Phan Văn Đà người tiếp nối truyền thống văn học Cổ Đô

Nhà thơ Phan Văn Đà may mắn được sinh ra tại làng cổ nổi tiếng Cổ Đô, thuộc phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây xưa, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội.

Viết bởi: Vân Long

Nhà thơ Phan Văn Đà may mắn được sinh ra tại làng cổ nổi tiếng Cổ Đô, thuộc phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây xưa, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Đó là một ngôi làng ven sông Đà, con sông lắm thác ghềnh nhưng cũng nhiều huyền thoại thơ mộng tự thuở vua Hùng dựng nước.  Người làng chỉ đi xuôi chút ít là gặp ngã ba sông, nơi gặp gỡ 3 con sông với 3 màu nước khác nhau. Người thì bảo đó là phản quang sắc màu những tấm lụa công chúa Thiếu Hoa con vua Hùng từ thành Phong Châu sang Cổ Đô dạy dân chăn tầm, dệt lụa nên lụa Cổ Đô nổi tiếng. Người thì cho là dấu ấn thời hiện đại báo hiệu gần đó có ngôi làng được gọi là “làng họa sĩ”, đó cũng là một tên mới của Cổ Đô, bởi có tới gần 30 họa sĩ được đào tạo chính quy tại các trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, đại học Mỹ thuật công nghiệp HN, Cao đẳng sư phạm nhạc họa trung ương…Một làng mà có thể mở một phòng triển lãm tranh “cấp nhà nước”!

 

Nhưng bài giới thiệu thơ này thuộc lĩnh vực văn học, ta chỉ nên chú ý tới truyền thống văn học của Cổ Đô. Đây là sử liệu văn học chứ không còn là truyền thuyết:Vị tiến sĩ đầu tiên của Cổ Đô là Nguyễn  Sư Mạnh, cha chết sớm, 27 tuổi ông mới đi thi, đỗ ngay đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, năm Hồng Đức thứ 15 (1484). Ông làm quan tới Thượng thư bộ Lễ. Đi sứ sang triều đình nhà Minh, vua tiếp sứ, nghe nói sứ thần ta đọc thiên kinh vạn quyển. Vua vừa muốn thử tài, vừa muốn tạo cớ diệt người tài các nước chư hầu, đã xuống chiếu, đại ý: “Nay thiên triều bị lạc mất thiên Vi Chính trong sách Luận ngữ, nhờ sứ thần An Nam chép lại giúp. Hẹn ba tháng phải chép xong, chép đầy đủ thì được thưởng, chép sai sót một chữ là bị hình phạt.”

Sứ thần ta đi chơi suốt, thăm thú khắp nơi có danh lam thắng cảnh, đền đài thành quách, đến gần hết hạn mới về. Ông chép liền mấy đêm, xong thiên Vi Chính, đem nộp.

Vua Minh sai các quan đem sách trong thư viện hoàng gia ra đối chiếu. Kỳ lạ là bản chép của sứ thần không thiếu, không sai một chữ.

