tuột quần khoe “của quý”. Thằng mân mê hình cố nhân rồi tru lên như chó dại…

Hết ngỡ ngàng, tôi lại tự trấn an, dẫu sao, tôi cũng còn may mắn hơn nhiều thằng bạn, vẫn còn giữ được cái đầu tỉnh táo, vẫn biết rõ cái nhịp nhanh chậm của trái tim trong lồng ngực, vẫn cảm nhận được độ nóng lạnh của tình thân, vẫn còn giữ được độ chênh chao quân bình trong sự chênh vênh trượt ngã.

Dần dà, chẳng những tôi không cưỡng được cái thói xấu của một kẻ nghe lén mà nhiều lúc thấy thòm thèm như kẻ đói ăn. Bởi khi đã lén nghe được những điều không nên nghe, không được phép nghe, nó khiến tôi có cảm giác mình có thêm một cái tai, một con mắt. Cái thế giới nhỏ hẹp tù túng trước tôi như được cơi nới ra, dù cho cái không gian bất ngờ được khám phá, được mở rộng đó thường nhuốm sắc màu lạ lẫm, nhiều lúc khiến tôi tối mắt, ù tai.

Tôi vừa xấu hổ đồng thời lại bị kích thích bởi cái trò khuất tất ấy.

Không nghe rõ được điều gì ngoài tiếng gà gáy và tiếng rao của người bán bánh mì còn nóng hổi, tôi kéo mền phủ mặt, cố ngủ thêm.

Tôi nhắm mắt và chìm sâu rồi lờ mờ trôi vào một không gian vừa quen vừa lạ. Tôi thấy mình đang đứng trước mũi của một con tàu, con tàu to lớn, không chạy bằng những cánh buồm căng gió mà chạy bằng động cơ. Tôi nghe âm thanh rền rền của con tàu. Nó đang mở hết tốc lực tiến về đất liền.

Dãy đất mong chờ hiện ra như một dải lụa xám, phập phồng. Những tia nắng ban mai long lanh trên gương mặt của những người thân đang đón đợi tôi, đón đợi con tàu. Trước tiên tôi nhận ra má tôi, rồi đến chị tôi, cháu tôi… Hình như họ vươn đôi tay về phía tôi.

Khi con tàu đến gần, tôi chới với khi không còn thấy má, thấy chị, thấy cháu nữa. Cả đám người lô nhô vẫy gọi khi nãy cũng biến mất.

Con tàu đột ngột khựng lại và bị mắc kẹt trước cái biển loi nhoi không rõ hình thù. Cả đám đông di động khổng lồ ấy bỗng lội ào ào xuống nước. Mặt nước duềnh lên, đẩy vô số con sóng chồm lên mạn tàu. Con tàu tròng trành. Tôi phải bám chặt vào thành tàu. Con tàu ngả nghiêng, chao đảo. Trước mắt tôi như có bầy đom đóm lập lòe.

Tôi thấy cái đám loi nhoi khổng lồ đó bươn bả tiến về phía con tàu. Khi đến gần, tôi nhận ra đó là những hình thù không đầu, không mình, chỉ có chân. Những đôi chân. Vô số những đôi chân.

Những đôi chân trần trụi máu me, những đôi chân trắng lốp vòng băng, những đôi chân lùng nhùng trong ống quần màu cỏ úa.

Chúng hung hăng, xô lấn. Chúng lăn xả vào bất kể thứ gì cản trở đường đi của chúng.

Chúng bườn lên người tôi, khiến tôi hét lên.

Tôi toát mồ hôi đầm đìa khi mở được mắt và thấy má vừa lay vừa gọi:

- Út, út… con có bị làm sao không?

 

11

 

Khi giữ cho mình thật tỉnh táo, tôi vẫn chưa có đủ tự tin để trả lời câu hỏi: “Con có bị làm sao không?” của má.

Tôi có bị làm sao không?

Nhiều lần tôi tự hỏi và nhiều lần, lời đáp vẫn chưa thể là lời đáp. Vẫn còn là câu hỏi. Tiếp tục lại là những câu hỏi. Có câu hỏi cũng ngô nghê chẳng khác gì câu hỏi lúc nhỏ chị tôi từng hỏi má: “Má sinh ra con để làm chi?”. Với tôi, má không trả lời như đã trả lời với chị: “Để giống ngoại, giống má, để có chồng, đẻ con và nuôi chúng thành người.”. Má cúi xuống thật gần, tôi nghe rõ hơi thở của bà:

- Để có con bên cạnh má!

