NHỮNG TRANG VĂN GIẢN DỊ MÀ ÁM ẢNH

Nếu chọn một hình ảnh để nói về nhà văn Đỗ Thị Hiền Hòa và các nhân vật của chị, tôi sẽ chọn hình ảnh “cây thông nhỏ”. Nói đến thông là nói đến cốt cách thanh cao, nói đến sự vươn lên cứng cỏi.

Viết bởi: Tiến sĩ, Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

Tôi biết nhà văn Đỗ Thị Hiền Hòa trước khi được đọc văn của chị. Ngày ấy tôi còn là một cô bé, đang học phổ thông. Mỗi mùa hè, Hội VHNT tỉnh Hải Hưng (hồi ấy chưa tách thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên như bây giờ) đều tổ chức một trại sáng tác văn học thiếu nhi. Học chuyên văn, tôi cũng bập bẹ sáng tác một ít truyện ngắn nên đều đặn được gọi đi “dự trại”. Nhà văn Đỗ Thị Hiền Hòa khi đó công tác tại Hội VHNT, là đầu mối chính cho việc mở trại sáng tác thiếu nhi. Ấn tượng của tôi về những trại viết ấy là vui nổ trời. Những “nhà văn tương lai” đang ở tuổi nhất qủy nhì ma, tập trung nhau lại, mỗi ngày đều nghĩ ra những trò nghịch mới xen lẫn với những giờ lên lớp ngồi há miệng nghe các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trao đổi chuyện sáng tác. Nhà văn Đỗ Thị Hiền Hòa trở nên thân thiết vô cùng với bọn trẻ chúng tôi. Hơi tí là réo “cô Hòa ơi…”. Có buổi chiều trêu chọc nhau nhiều quá, cứ “cô Hòa ơi” không biết bao nhiêu lần. Trại được Hội tổ chức cho đi tham quan Bãi Cháy một ngày, thấy vui sướng quá, chẳng đứa nào chịu về. Cứ ngồi lì trên bãi biển mà ỉ eo: Cô Hòa ơi cho chúng cháu ở lại đây một hôm thôi! Cô Hòa ơi, chúng cháu nhất định không về đâu!

Sau này, như mối lương duyên, tôi về Hội VHNT Hải Dương công tác. Khi đó nhà văn Đỗ Thị Hiền Hòa đang là Phó Chủ tịch Hội, Tổng Biên tập tạp chí Côn Sơn. Thú thực lúc đó tôi mới tập trung đọc của chị nhiều. Tất cả các tập truyện ngắn chị đã xuất bản, tôi tìm đọc hết. “Văn là người”, câu nói ấy thật đúng, nhất là trong trường hợp Đỗ Thị Hiền Hòa. Ấn tượng mà chị để lại cho mọi người xung quanh là sự thẳng thắn, lắm lúc thẳng thắn đến ngạc nhiên. Có lẽ cũng chính vì vậy mà có những lúc, mọi người xung quanh hơi “ngại” chị.

Không biết nói vòng vo, cũng chẳng cần phải xu nịnh, hạ mình trước ai. Với chị, đúng là đúng mà sai là sai, đừng có nhập nhèm. “Soi” vào văn của chị, thấy các nhân vật nữ hệt như tác giả. Các nhân vật nữ của Đỗ Thị Hiền Hòa là hồn vía nhà văn, là bóng dáng quen thuộc của nhà văn, có những nét riêng không thể nào trộn lẫn. Tập “Mùa trăng khuyết” đã tuyển chọn những truyện ngắn, theo tôi là tiêu biểu nhất của chặng đường văn chương của Đỗ Thị Hiền Hòa từ những năm 1980 đến nay.

Nếu chọn một hình ảnh để nói về nhà văn Đỗ Thị Hiền Hòa và các nhân vật của chị, tôi sẽ chọn hình ảnh “cây thông nhỏ”. Nói đến thông là nói đến cốt cách thanh cao, nói đến sự vươn lên cứng cỏi. Nhà thơ “ngông” bậc nhất Nguyễn Công Trứ ngày xưa đã từng có ước muốn rất lạ lùng:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Nếu làm người mà phải khom lưng quỳ gối, phải uốn mình cho vừa với vòng danh lợi thì thà làm cây thông ngạo nghễ giữa đất trời còn hơn. Hình ảnh cây thông nhỏ trong truyện ngắn cùng tên của Đỗ Thị Hiền Hòa cũng vậy. Cô Vân, nhân vật chính trong chuyện vì sống thẳng ngay, cứng cỏi mà nhiều lúc phải chịu thiệt thòi. Nhưng Vân không ân hận vì điều ấy. Cô khẳng định dẫu thế nào đi chăng nữa, cô vẫn là một cây thông nhỏ, vẫn mạnh mẽ vươn lên thẳng thắn. Đỗ Thị Hiền Hòa có cảm hứng ngợi ca bất tận với những nhân vật chính diện, luôn đấu tranh vì lẽ phải, luôn chắt chiu, vun vén cho sự nghiệp chung. Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều lúc lẽ phải, cái thiện, cái tốt đẹp bị dồn ép đến tận đường cùng. Như một lẽ tất nhiên, cái thiện, cái tốt đẹp phải gắng sức, gồng mình mà đấu tranh quyết liệt. Các nhân vật chính diện trong tác phẩm của Đỗ Thị Hiền Hòa vì thế mà đều cá tính, đáo để. Đó là cô Miên trong “Lạ lùng” đã kiên quyết chối từ một bao đạm ưu tiên do anh cán bộ huyện – người yêu cũ của cô mang tặng, vì cô biết bao đạm ấy được kiếm bằng cách khuất tất; từ chối một cách thẳng thắn, sắt đá, trong lúc gia cảnh cô rất đỗi gieo neo và bao đạm ấy đúng là thứ mà cô đang rất cần. Không chỉ từ chối bao đạm, cử chỉ ấy còn là sự từ chối một lối sống tầm thường, thực dụng, ti tiện, nhỏ nhen. Đó là cô Giang trong “Hoa cau” có vẻ ngoài đanh đá, chua ngoa, không biết nể nang ai, kể cả cán bộ xã. Hơi một tí là cô đốp chát ngoa ngoắt. Nhưng ẩn sau cái vẻ khó ưa ấy là một tâm hồn đẹp. Cô không mưu cầu lợi lộc cá nhân. Sự đanh đá chua ngoa là một vũ khí để đấu tranh không khoan nhượng với những người “làm chơi ăn thật”, chỉ chăm chăm giành mối lợi về mình, bỏ mặc công việc chung của Hợp tác xã. Đó còn là anh Tuấn trong “Sóng Lục Đầu giang”, đêm ngày mải miết ở công trường, vun vén cho công trình, ước mơ đến ngày đất nước thêm nhiều công trình mới, cuộc sống của nhân dân tươi đẹp hơn. Chính vì vậy mà Tuấn không thể chấp nhận được lối sống dựa dẫm, ỷ lại, buông xuôi, mặc số phận đẩy đưa.

Cả tập ‘Mùa trăng khuyết” thống nhất ở lối viết giản dị. Giản dị như chính bản thân cuộc sống. Không thấy nhà văn có chút “làm màu” hay cầu kỳ thử nghiệm đổi mới này nọ như nhiều cây bút chạy theo trào lưu hiện nay – kể cả ở những truyện chị vừa sáng tác như: Tư liệu cho bài báo, Đi về phía hoa đào, Tiền vẫn còn nguyên… Đấy là phong cách Đỗ Thị Hiền Hòa, và cũng là hồn cốt làm nên cái duyên văn của chị. Lối kể chuyện giản dị mà có duyên lôi cuốn bạn đọc trong “Mùa trăng khuyết” đã làm nên một giọng văn riêng của Đỗ Thị Hiền Hòa trên văn đàn. Đọc “Mùa trăng khuyết” thấy một kho tư liệu đầy ắp của cuộc sống, từ thời chiến tranh chống Mỹ sục sôi, hậu phương hết lòng cho tiền tuyến đến thời kỳ hậu chiến, cả nước hối hả hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây cuộc sống mới; từ thời bao cấp khốn khó, thiếu thốn đến thời kỳ “mở cửa”; từ chuyện làng, chuyện xã, chuyện xã viên cấy trồng trong hợp tác xã đến chuyện phấn đấu trong quân ngũ, chuyện bon chen, đấu đá, tính toan để tranh giành quyền lực chốn “quan trường”… Tuy nhiên, những trang văn giản dị ấy lại mang đến cho người đọc nỗi ám ảnh khôn nguôi về cuộc sống, về cách sống trong cuộc đời này. Đó là sứ mạng thiêng liêng và cao quý của văn chương. Văn chương không phải để giải trí – cho dù có thứ văn chỉ dùng để giải trí – mà là để đánh thức những nỗi trăn trở lớn của con người trước những vấn đề nhức nhối của nhân sinh. Tập truyện “Mùa trăng khuyết” đã làm được điều này qua những trang văn giản dị mà lay động. Hãy sống thẳng ngay, trong sạch, hãy biết phấn đấu vì sự nghiệp chung và vì những điều tốt đẹp nhất của cuộc sống này. Đó là thông điệp của nhà văn gửi đến chúng ta!

Hà Nội ngày 14/11/2016

 

 BÔNG HỒNG KHÔNG GAI

 

 Chiều hôm ấy, khi bước chân ra khỏi căn phòng sang trọng, Vân chạy thẳng đến chợ hoa. Cô hăm hở đi hết một vòng nhưng không sao tìm được bông hồng như cô muốn, bông hồng không gai. Chủ các quầy hoa nhìn cô bằng sánh mắt giễu cợt. Có người buột miệng:

- Đồ dở hơi. Hoa của người ta đẹp thế lại chê gai!

Tuy vậy cũng có người tử tế giảng giải cho Vân:

- Đã gọi là hoa hồng nhất định có gai. Đây này, hồng nhung, hồng bạch, hồng vàng, hồng nào chẳng có những chiếc gai. Chính vì những chiếc gai mà hoa hồng cao giá. Cành càng khẳng khiu, gai càng sắc nhọn bao nhiêu, người chơi hoa càng mến chuộng bấy nhiêu. Mùng tám tháng ba, chúng tôi bán mỗi bông mười ngàn, bằng năm cân gạo đấy.

Vân nhíu đôi mày cong vót và buồn rầu nhìn những chiếc gai tim tím, xanh xanh, hiên ngang như thách thức những đôi tay tàn bạo. Thì ra không có lấy một cành hồng trơn nhẵn như cô mong mỏi. Thì ra những đóa hoa rực rỡ nếu không nảy gai thì giá trị rất tầm thường. Nguyên do từ đâu chứ? Vân chợt nhớ có lần mình trông thấy cuốn sách "Sự tích các loài hoa". Phải rồi, mình cần vào thư viện, phải tìm ra gốc tích các loài hoa.