Vua bắt xem xét lại, thì phát hiện sứ thần ta viết thừa ra một dấu chấm ở chữ “cộng”. Nhưng xét kỹ hơn, thì thấy ở bản gốc cũng thừa ra một dấu chấm ở đúng vị trí ấy. Vua Minh phục tài sứ thần ta, đành bỏ ý định xâm hại, mà phải phong ông chức thượng thư, ban áo mũ, thẻ bài  đầy đủ. Hiện ở từ đường họ Nguyễn ở Cổ Đô, vẫn treo 4 chữ vàng: Lưỡng quốc thượng thư. Khi ông về nước Nguyễn Sư mạnh đã tâu hết ngọn ngành với nhà vua, được vua khen là người có công lớn, và đã ra cho ông một đề thơ “ Thái bình”. Nguyễn sư mạnh đã ứng khẩu đọc ngay bài thơ dâng tặng như sau: Nguyên Thượng vạn niên thư/ Nhật nguyệt quang thiên đạo/ Sơn hà tráng để cư/ Thái bình vô dĩ đáp. Lược dịch: Đạo trời sáng như mặt trăng mặt trời/ Hoàng thượng trị vì giữa nước non hùng vĩ/Đất nước thái bình đã hiển nhiên/ Xin chúc vĩnh viễn cảnh như thế. Cổ Đô còn vị thượng thư thứ hai là Lục bộ thượng thư Nguyễn Bá Lân, ông là tác giả bài Ngã Ba Hạc phú nổi tiếng trong văn học sử. Đặc biệt ông có người cha nổi tiếng văn thơ hay – là một trong “tứ hổ” văn chương Thăng Long thời ấy, mà không chịu thi cử gì, chỉ chuyên tâm dạy con học. Đến mức khi Bá Lân thành danh, lại có chiều xuất sắc hơn bố ở một vài trường hợp bị bố thử thách. Một hôm, hai bố con đi đò sang ngang, ông bố ra đề, để hai bố con cùng làm một bài phú đề tài vượt sóng. Ai không xong trước khi cập bến là thua, bị ném xuống nước. Ai dè ông con làm xong trước bố, ông bố nhận thua, bắt con thực hiện lời giao ước: ném người thua xuống nước. Ông con nào dám làm chuyện bất hiếu đó. Thế là ông thượng thư  trẻ tuổi bị bố đánh vì tội không vâng lời!

Nhà thơ Phan Văn Đà không chỉ tiếp nhận truyền thống Cổ Đô, ông còn nhìn rộng xa hơn nữa. Ông học thái độ của Hoài Thanh – Hoài Chân, đã cung chiêu anh hồn nhà thơ lớn Tản Đà trên trang đầu cuốn Thi nhân Việt Nam, vì sao sáng trên thi đàn tỏa xuyên hai thế kỷ. Ông trân trọng đặt bài thơ Viếng mộ Tản Đà trên trang đầu của tập thơ đầu Quê hương lời ru. Chỉ với hai câu về Tản Đà, đã đủ đánh giá cả đời thơ của vị trưởng thượng này trong thơ Việt:

Nỗi lòng vắt kiệt thành thơ

Để hồn sông núi bây giờ còn say

Thái độ của nhà thơ Phan Văn Đà một lòng thành kính:

Dõi nhìn theo ngọn khói bay

Tấc riêng một nén hương này kính dâng

Phan Văn Đà là một cán bộ quản lý kinh tế, từ sản xuất nông nghiệp (trưởng  Ty Nông nghiệp Hà Tây) đến thương nghiệp (phó Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội), thường xuyên tiếp xúc với mọi lớp người, đi khắp mọi vùng quê, nhưng lúc nào ông cũng đau đáu nhớ về miền quê mẹ: Ngày đêm nhớ về nơi ấy / Nỗi nhớ sao mà da diết vậy/ Tiếng mẹ lời ru nhịp võng trưa hè/ Dáng chị tảo tần dài dọc bờ đê…Hình ảnh người phụ nữ dù là mẹ hay là chị bao giờ cũng là biểu tượng tảo tần của quê hương thân thiết, còn cảnh quê anh chỉ cần đôi nét chấm phá:

Nơi vọng tiếng thoi đưa đêm dài quạnh quẽ

Nơi cánh diều bay no gió chiều quê

đã thấy hiện ra một vùng yên ả, thanh bình có cô gái ngồi dệt lụa, có bầy em thơ ngây chăn nghé, thả diều…