Tôi kéo bàn tay thô sần vì công việc của má ấp vào má mình. Tôi chực khóc với ý nghĩ sao mình không còn là đứa trẻ, sao mình không mãi là đứa trẻ!?

Má sờ sờ lên mép tôi:

- Con quên cạo râu hả?

Tôi luôn quên cạo gọt cho mình. Tôi không có nhu cầu cạo râu mỗi sáng như ba tôi. Tôi không có đối tượng để được dòm ngó, ngắm nghía hay chiêm ngưỡng. Mà thật ra cái diện mạo của một kẻ mất hết hai chân, mất từ khớp háng thì dù có tắm gội, cạo rửa, tẩm hương, tỉa tót chỉn chu vẫn không che giấu được cái khối tật nguyền mà sự đau đớn không ngừng hiện diện.

Nỗi đau và tiếng rên kìm nén nơi tôi dường như chỉ có má nghe trọn. Có lẽ bà cũng là người duy nhất nhìn thấy được tôi xuyên qua cái dung mạo dáng vẻ của thằng tôi.

Thỉnh thoảng chị tôi cũng nhìn thấy tôi, nhận ra tôi nhưng chị không có nhiều thời gian dành cho tôi và thế là chị đẩy tôi ngụp lặn trong thế giới nhân vật vừa bình thường vừa phi thường từ đống sách vở mà chị mang đến.

Anh tôi, chỉ cần liếc qua, cũng nhận ra sự thiệt thòi thiếu thốn nơi tôi và dễ dàng khi anh bù đắp cho thằng em trai tật nguyền bằng mớ vật chất mà anh sắm sửa hào phóng bằng đồng tiền kiếm chác được từ công việc của anh.

Trái với chị, ba tôi lại sợ mớ tiểu thuyết tâm lý tình cảm khiến tôi ủy mị yếu đuối và rúc rỉa dần cái ý chí chiến đấu với hoàn cảnh không may của mình.

Má lại sợ tôi đọc nhiều ngủ ít. Bà ra vào nhắc tôi tắt đèn, nhắc tôi uống hết ly sữa, nhắc tôi đi tiểu để bà đổ bô.

Sự săn sóc của người thân, đặc biệt là sự bao bọc kỹ càng của má nhiều lúc làm tôi ngột ngạt.

Bức bối trong chiếc áo chật ních của đứa trẻ mà má mặc cho, tôi thốt lên:

- Hay má để cho con đi đâu đó?

Má chới với:

- Đi đâu, hả con?

Tôi cũng chẳng biết mình sẽ đi đâu nếu rời khỏi ngôi nhà của ba má.

Tôi biết tôi sẽ không chịu nổi khi phải sống trong cái trại thương binh với sáu chiếc giường sắt đặt trong cùng một căn phòng ba chục mét vuông cùng với sáu chiếc xe lăn, sáu cái cà mèn, sáu cái chén ăn cơm, sáu đôi đũa, sáu cái ly uống nước, sáu cái bô có nắp đậy… và một cái phòng vệ sinh chật hẹp.

Tôi cũng không thể làm được cái việc mà một vài thằng bạn tôi đang làm là tự đẩy xe lăn đi khắp nơi với xấp vé số trên tay. Tôi cũng thiếu luôn cái tính kiên nhẫn rèn cho đôi tay khéo léo để có thể học được một nghề gì đó có thể nuôi thân. Tôi cũng không có đủ gan để tự đọa đày bản thân hoặc đày đọa thiên hạ bằng cách bày ba cái trò làm càn, ăn vạ.

Vậy mà, không hiểu sao, tôi vẫn nói:

- Con muốn đi đâu đó thật xa!

Má tôi dừng đường may. Bà ngồi thụp xuống bên tôi:

- Con nói gì vậy út, con có bị làm sao không?

Tôi chỉ muốn gào lên: “Má biết quá mà, con không muốn tiếp tục sống như vầy nữa!”. Nhưng tôi không gào lên nổi trước đôi mắt thâm quầng, ứa lệ của má.

Không nói thành lời trước má, tôi biết mình vẫn phải tiếp tục sống trong sự bất thường.