Thực tình, đó là cách nghĩ đỏng đảnh trong cơn điên loạn của nàng. Ba mươi hai tuổi sao nàng chẳng biết mọi loại hoa hồng cành đều có gai. Tạo hóa sinh ra nó, để cân đối, hài hòa với muôn sinh vật khác. Chẳng có gì đáng phải mất công tìm nguồn cội. Nhưng nàng không muốn chấp nhận một chân lý giản đơn như vậy. Nàng muốn tìm giá trị đích thực của những chiếc gai. Nàng hổn hển trên chiếc xe đạp tàng, nhằm hướng thư viện lao tới.

*

Vân quen anh từ hơn một năm về trước. Trong cuộc họp ồn ào, không nghe được tiếng nói mà chỉ nhìn rõ đôi mắt của anh. Đôi mắt lạ lùng đến mức Vân tưởng mình đang hơ trong ngọn lửa, lại vừa như đang bơi trong nước hồ. Bao lần trong mơ Vân từng thảng thốt gặp đôi mắt ấy, đôi mắt của Đức ngày xưa, đôi mắt đã làm cô run rẩy và buồn đau hàng chục năm trời. Sao anh cứ nhìn Vân chằm chặp? Chẳng lẽ trời bù lại cho Vân sự mất mát lớn của đời người?

Họp tan, Vân xách túi bâng khuâng bước trên đường. Chiếc xe máy màu xanh dừng sát bên cạnh. Đôi mắt thăm thẳm trùm xuống người Vân:

- Em về đâu anh chở?

Thế là quen nhau.

Rồi một hôm khu tập thể giáo viên bỗng ồn lên, người nọ truyền người kia:

- Bà Vân có bồ!

- Một ông nào đó oách lắm, cao to, đẹp trai, có Dream.

Cánh giáo viên trẻ rúc rích bàn tán với nhau. Vài cậu bạo gan bước vào phòng Vân, vẻ lễ phép:

- Em mượn chị cuốn giáo án.

- Chào anh chị, xin lỗi, cho em mượn thời khóa biểu tuần sau.

Vân nghĩ thầm, lũ quỉ sứ, chúng thiếu gì giáo án với thời khóa biểu đâu. Như hiểu rõ tâm trạng Vân, anh nói nhỏ:

- Chủ nhật tới đi chơi với anh nhé. Ở đây các bạn ấy vui quá, nhưng hẳn em không được tự nhiên.

- Nhưng đi đâu hả anh?

- Tùy em chọn. Hay chúng mình lên thành phố?

- Em không thích thành phố. Về quê em cho tiện. Quê em đẹp lắm.

- Đồng ý.

Khi Vân tiễn anh ra cổng quay lại thì cánh giáo viên trẻ đã tụ họp ồn ào ở phòng cô. Họ cười nói như pháo nổ:

- Ôi, bà chị khao thôi. Ít nhất phải ba chầu bia, bọn này mới giải tán.

Vân chưa kịp lên tiếng thì cậu Tân, giáo viên dạy vật lý dõng dạc nói:

- Đừng có mà mừng vội bà Vân ạ. Tôi biết rõ ông này. Ông ta có bà chị tên là Bạch Phương, giàu có và thế lực lắm. Bà ta giao dịch với các quan chức hàng tỉnh cứ như bạn bè. Đi đâu bà ta cũng dắt ông em này đi. Nghe đồn bà ấy sẽ tiến cử ông em vào hàng chức sắc cỡ bự nhé. Giáo viên quèn như bọn mình chỉ là con kiến dưới con mắt ông ta thôi. Bà Vân dù có là tổ trưởng bộ môn văn thì cũng chỉ là con kiến.

Tân nói một thôi như vậy làm mọi người ngơ ngác rồi lo lắng nhìn Vân. Không ngờ Vân tỏ vẻ đắc thắng tuyên bố:

- Dù là con kiến thì chủ nhật tới mình cũng sẽ đưa anh ấy về quê ra mắt họ hàng.

Thực tình Vân nói quá lên để đè bẹp ý nghĩ xấu của Tân. Cả hội lại xôn xao:

- Thật không, chị Vân?

- Chuyện tày đình, ai nói dối.

Tân hỏi:

- Bà vội vã như thế ư?

- Chứ sao. Các cụ dạy, trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng. Chẳng lẽ cậu muốn chị chết già.

Mọi khi Vân chỉ gọi Tân, xưng mình, bây giờ đàng hoàng xưng chị, dường như để trêu tức cậu.

- Ồ, nếu vậy thì chính bọn mình phải mua bia mừng bà Vân các cậu ạ. Tớ sẽ chi để mừng cho chị tớ sắp lấy chồng.

Căn phòng ồn ào hơn. Mãi đến sáu giờ tối cánh giáo viên trẻ mới giải tán. Vân mệt nhưng vui, cái vui kỳ diệu chưa bao giờ thấy.

Ba mươi hai tuổi, Vân được xem như gái "nhỡ thì", mặc dù cô vẫn đẹp, vẫn duyên. Từ ngày chuyển về đây nàng chưa nặng lòng với ai. Còn trước kia, nàng đã trải qua hai mối tình, một với người bạn tuổi học trò, một với người thầy giáo trường đại học. Với mối tình đầu Vân yêu chân thành và tha thiết. Nhưng Đức đã ra nước ngoài và không trở về nữa. Còn với người thầy giáo thì hầu như Vân không yêu mà chỉ đón nhận tình yêu. Nhưng ông ta đã có vợ nên tình yêu ấy chỉ mang đến cho nàng phiền muộn. Nàng chưa bao giờ dám chia sẻ với ông ta vị ngọt của tình yêu.

Về đây, nàng được ở trong khu tập thể giáo viên. Cách một gian phòng trống là phòng của hai thầy giáo trẻ. Cậu Tân dạy vật lý, kém Vân hai tuổi, tỏ ra quí mến Vân ngay những ngày đầu. Cậu chỉ xưng em đâu có vài hôm, rồi cứ bà bà, tôi tôi, ra chiều bằng vai phải lứa.

Rồi ngày chủ nhật thiêng liêng ấy cũng đến. Mọi việc xảy ra đúng như Vân mong ước. Khi trở lại trường Vân ríu rít như cô gái mới lớn. Cô đem về bao nhiêu quà quê. Cánh giáo viên trẻ tụ tập ở phòng cô nồng nhiệt và vui như đón người chị gái từ phương xa về. Riêng Tân không có mặt. Phòng Tân khóa trái cửa và tối om. Nhưng khi mọi người về hết thì điện lại bừng sáng và cửa phòng mở tung. Tân nằm vắt chân chữ ngũ trên giường hút thuốc, mắt nhìn lên trần nhà. Vân đứng ngoài hỏi vọng vào:

- Sao vừa nãy Tân không sang chơi? Mình phần quà đây!

Không thay đổi tư thế, Tân trả lời:

- Chị cất đi. Hôm nay tôi ốm, không muốn dùng gì.

Vân nhẹ nhàng đóng cửa, chuẩn bị bài giảng cho ngày mai. Không để ý đến thái độ lạ lùng của người đồng nghiệp. Trước trang giáo án, hình ảnh của anh cứ nhảy nhót tươi cười. Từ hôm sau, tiết giảng của Vân lớp học cứ im phắc. Những đôi mắt long lanh, chăm chú nhìn theo mỗi động tác của cô. Cuối tuần sinh hoạt lớp, một em học sinh đứng lên nói:

- Em thưa cô, mấy bài văn tuần này cô giảng hay lắm. Chưa bao giờ chúng em lại thích học văn như bây giờ.

Tổ bộ môn, rồi ban giám hiệu nhà trường cũng lần lượt nhận ra điều ấy. Một người bạn ở trường khác đến chơi thì vồ vập hỏi:

- Mày đang yêu phải không? Khai mau, anh chàng nào thế? Trông ánh mắt mày là biết liền.

Vân không chối cãi rằng mình đã yêu anh. Tình yêu quả có sức mạnh kỳ diệu. Cô thấy đời mình đang hé những lộc biếc, nụ hồng. Một ngày rực rỡ đang chờ đợi.

Một hôm anh mời Vân đi tắm biển. Khi đã nô giỡn hoài với sóng, với nước và với những dập dờn của trái tim, anh bảo:

- Biển tuyệt vời phải không em. Nhưng biển trong khách sạn còn tuyệt vời hơn. Em đã từng tắm chưa?

Vân bối rối lắc đầu. Anh nói:

- Chúng mình vào đấy nhé. Ở đấy không chỉ là biển mà còn là thiên đường.

Thế là Vân ngoan ngoãn theo anh vào cái khách sạn bên bờ biển. Ở đấy nàng đã đắm đuối, và đúng như anh nói, hình như nàng đã nhìn thấy thiên đường. Trước đó nàng cũng đắn đo lắm: Mình sẽ ra sao? đời con gái của mình kết thúc ở đây ư? Mình sẽ bị coi thường, mình sẽ bị cười chê. Nhưng nhìn ánh mắt chói ngời của anh, Vân ném tất cả những đắn đo ấy trên bãi biển. Cuộc chia tay với Đức đã làm Vân ân hận và buồn khổ đến hàng chục năm sau. Đức thẳng thắn và tự trọng. Không ép buộc nhưng anh tỏ rõ sự khẩn cầu: "Chúng mình đã yêu nhau ba năm rồi. Đi xa, mình muốn mang theo kỷ niệm sâu sắc nhất để không bao giờ quên Vân". Lúc ấy đôi nắt Đức giống hệt như mắt anh bây giờ. Nhưng Vân từ chối một cách kiêu hãnh:

- Đức cứ yên tâm ra đi, dù xa cách bao lâu Vân cũng chờ.

Đôi mắt đang rực sáng của Đức bỗng như có mây mù che. Cậu nói nhỏ như để an ủi chính mình:

- Cảm ơn Vân đã cho Đức hy vọng.

Sau hai năm ở nước ngoài, Đức viết thư về xin phép bố mẹ cho cưới vợ ngoại quốc, và thông báo để Vân đi lấy chồng.