Phan Văn Đà là một trong nhóm người đứng ra tổ chức Câu lạc bộ văn nghệ sĩ Xứ Đoài tại Hà Nội, gồm những anh chị em rời quê lên làm việc ở thành phố, ông là phó Chủ nhiệm CLB ấy đã tồn tại mấy thập kỷ nay, nên ông rất vui khi làng mình được mệnh danh là làng họa sĩ , nhìn chung trên cả nước, đã có làng nào được gọi như thế chưa? Nhưng ông cũng nhận ra điều cốt lõi của niềm tự hào, phải là những gì được sinh ra, được nuôi lớn, được xã hội thừa nhận một cách chân chính mới tồn tại được lâu dài. Điều cốt lõi ấy phải chăng là: Làng họa sĩ tên không tự đặt/ Giá của tài hoa từ trong màu đất/ Đỏ hạt phù sa một khúc sông Đà/ Là chất khởi đầu rưng rưng nét bút.Sau chất liệu để sáng tạo là nội dung cuộc sống được các họa sĩ thể hiện: Có biết bao đêm anh ngồi vẽ tiếp/Dáng mẹ hao gầy bên khung cửi dệt/ Năm tháng chiến tranh/ Anh vẽ trai làng ra đi náo nức/ Bức họa quân mình ở thế xung phong

Ông không vẽ bằng bút màu của họa sĩ, nhưng ai ngăn ông thể hiện cảnh quan quê hương cũng như thanh sắc chốn thị thành bằng ngọn bút thơ, một sớm xuân, một chiều xuân khi dạo quanh Hà Nội: Gốc đã bao phen hiến trọn cành/ Sức xuân vẫn nẩy những chồi xanh/ Hoa hay lửa thắp trong mưa bụi/ Thế tựa rồng bay khắp cửa thành (Đào thế Thăng Long)

Vì nặng lòng yêu quê hương, ông muốn lớp trẻ sinh sau ngay từ lúc nằm nôi đã hiểu dần từng nét đẹp, làm quen với từng địa danh quê mình, muốn vậy chỉ có cách hay nhất là viết thành lời ru cho các bà mẹ:

Quê mình đẹp lắm như thơ/ Mây giăng Núi Tản, lững lờ mây trôi/ Sông Đà in bóng trăng soi/ Ao vua thác dội cảnh trời thần tiên/ Suối Hai hồ nước trao duyên/ Đàn cò Ngọc Nhị báo tin mùa vàng/ Nặng tình chung chuyến đò ngang/ Cánh diều ai thả đê làng vọng ru / Làng tranh nét bút Cổ Đô/ Mang lòng say đắm hồn thơ Tản Đà… (Lời ru II trong Quê hương lời ru)

Cùng với những bài thơ về Quê hương ông cũng có nhiều bài thơ về gia đình như bài thơ Mừng Chị nhân bà chị được tuổi 80, bài Em Tôi viết về chú em trai liệt sĩ; vợ và các con, các cháu đều có thơ ông tặng vừa là để bộc lộ tình cảm của mình, vừa là lời khuyên con cháu phải nói lời hay làm việc tốt. Vào một đêm hè ông và người bạn đời cùng ngồi ngắm trăng ở quê, ông viết: Đêm hè Trăng cũng dạo chơi/ Vén mây Trăng tỏ khoe đây tuyệt vời/ Ngắm Trăng đôi mắt em cười/ Ngắm em anh thấy tuyệt vời hơn Trăng/ Đêm hè mà thấy lâng lâng/ Bên em lại có chị Hằng cùng vui. “ Trăng và em”.Trong bài thơ Nhắc Con ông viết: Mừng con mười bẩy tuổi/ Con đã lớn lên rồi/ Như hoa xuân đang độ/ Bông hoa càng rực rỡ / Hương sắc phải giữ gìn / Sắc làm ra cái duyên / Hương làm thành cái nết

Sau những vần thơ viết về quê hương và gia đình, ông có một mảng thơ viết về những công việc mà ông đã làm. Ở cương vị trưởng ty nông nghiệp, Phan Văn Đà thường vui và lo cùng với người nông dân trong mọi trạng thái của nghề nông:Vui nhất là ngày mùa/ Bận nhất là ngày mùa/ Thức dạy từ tinh mơ/ Bữa cơm ăn cũng vội/ Đường làng đông như hội…Tiếng cắt lúa rào rào / Tiếng xe lăn lộc cộc/ Anh hò dô lên dốc/ Chị thúc giục chạy đua/ Làm như cướp thì giờ/ Trưa rồi không chịu nghỉ/ Tối về vẫn vội thế/ Lúa đập vang trời khuya…(Vui ngày mùa)