Không chỉ là sự bất thường của một thân thể tật nguyền và bất thường của những giấc mơ về những hình nhân tàn phế, dù cho những giấc mơ kỳ dị này đã nhiều phen khiến tôi mất ăn mất ngủ. Đôi lần, tôi còn thấy mình không thoát khỏi vô số đôi chân, chúng cứ xoắn lấy tôi, chúng cũng gân cốt da thịt như đôi chân đã mất của tôi nhưng đã trương phình lên như những chiếc gối ôm.

Sự bất thường còn hiện diện trong cái vẻ bình thường của nhịp sống quen thuộc hàng ngày. Vẫn mỗi sáng đi chợ về, bao giờ má cũng mua riêng cho tôi một thứ quà bánh gì đó. Tôi trở lại đứa trẻ được chăm sóc, nuông chiều. Má hay ngồi nán lại bên tôi, vừa nhìn tôi ăn vừa nói vài ba câu về mấy người quen bà gặp ở chỗ nhận hàng đã may xong, hay gặp mấy người bà con chở trái cây ra chợ bán, đôi khi bà còn bày mấy thứ rau củ hoa quả vừa ngon vừa rẻ ra trước mặt cho tôi xem. Ăn sáng xong tôi lần theo má vô bếp. Bà thường pha cho tôi ly nước chanh hay ly trà đường trước khi bày ra những việc mà tôi có thể giúp bà. Nhìn tôi lụi hụi gọt khoai, lặt rau, má thường lặp lại câu nói khi thấy tôi lúi húi cầm kéo cắt những sợi chỉ thừa trên những chiếc quần đùi má vừa may xong: “Có con, má đỡ quá!”

Câu nói má đã nói thật nhiều lần.

Câu nói quen thuộc ấy mỗi lần được nghe tôi lại thấy ấm như vòng tay của má. Tôi thấy mình yên lành như một đứa trẻ được bú mớm no nê. Tôi thấy tôi vẫn ghì chặt cuống nhau và phổng phao trong cái dưỡng chất thần tiên của nó. Tôi thấy, tôi vẫn là đứa trẻ lành lặn khỏe mạnh cứ liên tục cựa quậy, chòi đạp, xổ tung và thích nô đùa chạy nhảy.

Nhưng rồi, tôi lại muốn thoát khỏi vòng tay của má và hoàn toàn cắt rời khỏi má.

Tôi muốn được xê dịch.

Tôi thèm được xê dịch.

Tôi khát khao được đi đây đi đó, như chị tôi, như anh tôi, như ba tôi, như những người có đôi chân lành lặn.

 

12

 

Nếu được xê dịch, nơi tôi muốn đến trước tiên là mái nhà của chị tôi. Đã ba tuần, tôi không thấy lại chị sau cái đêm chị tất tưởi chạy theo con, theo chồng.

Suốt khoảng thời gian ấy, tôi nghĩ thật nhiều về chị. Tôi không chắc mình đã hiểu chị nhưng, dù chưa cặn kẽ, tôi hiểu được tôi. Tôi vẫn cần có chị, vẫn yêu thương chị như ngày nào dù cho chị có là người đàn bà đáng chê trách đi nữa. Chị với má, lúc nào cũng nâng tôi đứng lên, đưa tay cho tôi nắm, kéo tôi đi để tôi vẫn tin mình vẫn còn có thể bước đi dù tôi không còn có đôi chân để bước đi.

Trong không gian riêng tư nhỏ hẹp của tôi, nhìn đâu cũng thấy dấu vết chị. Cái ti vi 14 inch đặt trên chiếc ghế cũ cũng của chị tha đến. Cái ổ cắm điện cũng chị mua về và hai chị em cày cục một hồi mới đóng dính vô tường. Cái giá sách ken đầy sách, quyển nào cũng được chị bao bìa lại và trừ những quyển sách mượn của thư viện, hầu hết sách đều có chữ ký tên của chị trên trang đầu quyển sách. Tôi cũng gần như đọc được hết những gì chị đã từng đọc.

Tôi bật ti vi. Chẳng có gì để xem ngoài mấy tin được phát đi phát lại suốt mấy ngày qua. Tôi tắt ti vi. Khi màn hình không còn hình cũng chẳng còn âm thanh, tôi thấy mọi thứ cũng tắt ngóm, nếu không còn ánh sáng từ trang sách.