Bạn bè của Vân đều căm phẫn kẻ phản bội và khen cô ứng xử đúng. Nếu ngày ấy Vân chiều anh ta thì bây giờ lỡ dở cả đời. Ban đầu Vân cũng uất ức và căm giận lắm. Nhưng rồi chính cô tự hiểu ra rằng Đức chẳng phản bội cô điều gì. Không phải Đức bắt cô chờ đợi mà chính cô buộc Đức phải đợi chờ cô. Ngày ấy nếu cô dâng hiến thì biết đâu nó sẽ là sợi dây thiêng liêng kéo Đức trở về. Nỗi buồn của Vân không chỉ là mất người yêu, mà còn mất niềm vui sống. Bao nhiêu năm sau Vân đã giao tiếp và gặp gỡ nhiều người, nhưng chưa có ai cho cô niềm vui kỳ diệu như Đức. Chỉ từ khi gặp anh, ánh mắt của anh đã đánh thức những ước mơ và khát vọng sâu xa. Bởi thế Vân đã hào hứng nhảy ùm xuống cái "biển" lạ trong khách sạn, và mang hết sức mình đề đùa giỡn, lội bơi trong muôn đợt sóng tình.

Sau lần ấy anh bảo anh phải về thủ đô sáu tháng để nghiên cứu một chuyên đề. Vân buồn nhưng đủ sức kìm nén và chịu đựng. Sáu tháng qua đi không phải là sáu mươi thế kỷ như cô tưởng mà chỉ hơn một học kỳ. Sáu tháng lẻ năm ngày Vân mạnh dạn cầm điện thoại. Từ đầu dây kia tiếng anh êm dịu:

- Em đấy à, em có khỏe không?

- Bình thường. Anh về khi nào?

- Anh về tuần trước, nhưng bận quá, chưa kịp đến thăm em.

Vân không trách, không phàn nàn, lại còn nói cứng:

- Anh cứ dành thời gian cho công việc. Em rất vui khi anh gặt hái thành công.

Một tháng, rồi hai tháng nữa trôi qua, anh ấy vẫn cứ bận. Vân điện thoại đến hai ba lần, nhưng cũng chỉ là hỏi thăm sức khỏe, chưa bao giờ dám bày tỏ nỗi nhớ nhung, càng chẳng dám hẹn hò, nhưng lòng cô thì ngập tràn hy vọng. Lạ lùng, mỗi lần Vân lên phòng hành chính gọi nhờ điện thoại. Tân đều có mặt ở đó. Khi cô buông ống nghe, thế nào cậu cũng chen vào một câu:

- Yên tâm chờ đợi nàng ạ. Đại hội sắp đến gần, làm sao chàng dám đến trường ta.

Vân nói nửa đùa, nửa mắng:

- Cậu chỉ ăn nói linh tinh, đại hội thì liên quan gì đến trường ta.

- Ôi, nàng rất ngây thơ. Trường ta có nhiều thầy giáo thích nói thật và nói thẳng. Chẳng may chàng gặp chuyện gì, sẽ khó toàn uy tín với cấp trên.

Thực ra Vân không hiểu gì nhiều về những lời Tân nói. Cô chỉ thấy khó chịu và tìm cách lảng. Tuy nhiên Vân cứ ngẫm nghĩ một mình và cảm thấy lời Tân nói dường như thật đúng. Vân đã trở nên trầm lặng tự bao giờ. Cánh giáo viên trẻ rất nhạy cảm, chúng ít hỏi đến "chàng trai của chị" như mấy tháng trước. Cậu Tân càng trở nên lém lỉnh. Thỉnh thoảng cậu đưa một tin vừa như đùa cợt, vừa như thăm dò tình cảm của Vân:

- Tớ nghe tin sắp tới bà Bạch Phương sẽ đưa cậu em ra nước ngoài. Hình như ông ta sẽ đi tu nghiệp ở một nước tư bản nào đó.

Vân không muốn mọi người, đặc biệt là Tân, biết cô buồn, nên mọi thông tin của Tân cô đều tiếp nhận với thái độ đùa cợt. Một hôm Tân thông báo:

- Bà Vân, lần này thì bà phải khao rồi. Anh chàng của bà, giờ là một trong những ông to nhất...

- Ồ, điều ấy quan trọng gì. Ăn thua là anh ấy có nhắn gì cho chị cậu không?

- Có đấy. Ông ta nhắn tin trên đài truyền hình ấy, rằng mời Vân đến ngay công viên Hoa Đào, để bàn tổ chức
lễ cưới.

- Cậu ác thật đấy, luôn châm chọc người khác.

- Chị ác thì có, chưa bao giờ để tôi nói hết câu. Chị nghe tiếp đây rồi liệu mà mang bia về chiêu đãi chúng tôi. Ông ta chuyển lên tổng công ty rồi. Không tin chị cứ phôn thử xem.

- Tin quan trọng đấy nhỉ. Đổi lại bằng tin này được không. Chiều nay Thúy Nga chờ cậu nửa giờ. Chắc hẹn hò người ta rồi quên.

Tân nhăn mặt, phẩy tay, giọng chế giễu:

- Ôi, thế mà cũng gọi là tin. Gì chứ nàng ấy chờ tôi nửa giờ là chuyện cơm bữa. Mà tôi có hẹn hò gì đâu. Nếu hẹn, chắc nàng ta sẽ đợi từ sáng đến khuya. Đã bảo tôi không thích những nàng trẻ, đẹp, lại cưỡi "giấc mơ" như vậy. Nàng ta cứ cố tình không hiểu.

Thúy Nga là một cô giáo trẻ và xinh đẹp. Mỗi kỳ nhà trường tổ chức thi học sinh thanh lịch, cô đều được mời dẫn chương trình cùng vai nam là Tân. Thầy giáo, học sinh đều trầm trồ khen cặp ấy đẹp đôi. Nga ở với bố mẹ trên thị trấn, ngày ngày cưỡi chiếc xe Dream màu mận chín đến trường. Cô không giấu diếm tình cảm với Tân. Sau giờ lên lớp, nếu chưa gặp Tân một lát, cô chưa thể ra về. Ai cũng mong họ nên đôi lứa. Vậy mà...

Vân rùng mình vì những lời tỏ rõ sự coi thường của Tân.

Thật may, Vân chưa tìm đến và chờ đợi anh phút nào.

Hôm ấy Vân nhận được lời mời của anh qua điện thoại. Anh mời Vân đến thăm văn phòng mới của anh. Vân hồi hộp và run rẩy như lần đầu hò hẹn. Nàng đứng trước quầy văn hóa phẩm hàng giờ để lựa chọn món quà tặng anh. Nàng chọn tấm bưu ảnh hoa hồng rực rỡ, và rất hài lòng. Khi trao cho anh tay nàng còn run lẩy bẩy. Anh đón nhận tấm ảnh với thái độ bình thản, kèm câu bình luận:

- Bông hồng không gai.

Nàng thấy nhói buốt trong tim, nhưng vẫn giữ vẻ tươi cười. Cuộc thăm viếng không lâu, chỉ trong vòng mười lăm phút mà anh dành đến năm phút để trả lời điện thoại. Vân chỉ nói được vài câu khác biệt với suy nghĩ của mình. Trong đầu nàng chói chang một ý nghĩ: "Anh ấy đã coi thường ta".

Đó là lý do khiến nàng đâm bổ ra chợ hoa. Những người chỉ lấy lợi nhuận làm lẽ sống thì coi nàng như khùng dại.

*

Nàng ngồi trong thư viện. Trước mắt nàng, những chồng báo với các hàng tít đậm như nhẩy múa. Nào tham ô nhà đất, nào giành giật chức quyền. Lần lượt nàng quẳng ra bên, cuối cùng nàng cũng tìm được "Sự tích các loài hoa". Như có linh tính mách bảo, nàng mở nhanh và tìm được một trang giấy đẹp. Đó là đoạn nói về sự tích những bông hồng. "Ngày xửa, ngày xưa, khi trời và đất còn hòa chung và tăm tối, muôn loài sống lẫn với nhau. Nhà kia có năm người con gái, ai cũng xinh đẹp và lộng lẫy. Có một chàng công tử ngang tàng đi qua. Chàng mời người chị cả đến bãi cỏ xanh để tự tình. Chị cả thích công tử lắm, nhưng nàng không muốn tỏ rõ ngay điều đó. Công tử chạm nhẹ lên ngón út của nàng, nàng vội vàng rụt lại. Công tử muốn cầm bàn tay nuột nà của nàng, nàng vội vàng nắm lại. Công tử muốn nắm cổ tay tròn trĩnh của nàng, nàng vội vàng co lại. Rồi đến mái tóc, đôi má làn môi, nàng đều từ chối một cách dịu dàng. Công tử thất vọng. Hôm sau chàng mời nàng hai, nàng cũng làm y như chị. Hôm sau nữa chàng mời nàng út, với hy vọng sẽ được nàng đáp lại, vì nàng còn ngây thơ, nhưng nỗi thất vọng còn lớn hơn. Rồi chị tư cũng vậy. Vẻ buồn khổ hiện rõ trên khuôn mặt hốc hác của chàng. Đêm cuối cùng chàng mời nàng ba, khi công tử vừa chạm nhẹ vào ngón út, nàng liền nói: "Em yêu chàng lắm". Thế là họ yêu nhau nồng nàn, thắm thiết. Rồi ông thần trụ trời xây cột đá chống trời lên cao. Công tử được Ngọc Hoàng phong làm thần mặt trời, tỏa sáng cho thế gian. Năm cô gái được biến thành hoa. Bốn cô từ chối công tử, vẫn giữ được vẻ tinh khôi, rạng rỡ của mình, nhưng các cô đều nuối tiếc và mong nhớ. Mỗi dấu tay của công tử trên da, trên tóc đều biến thành những vết thương, rồi lần lượt nhú lên một chiếc gai nhỏ xíu. Người đời gọi đó là hoa hồng. Chị cả với nỗi nhớ nhung sâu thẳm biến thành hồng nhung, em út biến thành hông bạch, hồng nào cũng đẹp rực rỡ, nhưng không kết trái. Người đời sau rất trân trọng hoa hồng, vì chúng có những chiếc gai nhọn giữ gìn trinh tiết. Còn nàng ba đã trao cho công tử tình yêu, bị hai chị và hai em ghen ghét, không sống chung nhà. Nàng cũng được biến thành hoa, nhưng cánh hoa không thắm màu và nuột nà như các loại hồng. Công tử của nàng sau những cuộc ái ân đằm thắm, đã nhảy lên cao, chói lòa rực rỡ. Chẳng biết chàng có nhớ nàng không? Còn nàng thì mãi mãi nhớ thương tha thiết. Ngày ngày dõi theo từng bước chàng đi. Đó là bông hồng không gai. Người đời sau gọi là hoa hướng dương. Mặt trời ở phương nào, đài hoa hướng về phương ấy."

Vân ngồi như hóa đá trong thư viện. Cô thủ thư nhẹ nhàng lên tiếng:

- Trong cuốn sách này còn nhiều chuyện hay lắm, chị nên mang về nhà đọc. Đã hết giờ, thư viện xin phép đóng cửa.