Lúc vui thì vui trong tất bật, nhưng chưa được mấy lúc vui thì lại xuất hiện hết nỗi lo này đến nỗi lo khác. Một lần ông về thăm vùng trồng dâu nuôi tằm, ông đã thốt lên những lời chân thành, tâm huyết. Tôi mong những nhà lãnh đạo khác cũng nhẹ nhàng “rút kinh nghiệm” và dặn dò ân nghĩa người dân như thế này: Bao năm lên thác xuống ghềnh/ Giờ đây mới hiểu mối tình thuỷ chung/ Gian truân dâu vẫn xanh đồng/ Tằm ngoan luôn vẫn một lòng nhả tơ/ Trách sao ai nỡ hững hờ/ Để cho tình nghĩa duyên xưa nhạt nhòa/ Hôm nay nghĩ lại gần xa/ Thương tằm càng phải mặn mà cùng dâu. Và lời khuyên sau đây chẳng khác chi người chị thủ thỉ tình cảm với đứa em mình: Ấy là tình nghĩa trước sau/  Đừng vì nước cả sông sâu ngại đò… (Thuỷ chung).

Ông về công tác tại ngành thương mại Hà Nội giữa lúc chuyển đổi cơ chế, xóa bỏ bao cấp, thực hiện nền kinh tế thị trường. Ông đã có nhiều bài thơ nói về sự “lột xác” của ngành thương mại. Ông đã viết: Nay nước mắt mai nụ cười/ tháng năm bao chuyện ngọt bùi đắng cay/ Bước vào như uống men say/ Được thua thua được lòng đầy khát khao/ Lúc nắng lửa lúc mưa rào/ Khi chìm khi nổi với bao chữ ngờ/ Khôn lên bao nữa cho vừa/ Có duyên đâu chỉ mộng mơ mà thành/ Nghề buôn như mãi còn xanh/ Chát chua mới hiểu ngọt lành chờ ai.Đúng là những vần thơ có từ trong ruột gan của những người làm thương mại ngày đó và cả đến hôm nay.( Một nghề mãi xanh)

 

Phan Văn Đà là người rất yêu thiên nhiên, ông từng tạo lập khu vườn Nửa vầng trăng, hoạt động đón du khách được ít lâu, nhưng rồi lực bất tòng tâm, ông lại phải nhường “ quả bóng” ấy sang chân người khác. Ông khép lại tập thơ Thu Về bằng bài thơ Làm Vườn . Qua đó  bộc lộ cái thú của người làm vườn dường như ông mới phát hiện ra:    Hiểu được tấm lòng của đất/ Dâng hiến, thuỷ chung, chân thật

Biết được khát vọng của cây/ Buồn vui gửi vào sắc lá

hấy công đàn ong vất vả/ Tháng ngày thụ phấn cho hoa

 làm vườn một nghề rất lạ/  Hồn người xanh cùng với lá!

Qua thơ của Phan Văn Văn Đà ta nhận ra rằng dù có yêu quê mình đến mấy, mà người viết cứ quẩn quanh bên ao hồ, nước lặng quá quen thuộc với mình thì cũng khó tìm ra cái mới. Chưa nói đến sự lặp lại mình là điều khó tránh khỏi. Đến với cảnh quan mới, nhà thơ dễ bật ra ý mới. Từ đó ý mới lại đòi ngôn ngữ mới, hình tượng mới…Thơ của Phan Văn Đà vốn hiền như con người ông vậy, nhưng khi đọc bài ông viết về Sa Pa, tôi lại bắt gặp sự so sánh rất bạo của ông:  Thác Bạc / Hũ rượu của trời/ Cứ rót suốt đêm ngày/ Chưa uống ly nào đã thấy mình say! (Sa Pa nơi ấy). Còn nói gì đến khi ông được xuất ngoại, thăm một đất nước “bé hạt tiêu” như Singapore. Là người quản lý kinh tế, ông bật ra ngay một câu hỏi: Singapore – Con Sư tử biển/ Như một chàng trai thông minh vạm vỡ/ Gạo ăn không đủ/ Nước lã phải đi mua/ Sao trở thành giầu có?