Lúc đầu tôi đọc để giết thời gian, giống như ông tôi ngồi tỉ mẩn xếp giấy, xếp bọc và gom giữ những thứ vô dụng. Rồi, cũng để giết thời gian, tôi đọc lại, một lần, hai lần và tôi dần khám phá ra những đoạn đời, những cuộc đời và cả một thế giới vừa gần vừa xa. Tôi đọc kỹ càng hơn, chăm chú hơn, nhiều khi sách cũng hé lộ cho tôi một lối đi, một chân trời, một ước mơ và nhiều khi những tín hiệu mời gọi ấy lại khiến trái tim tôi đau nhói, còn đôi đoạn chân thương tật giật buốt từng cơn. Tuy vậy, tôi vẫn không hình dung được tôi sẽ ra sao khi tôi thiếu những quyển sách mà chị tôi đã chọn đọc và mang đến cho tôi. Tôi vẫn cảm nhận được hơi ấm từ những trang sách.

Sách vừa nâng đỡ, đôi khi lại vừa nhấn chìm. Chị tôi cũng hao hao một quyển sách nhưng là một quyển sách rối rắm, khó nhọc.

Mấy lần tôi hỏi má vì sao chị không đến, vì sao có sự bất thường này. Má nói là ba có gọi điện đến cơ quan của chị tôi và anh rể, cả hai nơi đều bảo chị tôi và anh rể vẫn đi làm bình thường, nghe đâu chị còn được cơ quan cử đi học thêm một lớp vẽ vời gì đó, còn anh rể được đơn vị tiếp tục bình chọn là một báo cáo viên giỏi. Mặt buồn xo, má trách chị:

- Đó tới đây mất có mấy phút, vậy mà cả mấy tuần không thấy mặt mũi. Thiệt là… con với cái.

Thật bất ngờ, sau câu quở trách của má chừng ít phút, chị xuất hiện ở đầu đường. Chị không đi bằng chiếc xe Tàu được dán đề can màu mè, na ná với công việc hàng ngày của chị ở phòng tuyên truyền cổ động, mà ngồi trên chiếc xích lô. Chờ xích lô dừng hẳn lại bên đường, chị mới bước xuống. Con Phèn vẫy đuôi rối rít, vừa sủa vừa loắng quắng chạy ra đón chị. Tôi lật đật trở vào chỗ trú ẩn của mình.

Chị vào nhà. Không ồn ào réo gọi: “Út ơi, chị đến đây! Má ơi, con về đây!” như mọi khi. Tôi nghe tiếng chân của má. Bà gấp gáp bước ra cửa.

Tôi tụt khỏi giường, lết tới, ép tai vào sát tấm rèm ngăn cách chỗ tôi nằm với phòng khách. Từ vị trí này, tôi không chỉ nghe được tiếng nói mà còn thấy má thấy chị, dù không thật rõ bởi vướng phải những bông hoa hướng dương xòe nở trên nền nâu nâu của đất. Tôi nghe tiếng má:

- Sao mặt mày con xanh mét vậy?

Tiếng chị:

- Con chóng mặt…

Chưa nói hết câu chị đã chuồi người ra nệm ghế.

Không kịp lấy gối, má tôi kéo một miếng nệm ghế kê dưới đầu chị, rồi kéo đôi chân chị đặt lên ghế.

Tôi tiếp tục dỏng tai nghe tiếp cuộc đối thoại.

Đột nhiên, cả hai lặng thinh. Chỉ còn nghe tiếng “vù vù” của cánh quạt chém vào không khí. Má bước tới chỗ công tắc, xoay vặn lạch tạch. Cánh quạt quay chậm lại.

Má mở tủ thuốc, lấy dầu xoa vào màng tang rồi xoa vào gan bàn chân chị, má xoa mạnh, xong chân này đến chân kia. Mùi dầu gió thoang thoảng len vào mũi tôi.

Má vẫn ngồi bên chị. Tôi không nghe rõ được tiếng má, tiếng chị. Loáng thoáng câu được câu mất. Lúc má hỏi, lúc chị trả lời. Ngập ngừng, đứt quãng, lào thào. Chợt má đứng dậy, hỏi lớn:

- Con vô bệnh viện có một mình sao?

Chị nín thinh.

- Con làm chuyện động trời này chồng con có biết không?

Chị cũng không lên tiếng.

- Nó được bao lớn rồi?

Chị im lìm như một cái xác.

- Con câm hả? Đứa nhỏ được mấy tháng tuổi?

Tôi bất ngờ trước cơn giận ngùn ngụt của má.

Chị tôi ấp úng:

- Nó… nó... còn nhỏ lắm, mới mấy tuần thôi.