Vân dắt xe lang thang. Khi đèn đường bật sáng cô mới trở về nhà. Tân đón ở cổng giọng ấm áp:

- Thấy chị về muộn, tôi thổi cơm cả thể. Tôi dọn cơm sang phòng chị được không?

Vân đáp hững hờ:

- Được.

Trong lúc Tân sốt sắng bưng xoong, bưng bát, Vân quẳng xe đạp nằm vật xuống giường, rồi bật khóc nức nở. Cuốn sách "Sự tích các loài hoa" lăn lóc cạnh mình. Tân nhặt lên, đọc lướt qua ngay trang Vân vừa đánh dấu. Rồi anh kéo ghế ngồi xa ra, trầm ngâm nín lặng, mặc cho Vân khóc thỏa thuê.

Rất lâu sau Tân mới lên tiếng:

- Thôi, khóc làm gì. Chả lẽ chị quên rằng chị cũng là một bông hồng rực rỡ và có những chiếc gai quá nhọn hay sao.

Vân ngồi bật dậy. Hai mắt long lên như mắt người điên:

- Gai quá nhọn ư? Thật không? Đúng không? Nếu vậy mình sẽ vui sướng lắm, mãn nguyện lắm!

Giọng Tân ấm áp lạ thường:

- Chị bình tâm lại. Sự thật chị cố tình không biết đó thôi. Nhưng không sao. Những chiếc gai nhọn không phải là quan trọng.Điều quan trọng là chị đã tìm thấy mặt trời của chị, cũng như tôi, như Nga, như Đức và như cả ông giáo già của chị nữa, mỗi người đều có một vầng dương chói lọi của riêng mình. Chỉ có điều dưới ánh sáng diệu kỳ của nó, chúng ta rực rỡ lên hay lụi tàn đi.

Đôi mắt Vân dịu xuống, miệng cô lắp bắp nhắc lại như chiếc máy:

- Rực rỡ lên hay lụi tàn đi?...

Rồi giọng Vân trong trẻo khác thường:

- Cảm ơn Tân. Những điều cậu vừa nói đẹp như ban mai. Mình không khóc nữa, và cũng chẳng buồn.

Đến đây Vân im bặt, ngẩng cao đầu, nhìn ra phía trời xa, nơi mà cô tin rằng vầng dương của riêng mình đang tỏa sáng.

 Hải Dương 1995

 

LẠ LÙNG

 

Trưa tháng sáu. Mặt nước phẳng lặng, dưới đáy thăm thẳm là nền trời ngắt xanh. Hai bên vệ đường thỉnh thoảng lại bắt gặp một ả cua ngoi nhanh lên bờ, rúc vội vào bụi cỏ rậm. Dưới ruộng những chú cá cờ chết nắng nổi bềnh ở cửa hang. Cái nắng rát bỏng càng như cháy gắt lên trên con đường đất đỏ giữa đồng.

Mới đạp xe được chừng hai cây số, tôi đã thấy người rã rượi mồ hôi. Cổ họng khô cháy. Chiếc mũ nan chỉ che kín chỏm đầu, hai má nhô ra nắng rát bỏng. Vầng trán và thái dương nóng hầm hập, mắt hoa lên. Ghi đông xe đạp loạng choạng. Tôi bị chóng mặt sao? Lạ nhỉ... Nắng quá chăng? Tôi cố quên đi cái nắng bằng những ước muốn linh tinh. Bây giờ mà được một cốc bột sắn hay cốc nước đá từ cái tủ lạnh nhà mình. Bây giờ mà được ngồi trước cái quạt điện cho nó chạy số bốn. Bây giờ mà được bàn tay mát lạnh của Oanh đặt lên trán này... Ơ, mà tôi chóng mặt thật rồi. Chiếc xe đạp lảo đảo định đổ. Tôi đành xuống dắt xe, mải miết bước vào bóng râm. Cũng may đã hết đoạn đường giữa đồng, vừa đến gần những bụi tre rìa làng. Vứt xe đạp đấy, tôi ngồi thở hổn hển, vớ được cái mo tre làm quạt, lấy ống tay áo quệt mồ hôi.

Chung qui chỉ tại mấy ông ở xã làm cỗ quá to mà lại dềnh dàng. Hai giờ chiều tôi phải làm việc với Ban vật tư nông nghiệp, thế mà mãi gần mười hai giờ trưa các cô thư ký kế toán hợp tác mới bưng mâm lên. Mỗi mâm đặt hai chai rượu trắng. Đã uống rượu ai lại uống vội vàng. Nếu tôi về ngay không ăn uống thì cũng không đành. Hết ông nọ lôi, lại ông kia kéo:

- Anh Lẫm mà không ở lại thì còn ra làm sao. Anh ăn một thì chúng tôi ăn mười. Ấy nhưng không có anh khai vị cho thì cỗ to mấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Anh phải ở lại cho chúng tôi ăn uống vui vẻ chứ.

- Nếu phó ban có vội thực thì cứ ngồi xuống đây, cơm rượu xong là chúng tôi không có giữ.

Như vậy thì còn chối làm sao, nên lúc ăn xong tôi phải tức tốc đạp xe về. Mệt cũng đành. Việc khác thì có thể nhỡ, việc này mà nhỡ thì có thể hỏng to. Đã mấy khi trưởng phó ban bên ấy cùng ủng hộ tôi như lần nay. Giá mọi hôm tôi chỉ phóng vù một lúc là đến huyện. Hôm nay, nể anh bạn bên Công an quá, lúc sáng tôi đã cho anh mượn hon-đa. Lâu lắm tôi mới lại lọc cọc đạp xe thế này.

Mồ hôi vẫn cứ đầm đìa vã ra, mặc dù chiếc mo nang đã bị tôi vung vảy đến rạn vỡ.

Phía trước có một người đàn bà nhỏ bé, quần vo đến gối, cái nón xụp xuống và chiếc khăn vuông che kín mặt. Chị gánh đầy hai cổ quang những cây lạc tươi, củ rủng roảng, lặc lè chạy vào bụi tre. Chiếc áo gụ chị mặc ướt đẫm mồ hôi dính chặt vào tấm lưng thon thả. Sau khi đổ phịch gánh lạc xuống, chị gỡ khăn vuông ra, lau lia lịa lên má, lên thái dương rồi vung nón quạt lấy quạt để. Khi đã nhìn rõ người ngồi bên, chị thốt kêu lên:

- Ối giời! Anh Lẫm phải không?

Tôi giật mình cố nhìn kỹ người đàn bà ấy. Nhưng hình như mắt vẫn còn lóa nắng, tôi không nhận ra chị là ai nên ấp úng:

- Chị... Chị là...

- Em là Miên đây. Anh quên em rồi sao?

Tôi ngừng thở, mở to mắt nhìn:

- Ôi! Miên đấy ư? Sao cô lại ở đây?

- Nhà em ở đây. À mà anh chưa biết nhỉ. Em lấy chồng về đây. Anh đi đâu? Mà anh làm sao thế, mặt tái đi kìa.

- Tôi... tôi hơi mệt.

- Hình như anh bị say nắng thì phải. Lại cả mùi rượu nữa. Anh mới uống rượu à? Thôi anh phải vào nhà ngay. Ngồi đây mà hóng gió là cảm đấy.

Tôi ngần ngừ chưa biết nói sao thì Miên giục tiếp:

- Nhà em đây rồi, mời anh vào nghỉ tạm. Đỡ nắng hãy đi.

Tôi dắt xe theo Miên. Lúc này mới thấy mệt. Hai chân run run, không muốn bước. Miên đặt vội gánh lạc xuống gốc mít, bảo tôi:

- Anh để xe đấy, vào nhà nghỉ, không được ngồi ngoài gió nữa đâu.

Nhà vắng vẻ, chỉ có bà cụ lạch cạch băm bèo ngoài hiên và hai đứa trẻ ngủ lăn trên chõng. Mệt quá, tôi chẳng còn ngần ngại ý tứ, ngồi luôn xuống cái trường kỷ tre, vớ cái quạt nan, phanh cúc áo quạt phành phạch. Miên nói nhỏ với mẹ gì đó rồi cầm dao xăm xăm ra vườn. Cạnh giếng nước chỉ có một bụi mía đỏ, vài cây mía cao vượt lên nhưng dóng còn trắng nhởn. Không do dự, Miên pheng luôn một cây. Chỉ một loáng sau Miên đã bê những tấm mía sạch vỏ lên nhà. Vừa đặt lên bàn, Miên vừa nói:

- Anh Lẫm này, ăn mía đi. Say nắng chỉ có ăn mía là đỡ thôi.

Tôi ngượng, chỉ dè dặt nhón từng khúc một.

- Anh ăn hết đi. Phải ăn hết chỗ này mới khỏi mà về được.

Thế rồi Miên để tôi ngồi một mình. Lâu sau, lúc tôi đã ăn gần hết cây mía đỏ, mới nghe tiếng chân chạy dình dịch của Miên, và lại một gánh lạc mữa vứt phịch xuống gốc mít. Lúc này tôi mới nhìn thấy ngoài sân, trên thềm bừa bộn toàn lạc. Lạc tươi nhổ về không kịp vặt củ chỉ chặt ngọn rồi vứt cả gốc ra phơi.

- Anh thấy người thế nào rồi?

- Đỡ rồi cô ạ!

- Đấy, em đã bảo mà. Nước mía là nó giải nhiệt lắm cơ.

Vừa nói Miên vừa bỏ tấm khăn vuông trên đầu, vắt lên tràng kỷ. Bây giờ tôi mới nhìn rõ Miên. Mái tóc đen cuộn trong vành khăn vấn nâu. Hai má hóp lại, rám đen như hai vầng cơm cháy. Tấm áo gụ ngắn cũn cỡn, loang lổ mồ hôi, mồ hôi khô đọng lại từng ngấn trắng. Mồ hôi ướt loang thành vạt sẫm đen. Hai bắp chân cháy nắng để trần luôn luôn chạy đi chạy lại. Chao ơi! Tôi không thể tưởng tượng nổi đây là cô bé Miên mũm mĩm mà tôi đã say mê trong mối tình đầu.