….Cả Singapore/ Một công viên rực rỡ/ Nào Thuỷ cung, vườn chim, vườn thú. Đảo Sentosa có phải chốn thần tiên ? Cảng Singapore rộng mở/ Sân bay Singapore rộng mở / Khách đến chia vui/ Hơn cả nhiều lần số dân hiện có. Dường như ta thấy ông giơ tay lên trời mà thốt lên: Ôi Singapore !/ Một đất nước “hạt tiêu”/  Bé mà không nhỏ!

Yêu quê hương mình bao nhiêu, ông càng trân trọng những nét đẹp của núi sông đất nước, nên đến đâu ông cũng muốn vịnh cảnh, gửi tình. Khi lên Tam Đảo ông viết:Lên Tam Đảo mới rõ/ Núi và mây nặng tình/

Luôn quấn quýt bên mình/  Thành cơn mưa bất chợt ……………  Gió về đây như hát/Xua đi cái nắng hè/ Âm thanh nào say mê/ Bằng trăm loài chim hót (Lên Tam Đảo). Đến thăm Sầm Sơn ông lại viết: Chưa qua đã gọi Hòn Mê/  Lắng nghe biển hát, đường về tưởng quên/ Đôi hòn Trống Mái thì quen/ Một ngày nghỉ đã nên duyên nghìn ngày… Một thoáng Sầm Sơn

Khi muốn tiết chế ngôn ngữ thơ, ông dùng thể 4 chữ. Bài Qua đèo Hải Vân sau đây ông đã tăng hiệu suất chữ, gói cả đất trời sông núi chỉ trong 32 từ:   Mây trắng trên đầu/  Sóng xanh trước mặt/ Gió từ mặt đất/ Thổi lưng chừng trời/ Bên kia là Hạ/ Bên đây thu rồi/ Đường như tấm lụa/ Trải ra đón mời…

Những gì ta biết về thơ của Phan Văn Đà, đó là một hồn thơ đôn hậu, giầu chất nhân văn, nó bắt nguồn từ những cảm xúc thực trong cuộc sống hàng ngày. Ông làm thơ với nhiều đề tài khác nhau, nhiều lúc  như người viết nhật ký bằng thơ. Những gì đã có trong thơ ông là những thành công đáng khích lệ. Chúng ta chúc cho ông giữ mãi mối tình thắm thiết với nàng thơ và những trang thơ nối tiếp của ông ngày một khởi sắc!..

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 26/06/2018

Tin khác

VĂN HỌC TRONG LÒNG TÔIVĂN HỌC TRONG LÒNG TÔI
Văn xuôi nữ: lý thuyết và nghiên cứu thực tiễnVăn xuôi nữ: lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn

Tin mới nhất

CÀ CUỐNG
CÀ CUỐNG

Cà cuống, một con vật ẩn mình dưới bùn đen, lại vừa là biểu tượng, vừa là hiện thân của những triết lý sâu sắc. Cái biểu tượng của triết lý chính là khi chết, khi bị đốt thành tro than cà cuống mới càng cay ...

Sách mới

Ngược dòng

viết bởi: Trần Quang Quý

Ngược dòng
Khu vườn đêm của Tom

viết bởi: Nhà xuất bản

Khu vườn đêm của Tom
Cửa sổ hình tia chớp

viết bởi: Nhà xuất bản

Cửa sổ hình tia chớp