Tôi chỉ muốn tai mình điếc đặc.

Tôi cũng muốn mình không thở nữa. Tôi nằm bẹp xuống nền nhà.

Nền gạch lạnh. Lòng đất có lẽ còn lạnh hơn. Khi chôn em tôi, lúc đó má tôi rất mệt. Bà không ngồi dậy nổi, nằm thiêm thiếp trên giường, dưới giường đặt một bếp than. Hơi nóng của bếp than và cái mùi than cháy đỏ tôi vẫn còn nhớ. Tôi cũng nhớ chị tôi đã bao bọc em tôi trong mấy lớp vải che mưa màu xanh đọt chuối, tấm vải nhiều lần chị em tôi đã che mưa. Chị tôi cầm vá hì hụi đào một cái hố nhỏ ở chỗ góc vườn. Vài con bướm ma bay chấp chới trước mặt tôi mặt chị. Lưỡi vá chị cắt đứt mấy con trùn, mấy cọng rễ cây. Chị cắm vá, xoa xoa hai lòng tay phồng vộp vào nhau rồi đào tiếp. Tôi giúp chị đặt đứa em đã được bao bọc kín mít trong mấy lớp vải ni-lon nằm ngay ngắn trong lỗ huyệt, rồi lấp đất lại. Tôi không khóc. Chị cũng không khóc. Bởi em tôi cũng chưa biết khóc. Nhưng má tôi thì khóc. Mắt bà sưng húp. Khi đi lại được, bà dời ngôi mộ em tôi ra xa cây mít, bà sợ rễ cây ăn vào thịt da của em tôi. Bà còn trồng hoa quanh mộ nó.

Tôi nghe chị khóc, dù tôi muốn bịt kín tai.

Tôi không rõ giọt nước mắt chị có màu gì. Chị khóc vì thương giọt máu mình đã khước từ, khóc vì cơn thịnh nộ đau lòng của má, khóc vì những vòng dây buộc ràng lỏng lẻo với chồng, hay chị khóc vì thiếu vắng người đàn ông mà vì anh ta chị sẵn sàng chối bỏ tất cả…

Tôi ghét tiếng khóc của chị, tiếng khóc của người đàn bà tìm kiếm khoái cảm đau khổ và gieo cho những người yêu thương gần gũi mình gánh chịu khổ đau.

Tôi thấy ghét luôn cả chị.

Tôi còn giận cả má, bởi sau cơn giận tím tái đối với đứa con gái nhẫn tâm bóp chết một mầm sống, má lại bao dung như một bà tiên. Bà săn sóc chị, vỗ về chị như chị vẫn còn là một đứa trẻ và đang bị sốt. Bà pha sữa, khích lệ chị uống cạn ly, dìu chị vào phòng bà nằm nghỉ rồi bà vào bếp, lục đục làm bữa cơm chiều.

 

13

 

- Út ơi, xuống ăn cơm, con!

Má gọi đến lần thứ ba, tôi vẫn nằm im.

Mọi khi nghe má gọi là tôi liền lên tiếng và quăng mình lên xe lăn, lăn xe xuống nhà bếp và thường giúp má lau chén đũa, lấy rau sống từ trong cái rổ ra dĩa, dầm nước mắm tỏi ớt, chia đũa, bới cơm, có bữa còn gọt trái cây. Má tôi vui ra mặt khi tôi luẩn quẩn bên bà và luôn biết tìm làm những việc lặt vặt giúp bà.

Lần thứ tư má gọi, tôi ngồi dậy, nói vọng xuống nhà sau:

- Má ăn đi, con chưa thấy đói…

Tôi nghe tiếng mình vừa to, vừa vang.

Chừng vài phút sau, tôi nghe những tiếng bước chân của má. Bà hấp tấp bước vào chỗ tôi. Thấy căn phòng tôi tối vì cửa sổ đóng kín, má đưa tay bật công tắc bóng đèn sáu tấc mắc phía trên cửa sổ. Bóng đèn nhấp nháy nhấp nháy rồi cháy sáng. Tôi lấy tay che mắt, bực dọc:

- Má làm con chói mắt!

Má bước tới bên tôi:

- Má với chị con chờ con xuống ăn cơm.

Tôi xẵng giọng:

- Con không đói, má tắt dùm bóng đèn cho con!

Giọng gay gắt của tôi khiến má ngạc nhiên:

- Út, sao tự dưng… có chuyện gì vậy con?