Hai mươi năm trước tôi là giáo viên cấp 1 dạy ở một làng ven sông. Chiều chiều, sau giờ lên lớp tôi thường dạo mát trên bờ đê nhìn dòng nước đỏ cuộn trôi. Một cô gái làng chừng mười bẩy mười tám tuổi chiều nào cũng gánh nước qua bờ đê. Tấm lưng ong thon thả, đôi má lúm đồng tiền, cái ngước mắt ngập ngừng e lệ đã làm tôi xao xuyến bần thần. Chiều nào tôi cũng lên bờ đê chờ gặp cô. Lúc nào tôi cũng muốn nhìn thấy tấm lưng ong mềm mại của cô. Rồi một chiều nọ tôi mạnh dạn đến bên bờ giếng và đứng đó cho đến lúc ông trăng rằm lên cao. Đứng đấy để nhìn mãi ánh trăng vàng lấp lánh trong hai thùng nước và trong hai đáy mắt của cô. Từ đó tôi không còn nhớ bao nhiêu lần hẹn hò, bao nhiêu lời hứa hẹn. Những buổi chiều đứng trên bờ đê lộng gió, nhìn dòng phù sa cuộn trôi, tôi say sưa nói cho Miên nghe về sự giàu đẹp của đất nước mình, về cái vựa thóc lớn của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Miên thổ lộ với tôi rằng từ ngày biết tôi, cô đi làm đồng không bao giờ biết mệt. Trong mơ cô cũng thấy hiện lên cánh đồng bát ngát và những cây lúa vàng mẩy hạt nặng bông. Tôi hiểu Miên. Hình ảnh cô gái xã viên cười rất tươi, ôm trên tay một bó lúa vàng là nguồn cảm xúc mãnh liệt trong tôi. Đêm đêm tôi thức để viết cho Miên những dòng tâm sự chân thành nhất, và cả những dự định tương lai êm đềm. Một buổi gặp nhau nào đó, tôi âu yếm nói:

- Miên có mua gì dưới phố huyện không?

- Mai anh xuống đó?

- Ừ, mít tinh.

- Chiều về chứ?

- Định thế nhưng ở dưới đó người ta không nấu cơm trưa.

Đôi mắt đen chớp chớp, ngẩng lên nhìn tôi:

- Sớm mai chờ em ở đây rồi hãy đi nhé.

Tôi chờ. Cô gái quẩy quang gánh đi cắt cỏ, cái nón để ngửa trên sảo, bên trong phủ tấm khăn vuông. Ngập ngừng rồi vội vã, Miên giúi vào tay tôi bọc lá chuối còn nóng hổi:

- Anh mang đi trưa mà ăn, đừng cười nhé.

Nắm cơm nếp và gói muối vừng của Miên làm tôi yên tâm ở lại suốt chiều xem các trò vui. Ở đấy tôi gặp Oanh, cô diễn viên trẻ trong đoàn văn công nghiệp dư của huyện. Oanh bạo dạn nhất trong đám nữ diễn viên. Cô nói với tôi lúc về:

- Thế nào em cũng đến tận trường thăm thầy giáo đấy.

Và rồi cô đến thật. Những cuộc hẹn hò bên gốc đa cứ thưa dần. Có hôm hẹn rồi tôi cũng ngần ngừ không đi. Khi được yêu chiều, người ta thường sinh ra tự phụ chăng? Tôi nhủ thầm rằng: "Cô ta sẽ đến tìm mình, không thấy mình ra thế nào cô ta chẳng cuống lên". Nhưng cô gái làng không đến. Những chiều sau cũng vắng bóng cô. Tôi nhớ nhưng không day dứt lắm.

Bấy giờ tấm lưng thon mềm mại và đôi má lúm đồng tiền không còn sức hấp dẫn như xưa. Đôi mắt đưa ngang và nụ cười tình tứ của Oanh đã chiếm mất chỗ rồi. Oanh là cháu ông phó chủ tịch huyện. Cô bỏ hẳn văn công về đánh máy trong ủy ban. Ôi, thế thì tuyệt quá. Tôi không thích vợ văn công. Thế là tôi cưới Oanh. Oanh đẹp và ngày càng đẹp. Nhưng người ta ít khen thế mà chỉ khen: "Cô ấy khôn ngoan, sắc sảo, chồng con được nhờ"! Có thể đúng như vậy. Ngay từ hồi mới cưới nhau, chỉ có hai vợ chồng son nhưng Oanh cũng nằn nèo xin được căn phòng rộng hai gian. Ông hành chính kỳ kèo không giải quyết, Oanh phụng phịu với bác mình. Khi được rồi, Oanh lại đòi ở hai gian đầu cho thoáng gió, đùn cho chị con mọn vào gian giữa. Tôi buồn và rất ngượng khi Oanh lớn tiếng tranh giành gì đó. Nhưng dần dần cũng quen. Mỗi lần giành được cái gì, Oanh lại bảo tôi "Đấy cứ hiền như anh còn lâu họ mới quan tâm đến mình". Mà đúng vậy thật. Từ một anh giáo thanh cao, tôi chuyển sang môi trường mới rất nhiều bỡ ngỡ. Họ sống và làm việc bằng sự nể nang, bằng những uy lực và bằng sự đổi chác. Nếu chẳng có Oanh thì gia đình tôi chẳng sung túc được như bây giờ. Chỉ đánh máy được một thời gian, Oanh xin chuyển sang cửa hàng vật liệu. Bạn thân của Oanh rải khắp lượt các cơ quan. Bây giờ Oanh xin về một cửa hàng thực phẩm gần nhà. Dù con đông, dù lương thấp nhưng không bao giờ Oanh để tôi và các con thua kém bạn bè. Dù hàng hóa phân phối theo phương thức nào, trong nhà lúc nào cũng phải có vài chục mét vải tốt để dành. Trong tủ, có nhiều đồ dùng hiếm không thấy bày bán ở cửa hàng bách hóa.

Sau khi lấy vợ, tôi được ông bác vợ xếp cho làm văn thư, rồi thường trực văn phòng, rồi chánh văn phòng ở cùng cơ quan với ông. Bây giờ tôi giữ chức phó của cái ban quan trọng nhất, và trở thành cánh tay phải của ông. Thỉnh thoảng tôi cũng nhớ tới Miên, nhất là những đêm ngồi một mình với cuốn sổ tay năm trước. Nhưng cuộc đời bận rộn nhiều công việc. Những đứa con nối nhau ra đời cùng với sự khéo léo chiều chuộng của Oanh, khiến tôi quên dần rồi quên hẳn.

Cảnh gặp gỡ bất ngờ và đặc biệt này làm tôi bối rối, tôi cố bình tĩnh lảng tránh những suy nghĩ của mình:

- Nhà Miên ở đây mà tôi không biết. Tôi vẫn đi qua đường này luôn.

Bỗng nhiên Miên đổi giọng:

- Bác bận công bận việc, thời gian đâu mà nghĩ đến chúng em.

- Nói thế. Tôi biết cô ở đây nhất định tôi sẽ đến thăm.

- Hôm nay mời bác ở đây chơi với các cháu!

- Tôi phải bận về họp. Để khi khác tôi đến chơi. À, Miên được mấy cháu rồi nhỉ?

- Em được bốn cháu. Hai đứa bé đây. Còn hai đứa lớn đi thả trâu ngoài đồng. Cháu đầu của em năm nay mới mười hai tuổi. Con nhà bác chắc lớn hơn.

- Con đầu của tôi là trai, cháu mười lăm tuổi, vừa học xong lớp chín - Ngập ngừng một lát tôi nói - bà xã nhà tôi đã thôi đẻ từ mấy năm nay rồi. Được năm đứa cũng tha hồ nuôi.

Giữ đúng lời hứa, vài tuần sau tôi quay lại thăm Miên. Khi đi tôi không cần chải chuốt, vẫn ăn mặc như thường ngày, cái áo kẻ ca rô cộc tay, cái quần màu gụ sẫm và đôi kính đen hơi trễ trên sống mũi. Hon đa của tôi phóng vào tận gốc mít. Mấy đứa trẻ nhớn nhác xô ra cửa nhìn. Tôi cất cao giọng gọi:

- Nào các cháu của bác đâu? Ra đây bác cho kẹo nhé!

Trong nhà, bà cụ ngồi nguyên trên giường ngó ra. Tôi bước vào lễ phép hỏi:

- Chào cụ. Cô Miên đi làm chưa về hả cụ? - Rồi tôi giở túi lấy ra hai cái bánh nướng đặt vào tay cụ và đưa cho lũ trẻ một gói bích quy - Con về chơi, chả có gì kính cụ, cụ xơi tạm cái bánh vậy.

- Ấy chết, bác cẩn thận quá. Về chơi với chúng tôi là quý hóa rồi. Quà bánh thế này chúng tôi khó nghĩ lắm.

Tuy cụ đã móm mém, nhưng tiếng nói vẫn còn trong trẻo, vừa lật nắm lá ngải đắp trên đầu xuống, cụ vừa nói với tôi:

- Bác ngồi xuống chõng uống nước. Mẹ cháu sắp về giờ đấy.

- Vâng, cụ cứ mặc con.

- Nước ở siêu bác rót hộ tôi. Chả nói giấu gì bác, mấy hôm nay trở trời trái gió làm sao, cái lưng tôi nó đau cứng ra, suốt ngày cứ phải ngồi một chỗ không đi lại được.

- Năm nay cụ thọ bao nhiêu ạ?

- Cảm ơn bác, tôi vừa tròn tám mươi. Đáng về được rồi đấy, nhưng giời còn thương cho ở lại. Ở lại mà không làm được gì chỉ khổ con khổ cháu thôi. Trước kia tôi còn đỡ cháu được nắm bèo nắm cám, giờ đến đuổi con gà cũng không xong. Mẹ cháu nó vất vả lắm bác ạ. Bác tính, mẹ thì già, con thì bé, chồng lại biền biệt một nơi. Trăm việc là đến tay nó cả.

- Bố các cháu bây giờ ở đâu hả cụ? - Vừa hỏi vậy tôi vừa đưa mắt nhìn lên bức ảnh phóng to lồng trong khung kính. Đó là ảnh Miên chụp chung với chồng. Người đàn ông trong ảnh có gương mặt cương nghị. Đôi mắt rất sáng đang nhìn thẳng về phía trước. Cái miệng hơi rộng. Môi dưới hơi trễ xuống, để lộ nụ cười đầy kiêu hãnh và tự tin. Anh mặc quân phục sĩ quan, có một hàng huân chương trên ngực áo. Còn Miên thì duyên dáng với mái tóc chải bồng... đôi môi mim mím nửa như cười, nửa như e lệ. Vai Miên nép nhẹ vào khuôn ngực vạm vỡ của chồng. Đôi mắt hơi ngước lên, dõi theo hướng nhìn của anh.

Tôi ngắm bức ảnh hơi lâu. Bà cụ đợi tôi quay nhìn xuống mới trả lời:

- Nghe mẹ nó nói bố cháu ở đâu biên giới Tây Nam, Tây Bắc gì đó. Chẳng biết biên giới là ở mãi tận đâu. Ấy nó đã phục viên nửa năm rồi đấy chứ. Cái năm nọ nghe tin có loạn Tàu, thế là nó xung phong tái ngũ. Gần ba năm nay họa hoằn nó mới đánh về cái thơ.

- Vâng! Bộ đội các anh ấy bận lắm cụ ạ!

- Chả nói giấu gì bác, tôi chỉ có một mình nó thôi. Ấy vậy mà từ khi lấy vợ đến giờ nó cứ đi biền biệt. Thỉnh thoảng về vài ngày phép nên có mấy mụn cháu đấy. Nhà cửa thì nghèo túng lắm. Đấy bác xem, tường vách xiêu vẹo, sân thềm nứt nẻ cả mà đã sửa sang được gì đâu. Tôi phải cái xấu máu cứ ốm đau luôn, có năm tốn hàng nghìn tiền thuốc đấy bác ạ. Thành ra nhà đã túng lại cứ túng thêm.

Tôi chợt thấy thương Miên vô hạn. Tôi hiểu vì sao đôi má lúm đồng tiền của Miên đã khô tọp và rám đen như vậy. Tôi hiểu vì sao đôi mắt lấp lánh ngày ấy giờ đã sâu thẳm đọng đầy lo âu.

Chợt có tiếng lóe xóe ngoài đường. Tôi nhận ra tiếng Miên đang riếc ráy người nào đó. Rồi nhiều tiếng ồn ào can ngăn:

- Cụ ơi! Hình như cô Miên cãi nhau với ai ngoài kia.

Bà cụ lắng tai một lúc rồi chép miệng:

- Chắc lại cái chuyện phân gio đấy. Chẳng biết phân đạm họ chia bôi thế nào mà cứ cãi nhau luôn. Nghe đâu ông đội trưởng tham lam bớt xén thế nào đấy. Con mẹ nhà này vẫn ấm ức từ hôm nọ đến giờ. Rõ khổ. Giồng giọt nhiều mà phân gio ít thì thu hoạch chẳng ra làm sao. Hạt phân bây giờ quý hóa lắm bác ạ. Trước kia một năm chỉ cấy hai vụ thôi bây giờ những ba, bốn vụ, phân gio trong chuồng chẳng thấm tháp gì.

Tôi không sao nghe hết những lời phân trần của cụ. Từ ngày quen nhau chưa bao giờ tôi nghe Miên nói to một tiếng, chưa bao giờ nhìn thấy vẻ mặt cáu giận của Miên. Trong thâm tâm tôi, đó là con người hiền dịu nhất. Vậy mà vì thiếu thốn, Miên cũng trở nên khoảnh khoái lắm lời sao?

Bỗng trời nổi gió to, sấm chớp đùng đùng. Cơn mưa đã kéo kín chân trời phía tây. Tôi chạy ra gốc mít đẩy xe vào hiên rồi đứng nhìn trời lo ngại. Miên tong tả quẩy gánh cỏ về đổ vội vào chuồng trâu, rồi đâm bổ lên nhà. Đột ngột thấy tôi, Miên lúng túng:

- Bác về chơi đấy ư? Vào trong nhà đi bác, mưa to đến nơi rồi.

Ngồi yên được một lúc, Miên lại loáy toáy đứng lên:

- Bác ngồi chơi với bà em nhé. Em ra đồng xem các cháu đâu. Mưa to, gió lớn thế này mà chúng nó còn dại lắm.

Và Miên khoác tấm vải nhựa chạy ra sân giữa lúc những hạt mưa đầu tiên lộp độp rơi xuống. Lát sau tôi thấy một đứa bé trai lễ mễ vác dậm về, cái giỏ nặng trễ xuống hông. Một đứa bé gái ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, tay ôm bó củi ướt. Miên bê rổ rau lợn theo sau.

Lúc mưa hơi ngớt, Miên chạy lên nhà nói với tôi:

- Bác Lẫm cứ ngồi chơi, em bận thổi cơm một tí. Hôm nay mời bác ăn thử bữa cơm nhà quê với mẹ con em.

- Tạnh mưa thì tôi phải về.

- Tối rồi, mà còn mưa to lắm không về được đâu.

Mưa to thật. Tôi đành ngồi lại. Ba mẹ con Miên hý húi nấu cơm dưới bếp. Hai đứa trẻ vẫn để nguyên quần áo ướt thoăng thoắng chạy ra, chạy vào. Đứa bé trai lặc lè xách thùng cám ra chuồng lợn. Thằng bé cao bằng đứa con thứ ba của tôi. Con tôi cũng phải lo việc lợn gà, nhưng không bao giờ nó phải dầm mưa thế này. Mỗi sáng vợ tôi đưa cho nó một đồng với một cái bao tải sạch. Nó chỉ việc chờ ở cửa hàng rau xanh, tha hồ xem các chú bộ đội, các cô tiếp phẩm giành nhau từng mớ rau cho đơn vị, tha hồ xem cô Quế bán hàng gắt mắng những người chọn rau. Khi cô Quế tuyên bố "rau hết" mọi người về cả là lúc nó chìa bao tải cho cô xếp những bó rau non vào đó. Mẹ nó thỏa thuận với cô Quế mỗi sáng lấy một bao tải rau, trả một đồng. Một đồng mua ở chợ được ba mớ rau, còn giá Nhà nước một đồng vừa một bao. Nó biết rằng cô Quế mà sai hẹn thì hôm nào muốn mua thịt thăn, hoặc mỡ lá đừng hòng mẹ nó bán cho. Mẹ nó còn hợp đồng với cửa hàng chế biến nước chấm mỗi ngày lấy một thùng bã đậu, thỉnh thoảng lấy một thùng bã cá tẩm bổ cho lợn chóng lên cân... Tôi không phải nhòm ngó đến chuyện lợn gà, chỉ hôm nào cái lò đun cám bị hỏng thì mới phải ra tay tìm mấy cậu thợ điện quen chữa hộ. Oanh nuôi lợn chóng lớn quá, mới mua hồi đầu năm mà bây giờ đã gần bảy chục cân. Hôm qua Oanh vừa bàn với tôi: "chờ chủ nhật đúng chợ phiên nhờ mấy cô, mấy chú dưới quê lên mổ giúp. Cứ giao cho họ bán, mình chẳng dính dáng vào... ăn uống thoải mái cũng còn được vài nghìn, số tiền ấy phải để dành chuẩn bị sẵn cho sang năm cu Tuấn thi vào đại học. Lần này xin ban nông nghiệp đôi lợn Móng Cái nuôi thử xem".

Có tiếng bát đũa lách cách. Miên khom lưng bê mâm, miệng giục con thu dọn rồi đặt mâm xuống giữa giường. Miên đã thay chiếc áo sạch sẽ,bẽn lẽn ngồi xuống góc chiếu:

- Mời bác ngồi sang đây ăn cơm muối với nhà em.

Mâm cơm đơn giản quá. Một bát canh cua rau đay có nổi phập phều vài lát mướp, một bát cua rang đỏ au, một đĩa muối vừng vàng sẫm và đặc biệt có đĩa trứng tráng, Miên trịnh trọng đặt lại góc mâm tôi. Mấy đứa trẻ nhí nháu giành nhau chọn cua bấy cho bà. Miên vừa xới cơm vừa mắng dẹp các con: "Thôi đừng tranh nhau nữa. Hôm nay bà có trứng ăn rồi". Bưng bát cơm đầy Miên đưa, tôi bỗng thấy lòng thắt lại. Hình ảnh cô xã viên cười tươi ôm lượm lúa vàng chợt hiện lại trong tôi. Mùi cua rang lá lốt cứ sực nức bay lên, khiến tôi càng day dứt. Hai mươi năm nay tôi quên mất mùi vị cua đồng. Mỗi lần ngửi thấy mùi lá lốt, tôi chỉ nghĩ đến món chả rươi, hoặc món đậu phụ om với chuối xanh giả ba ba mà Oanh thích. Bữa cơm nhà tôi không sang, nhưng thường có đậu, có măng, có cá kho riềng. Hàng tuần có thịt. Ngoài số thịt mua bằng phiếu, Oanh còn luôn luôn mua thêm lòng giá cao, xương ba không phiếu. Tôi không thể nhớ trong hai mươi năm qua gia đình tôi ăn hết bao nhiêu cân thịt, bao nhiêu cỗ lòng, chỉ nhớ rằng không bao giờ có món cua rang. Bao nhiêu lần tôi lên tỉnh, xuống xã không ở đâu tiếp bằng món muối vừng. Chỉ những năm tôi còn là cậu học sinh trường huyện, mỗi sáng mẹ tôi gói cho nắm cơm nhỏ và không thể thiếu gói muối vừng kèm theo. Mẹ tôi cũng hay rang cua, nhưng bà không cho lá lốt mà thường bỏ vào nắm lá gừng cho mùi thơm cay cay. Có thể bây giờ bữa cơm của mẹ tôi cũng chỉ có một món cua rang thế này. Bà cụ khái tính quá, sáu mươi tuổi đời vẫn thích lóc cóc một mình một niêu. Lần Oanh sinh con đầu, cụ lên ở chưa được một tháng đã nằng nặc đòi về. Từ đó tôi rước thế nào cụ cũng không lên. Sao mẹ tôi không muốn ở với vợ chồng tôi nhỉ?

- Bác Lẫm ăn đi! Sao cứ nhìn mãi thế! Bác thông cảm nhé, đừng cười mẹ con em. Nhà em nghèo thế này đấy.

- Cô đừng nói vậy. Tôi nào dám cười cô. Có thế nào ăn thế. Cô lại bày vẽ tráng trứng làm gì.

- Không có bác em vẫn làm. Các cháu nó ăn nhiều, chứ bác ăn mấy - Nói vậy và Miên gắp một lát trứng bỏ vào bát tôi - Bác ăn đi kẻo các cháu nó hư lắm.

Một hạt mưa từ trên mái rơi trúng vào bát canh. Miên vội vàng xê mâm ra chỗ khác, miệng phàn nàn:

- Đấy bác xem, nhà cửa dột nát thế đấy. Em định làm lại mấy lần mà không sao làm được.

- Thế bây giờ cô có định làm không?

- Bây giờ cái gì cũng đắt. Nghe đâu những trên trăm đồng một bao xi măng.

- Mua ngoài thì đến thế thật. Phải vài chục nghìn mới xây nổi cái nhà.

- Eo ôi, thế thì phải đợi nhà em về, chứ một mình, em chịu thôi.

- Tôi bày cho nhé. Cô làm một cái đơn xin mua vật liệu, trình bày rõ hoàn cảnh gia đình, đưa vào xã các anh ấy ký cho rồi mang lên huyện chúng tôi giải quyết.

- Liệu có được không hả bác?