Không đợi tôi trả lời, bà cúi xuống sờ tay lên trán tôi, rồi sờ xuống mặt, xuống cổ. Bàn tay bà lại đặt tay lên trán tôi. Tôi đẩy bàn tay má ra:

- Con không sao hết, má lo cho chị hai đi.

Mấy tiếng “má lo cho chị hai”, tôi nghe giọng tôi như lạc đi. Rồi không cần biết má nói gì, làm gì, tôi kéo mền đắp kín mặt, kín mình.

Tôi vẫn nghe hơi thở má. Chắc bà vẫn đứng cạnh tôi, đang nhìn thằng con từng cao một mét bảy mươi ba giờ chỉ còn một khúc nằm im giấu kín nỗi niềm dưới lớp mền.

Tôi nghe tiếng chân bà rời khỏi chỗ tôi.

Tôi nghe tiếng chuông đồng hồ treo tường ngoài phòng khách gõ đúng sáu tiếng. Nếu ba tôi không đi công cán, ông đã mở ti vi xem chương trình thời sự. Tôi ngửi được mùi thơm của thịt cá, của hành ngò, tiêu ớt từ dưới bếp.

Ít phút sau, má quay vào chỗ tôi với tô cháo bốc khói.

Nhìn tô cháo thơm phức hành ngò, tôi không nỡ làm má khổ thêm. Tôi ngồi dậy, múc từng muỗng cháo cho vào miệng. Thấy tôi ăn được, mắt má sóng sánh niềm vui. Bà nói:

- Chị con cũng vừa ăn được được lưng lưng tô cháo.

Lưỡi tôi chợt vướng mấy miếng tiêu lộm cộm. Má thừa biết tôi không thích vị cay của hột tiêu. Tôi biết nồi cháo này má nấu cho chị.

Tôi cũng chợt nhận ra, trong lòng người mẹ bao giờ cũng là những đứa con, dù đó là đứa con tật nguyền nơi thể xác hay thương tổn ở phần sâu kín của tâm hồn.

Tối đó chị ở lại và ngủ cùng giường với má.

Tối đó, từ Hà Nội ba gọi về nhờ má khóa dùm ngăn tủ để tài liệu mà lúc đi ông quên khóa.

Tối đó, anh tôi gọi điện báo cho cả nhà tin vui: thằng con trai anh vừa có kết quả thi tiếng Anh, nó đậu hạng ưu. Anh mời cả nhà dự tiệc mừng vào trưa hôm sau.

Tối đó, anh rể tôi gọi đến, gọi rất muộn, lúc tôi nhắm mắt, đếm thầm trong miệng từng con cừu di chuyển nhịp nhàng trên đồng cỏ để vỗ giấc ngủ. Anh đuổi hết đàn cừu của tôi và nhấp nhẳng nhờ má chuyển máy cho con trai anh nói chuyện với mẹ nó.

Tôi nhắm mắt, chập chờn hồi lâu, cuối cùng rồi giấc ngủ cũng đến.

 


 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 04/03/2020

Tin khác

ĐÁ ĐỎ - TIỂU THUYẾT CỦA THÁI CHÍ THANHĐÁ ĐỎ - TIỂU THUYẾT CỦA THÁI CHÍ THANH
THEO DẤU CHÂN BÙI NGUYÊN KHIẾTTHEO DẤU CHÂN BÙI NGUYÊN KHIẾT
NHỮNG TRANG VĂN GIẢN DỊ MÀ ÁM ẢNHNHỮNG TRANG VĂN GIẢN DỊ MÀ ÁM ẢNH

Tin mới nhất

NHÀ VĂN TRẦN VĂN TUẤN: GIỮA THẬT GIẢ, CŨ MỚI
NHÀ VĂN TRẦN VĂN TUẤN: GIỮA THẬT GIẢ, CŨ MỚI

Ở tuổi 70, nhà văn Trần Văn Tuấn vẫn miệt mài viết. Dáng vẻ gầy gò và khuôn mặt khắc khổ của ông hoàn toàn đối lập với những trang văn sinh động và hấp dẫn.

Sách mới

Bài toán khó tâp 1, 2

viết bởi: CAO NGỌC THẮNG

Bài toán khó tâp 1, 2
Về miền thinh không

viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Về miền thinh không
Người truyền ký ức

viết bởi: Nhà xuất bản

Người truyền ký ức