- Được thôi. Gia đình ta là đối tượng bộ đội, lại neo đơn thế này. Kể thì còn nhiều gia đình neo đơn, nhưng tôi trực tiếp giải quyết. Đơn từ chỉ cốt cho hợp lệ thôi mà.

- Liệu mất bao nhiêu hả bác?

- Cái ấy thì cũng tùy, nhà của tôi trên ấy bốn gian, hiên tây, mái bằng, chấn song sắt. Toàn bộ mua bằng giá cung cấp, vậy mà cũng mất trên dăm nghìn. Ấy là chưa kể ăn uống. Còn cô có bao nhiêu thì làm bấy nhiêu. Liệu cơm mà gắp mắm chứ.

Bà cụ đỡ lời:

- Bác biết đường, biết lối, nhờ bác giúp em nó với. Con mẹ này nó vụng lắm, chẳng biết nhờ cậy ai.

Nói xong, dường như bà cụ sợ mếch lòng con dâu nên lại tiếp:

- Với lại cũng tự thằng chồng nó trực tính lắm. Năm nọ định nhờ ông chú làm dưới lò gạch thu xếp cho vài nghìn, gặp kỳ nó nghỉ phép thế là nó gạt đi. Nó chẳng muốn động chạm đến tý gì của hợp tác cả.

Miên vui vẻ phân trần thêm:

- Tính nhà em thế. Anh ấy ghét cái kiểu cầu cạnh. Cái gì cũng muốn tay mình làm ra. Biết nhà cửa thế này, nhưng thư nào gửi về cũng dặn: "Cứ ở tạm thế, đợi anh về sẽ hay. Chỉ cốt sao em nuôi các con khỏe mạnh và ngoan ngoãn".. Anh ấy sợ em vất vả thì nói thế. Em hiểu vậy và vẫn định thu vén lại nhà cửa cho nó gọn gàng. Vì chưa đủ khả năng nên em đành ở tạm thế này. Các bác đến chơi thì thông cảm, đừng chê cười chúng em.

- Cô thì cứ khách khí mãi. Tôi đã bảo có ai dám cười cô đâu. Đấy, bây giờ cách làm là thế. Cô cứ làm giấy tờ, tôi sẽ lo liệu mọi việc cho.

Có lẽ đến hơn tám giờ tối mưa mới tạnh. Trăng mười sáu lại sáng vằng vặc. Bà cụ nằm giường bên kia ngáy pho pho. Thằng cháu bé nằm cạnh tôi cũng đã ngủ. Miên đi họp về khe khẽ lách cửa, lịch kịch trong buồng một lát rồi nhẹ nhàng xuống bếp. Tôi nghe tiếng cối xay ù ù, không hiểu sao tôi không nén được tiếng thở dài mệt mỏi. Chiếc giường tre ọp ẹp cứ cót két kêu mỗi khi tôi trở mình. Nằm trên cái giường lạ này, tôi nhớ Oanh và các con. Không biết tối nay thằng Tuấn có biết đường mở vô tuyến cho mẹ xem không. Oanh hay ngủ sớm, nhưng cứ phải xem một lúc rồi mới ngủ. Oanh đòi tôi đặt vô tuyến đối diện với giường ngủ để nằm nghiêng nhìn, lúc nào buồn ngủ chỉ việc nhắm mắt thiếp luôn. Bây giờ Oanh đã ngủ chưa? Bất giác tôi choàng ôm lấy thằng bé bên cạnh. Mái tóc nó khét mùi nắng. Quần áo nó chua lòm. Tôi lại buồn buồn thương mẹ con Miên. Nằm mãi vẫn không sao ngủ được, tiếng cối xay đã im. Ngoài sân có tiếng nia sảy xoèn xoẹt. Tôi vùng dậy nhẹ nhàng bước ra.

- Bác không ngủ đi, khuya rồi đấy!

- Cô định làm đến bao giờ?

- Em tranh thủ làm một chốc. Em thức quen rồi. Bác nghỉ đi. Mai về sớm, làm gì mà đã sốt ruột.

- Tôi không sốt ruột, nhưng khó ngủ quá - Vừa nói vậy tôi vừa ngồi xuống bên nia gạo, nhìn đôi tay Miên thoăng thoắng quay tròn. Rất lâu tôi mới nói khe khẽ:

- Ngày ấy... Miên có giận tôi không?

- Ngày nào! Bao nhiêu năm qua rồi, anh còn nhắc lại làm gì.

- Nhưng Miên có giận tôi không?

- Giận cũng chẳng được. Người ta có số phận cả. Em chẳng dám giận ai.

- Tôi rất ân hận không gặp được Miên để nói cho Miên hiểu tôi.

- Anh không nói em cũng hiểu. Thú thật với anh, những ngày đầu em tưởng không sống nổi, cứ khóc thầm khóc vụng một mình thôi. Nhưng nghĩ lại em cũng biết tại cái duyên cái số. Trời không xe duyên thì em coi anh như anh trai vậy. Nhà em cũng biết chuyện này, chả là hồi mới đi bộ đội anh ấy đóng quân ở làng em mà. Thấy em buồn anh ấy bảo rằng: "Đừng buồn vì những chuyện đã qua. Đó chỉ là một thử thách trong cuộc đời thôi. Em vẫn còn tất cả để xây dựng hạnh phúc và tương lai của mình. Em hãy quên chuyện cũ và vui lên để sống". Từ ngày xây dựng với anh ấy, tuy chẳng được gần nhau nhiều, nhưng em thấy mình đã có hạnh phúc thật sự. Nhất là, từ khi các cháu ra đời, mọi chuyện tủi buồn xưa em quên được cả. Có điều em không quên anh. Em vẫn hỏi thăm luôn. Biết gia đình trên ấy sung túc, anh tiến bộ, em rất mừng.

- Thế mà tôi không hề biết Miên ở đâu cả. Tôi có lỗi với Miên nhiều quá, hãy tha thứ cho tôi. Bây giờ tôi cũng coi Miên như em gái, cần gì cứ nói, đừng ngại nhé.

- Vâng, thế nào em cũng nhờ bác nhiều. Bây giờ khuya rồi, bác đi nghỉ đi, em tranh thủ giã một thôi, sáng mai lấy gạo nấu sớm.

Và Miên bê thúng gạo ra chái nhà. Tôi liền bước theo:

- Để tôi giã cho. Miên cứ sàng sảy đi.

Miên vội xua tay:

- Không! Không! Bác để mặc em. Em chỉ làm một lúc là xong thôi. Bác vào nhà nghỉ với các cháu.

Nghe giọng nói cuống quít của Miên, tôi bần thần dừng lại nơi đầu cối. Miên đứng cong người dận thì thùm. Trên trời vầng trăng tán bâng khuâng lạnh lùng. Những vũng nước mưa còn đọng đầy sân, hắt lên nhiều ánh vàng lóng lánh. Tôi bỗng bồi hồi xao xuyến nhớ bóng trăng trong thùng nước năm nào. Nhưng người đàn bà lam lũ đang cong mình trên cái cối kia làm sao nhớ được những cảm giác ngọt ngào của đêm trăng năm ấy... Tôi bùi ngùi trở vào nhà.

Sáng sớm hôm sau vừa mở mắt ra đã thấy mùi cơm nếp thơm lừng, tôi chợt hiểu mẻ gạo Miên xay giã đêm qua. Ăn xong, Miên giục con ra vườn cắt tàu lá chuối. Tôi biết ý ngăn lại:

- Tôi về nhà ngay chứ không đi đâu mà gói ghém làm gì.

- Gói làm quà cho các cháu. Bác xuống chơi, quà bánh cho bà, cho cháu nhà em. Em chẳng có kẹo bánh gì, gói cho cháu nắm cơm nếp làm quà.

- Để cho trẻ nó ăn. Nhà tôi trên ấy cũng nấu cơm nếp luôn.

- Của nhà bác khác, của nhà em khác. Hay bác chê nhà em nghèo. Còn mấy ống lạc này em gửi biếu cụ dưới quê.

- Thôi, thôi, bày vẽ. Cụ già nhà tôi không ăn được lạc nữa đâu. Với lại nhà tôi cũng khối lạc. Mẹ nó mới được cung cấp mấy ký lạc nhân. Chúng nó vẫn ăn bì bũm suốt ngày.

- Thì bác cứ cầm về. Của nhà đây chứ mua bán gì mà ngại. Bác không cầm là em tủi thân đấy. Lạc này em trồng thêm chứ không phải của hợp tác đâu. Không có đạm nên nó không được mẩy lắm. Nhưng mà của nhà, em gửi biếu cụ để lúc cơ nhỡ cụ làm thức ăn.

Không thể từ chối, tôi đành đèo sau xe 5 ống lạc của Miên. Còn gói cơm nếp to thì để ở cái làn sắt phía đầu xe. Khi chiếc xe đã lướt êm êm trên con đường đất đỏ giữa đồng, tôi bỗng thấy lòng bùi ngùi xao xuyến lạ. Miên bảo tôi quên chuyện cũ, nhưng gói cơm nếp kia lại nhắc tôi nhớ kỷ niệm xưa. Không, tôi không thể quên tình nghĩa của Miên. Bây giờ tôi không tìm thấy tình yêu với người đàn bà nhỏ bé, có đôi má rám đen ấy nữa nhưng tình thương thì cứ dâng đầy. Tôi thương hại cho nỗi gian nan vất vả của Miên.

Một buổi sáng, chiếc hon-đa của tôi lại phóng thẳng đến gốc mít nhà Miên. Lúc ấy Miên đang sửa soạn ra đồng. Với dáng điệu đàng hoàng như người anh cả, chưa vội xuống xe, một chân chống xuống đất, một tay gỡ gặp kính đen, tôi nheo mắt cười thật tươi và hân hoan nói:

- Anh có quà cho cô đây!

- Gì thế bác?

- Cái này chắc là cô phải thích lắm - Bây giờ tôi mới xuống xe, tháo dây cao su, bê cái bao tải trắng đặt dưới chân Miên.

- Ôi, phân đạm hả bác? Giời ơi, phân đạm trắng, loại này quí lắm đấy - Mắt Miên vụt sáng, tay vục vào bao bốc lên những hạt phân tròn trắng óng ánh. Rồi Miên lại hỏi rối rít - Bác mua ở đâu thế? Bao nhiêu tiền một cân? Loại này em phải mua mười đồng một ki lô đấy. Ấy là dạo nọ chứ dạo này chẳng thấy ai bán mà mua.

- Loại này Nhà nước cũng có ít, chỉ ưu tiên cho các vùng trọng điểm lúa thôi.

- Thế mà bác mua cho em được nhiều thế! Hết bao nhiêu tiền hả bác?

- Tiền nong gì, anh cho cô đấy.

- Chết, bác mua cho em nhiều thế, tiền đâu. Lương cán bộ các bác thì mấy, các cháu lại đông. Bác cho cả, em chẳng dám nhận đâu!

- Đáng bao nhiêu, cô cứ cất đi. Anh mua giá Nhà nước cơ mà.

- Bác được phân phối hả?

- Tôi không giấu được nụ cười thương hại:

- Cán bộ huyện chúng tôi có cấy trồng gì mà phân phối. Tôi xin được đấy chứ.

- Xin là thế nào? Ai có tiêu chuẩn không mua lại cho bác thế?

- Không phải. Anh em ngoài cửa hàng là bạn thân của tôi. Họ cho riêng chứ không phạm vào tiêu chuẩn của ai.

- Thế ạ!

- Anh định lấy cho cô hẳn một bao, nhưng đợt này trong kho còn ít, mới lấy tạm hai chục cân thôi. Cô cứ dùng đi, sau này anh lại mang xuống - Rồi tôi hạ giọng - Nhưng mà cẩn thận nhé, dân làng người ta biết thì cũng phiền đấy. Có ai hỏi thì cứ bảo mua ở chợ. Thôi cô mang vào đi.

- Vâng!

Tuy "vâng" vậy mà Miên vẫn ngồi bệt dưới sân, tay mân mê những hạt phân mát lạnh, hầu như không chú ý tới lời dặn dò của tôi. Chắc Miên đang nghĩ ngợi điều gì.

- Cô cho anh gửi cái xe ở đây nhé!

Lúc ấy Miên mới giật mình đứng lên:

- Bây giờ anh đi đâu?

- Anh ra ngoài trại chăn nuôi. Đường ra ngoài ấy không đi xe này được.

- Thế anh còn gói gì nữa đấy?

- Cũng đạm đấy. Chỗ này có mười cân thôi, phần ông trại trưởng. Nói thật với cô, anh định xin đôi lợn Móng Cái về nuôi.

Miên chỉ chằm chằm nhìn tôi. Lúc tôi bước đi mới ấp úng nói:

- Trưa nay bác có về...

- À, trưa nay anh ăn cơm ngoài ông trại trưởng rồi. Cô không phải lo gì cả - Sực nhớ ra tôi quay lại nói nhỏ với Miên - Này, cái khoản gạch ngói, xi măng anh lo cho cô rồi nhé, chẳng cần đơn từ nữa. Cô cứ chuẩn bị rút tiền tiết kiệm đi. Khi nào anh báo thì lên mua.

- Vâng - Vẫn tiếng "vâng" gọn ghẽ như ban nãy.

Chiều hôm ấy sau khi uống rượu say, ngủ một giấc thật dài tôi thong thả trở lại nhà Miên. Chiếc hon-đa vẫn để bên gốc mít, được che thêm bằng cái nia cũ. Sau xe cái bao tải trắng phồng lên được chằng buộc cẩn thận. Tôi nghĩ bụng: "Cô ta lại bắt mình đèo lạc về sao. Mình chỉ gật đầu với ông nông sản một cái thì hàng chục cân cũng có. Khổ thân cô ta, chẳng biết cách ăn ở bây giờ nó ra làm sao".

Thấy tôi về, Miên vội vàng chạy ra đón. Hôm nay Miên mặc cái áo cánh mới. Mái tóc vừa gội chảy dài sau lưng. Vẻ mặt Miên tươi tắn khác hẳn mọi ngày. Dường như sợ tôi đi thẳng ra gốc mít, nên Miên đon đả gọi:

- Anh Lẫm! Vào đây em có cái này hay lắm.

Tôi cũng cười rất tươi:

- Hôm nay cô đi làm về sớm vậy? Có chuyện gì mà vui thế?

- Em gửi anh cất hộ em cái này nhé.

- Anh đã bảo không có đáng bao nhiêu tiền mà lại. Cô cứ nghĩ quẩn làm gì. Anh cho cô là cho.

- Không, em làm gì có tiền. Cất hộ em cái này cơ mà.

Tôi bàng hoàng khi Miên đặt vào tay tôi tập thư. Những bức thư màu xanh, những bức thư màu hồng, những chiếc phong bì màu trắng. Đây là những bức thư tôi gửi cho Miên cách đây hai chục năm. Tâm hồn trong sáng của người thầy giáo trẻ và sự rung động chân thành của trái tim khiến tôi viết nên những bức thư dạt dào tha thiết. Ai có thể ngờ được người đàn bà bốn con quanh năm tất bật ấy lại còn giữ mớ thư tình của tôi. Tất cả vẫn nguyên vẹn, bọc trong túi ni lông, thơm tho và sạch sẽ. Cảm động, tôi nắm chặt bàn tay Miên. Bàn tay sần sùi khô ráp. Những vệt chai cộm lên trong lòng tay tôi. Miên từ từ rút tay lại, vẫn giữ nét mặt tươi tắn nói:

- Anh mang về cất hộ em. Ở đây nhà cửa dột nát quá.

- Không ngờ Miên vẫn còn giữ.

- Sao em lại không giữ. Em vẫn nghĩ rằng đây là tấm lòng chân thực của anh.

- Cảm ơn Miên. Sự thực đúng là như vậy. Nếu Miên tin thế thì Miên cho tôi gửi lại đây.

- Nhưng bây giờ em sợ... không giữ được nữa - Miên nói thế với cái giọng buồn buồn, nhưng rồi lại tươi cười như trước. Một lần nữa Miên ấn gói thư vào tay tôi và tiễn tôi ra tận xe. Lúc này giọng Miên mới rụt rè:

- Còn cái này em gửi bác mang về hộ. Em có đủ phân rồi, không phải mua thêm nữa đâu.

Bây giờ tôi mới ngớ người ra. Bao phân đạm còn nguyên thế Miên buộc trả vào xe. Tôi chợt hiểu những hành động vừa rồi của Miên. Im lặng, tần ngần, rất lâu tôi mới khẽ khàng nói:

- Cô khinh tôi quá. Tôi đã làm gì xúc phạm cô?

- Anh đừng nói thế. Em chả dám khinh anh. Nếu là tiêu chuẩn của anh hoặc tay anh làm ra thì anh không cho em cũng hỏi xin. Mua bán thế này, em sợ ảnh hưởng đến anh. Vì em mà anh mang tiếng nọ tiếng kia, em ân hận lắm.

- Được rồi! Biết thế! Cô không muốn thì thôi chứ không phải lo cho tôi đâu. Dẫu sao cô cũng cho tôi gửi chỗ này lại, chả lẽ giờ lại mang về sao?

Tôi định gỡ bao đạm ra, nhưng Miên kiên quyết ngăn giữ:

- Không - Rồi Miên chậm rãi nói tiếp - bác mang về hộ em. Bác giận em chịu vậy. Mẹ em bảo thế nào cũng phải gửi lại bác. Kẻo rồi vì mẹ con em mà bác gặp phiền phức gì, bà cụ không bằng lòng. Tiện có xe, bác chở về giúp, không thì em phải gánh lên đấy.

Rồi Miên hạ thấp giọng như thể thổ lộ một tâm sự kín đáo với riêng tôi:

- Còn cái chuyện gạch ngói của em, bác cũng hẵng thong thả. Em muốn hỏi ý kiến nhà em đã. Lúc nào cần em sẽ nhờ bác sau.

Tôi cảm thấy bị xúc phạm. Lòng tự ái nổi lên, tôi chỉ nói ngắn gọn:

- Thôi được! Tùy cô. Nhưng đừng có trách thằng này bạc tình bạc nghĩa nhé - Rồi tôi vùng vằng đạp cho xe nổ máy rú ga lao vù đi...

Oanh đón tôi ở đầu hè. Hôm nay Oanh cũng vẫn đỏm dáng như mọi ngày. Chiếc áo cộc tay nền xanh, hoa tím nhúng nhính phủ trên chiếc quần sa tanh đen nhẫy. Mớ tóc cặp vồng cao trên đỉnh đầu, để lộ khoanh cổ trắng ngần với chiếc dây chuyền vàng óng ánh. Vừa thấy tôi, Oanh đã đon đả hỏi:

- Có xin được đôi lợn đẹp nhất không mình? Sao mình đi lâu thế? Em chờ sốt cả ruột.

Vừa nói Oanh vừa đưa ngang mắt nhìn tôi và lại cười duyên như thường lệ. Đó là thói quen của Oanh. Mọi khi, mỗi lần Oanh cười thế là nỗi mệt nhọc trong tôi tan biến. Nhưng hôm nay nhìn Oanh cười bỗng nhiên tôi thấy khó chịu và bải hoải. Tôi chưa buồn trả lời, Oanh đã nói tiếp bằng cái giọng vừa nũng nịu vừa khoe khoang:

- Em xin được hóa đơn rồi đây này. Tay trưởng ban nông nghiệp mới khó tính gớm. Em phải nói bã bọt mép hắn mới cho. Trước khi ký giấy hắn còn đòi mình cho hắn vài bao xi măng. Em hứa rồi đấy. Hôm nào mình giải quyết cho hắn nhé.

Đang mệt mỏi và bực bội, nghe Oanh nói thế, tôi bỗng thấy bủn rủn, rã rời. Nước bọt của Oanh đã quyết định nhiều việc lớn, cả những việc thuộc quyền trưởng ban hoặc phó ban như tôi. Lần đầu tiên tôi nhận ra điều ấy. Mặc cho vợ khoắn khỏa, tôi dựng xe bên thềm, chẳng nói chẳng rằng sầm sầm bước vào nhà. Vẫn bộ sa-lông bóng lộn ấy, vẫn cái tủ buýp-phê ấy, vẫn những cái giường mô-đéc ấy, mà sao bỗng thấy lạ lùng.

Chí Linh, 1981

 

MÙA TRĂNG KHUYẾT

 

Đầu thập kỷ sáu mươi chị tôi lấy chồng. Lúc ấy anh là cậu học trò trường huyện được cả làng nể trọng: Mới học lớp chín anh đã làm được những việc dân làng cho là "phi thường". Anh mang từ trường về một cái ống nghe và một cuộn dây điện, rồi xin bố một cây tre lồng ngộc cao nhất bụi. Trước khi dựng cây tre ngoài thềm anh buộc vào ngọn cây những thứ gì đó và dòng sợi dây từ trên ấy xuống, nối vào cái ống nghe. Anh bảo đấy là cái máy ga-len. Trên bàn anh đặt một bộ máy (dân làng gọi thế) gồm một hòn đá nam châm với một thanh đồng lá, đầu nhỏ như cái kim. Tối tối anh ngoắc ống nghe vào tai như người gọi điện đài, một tay cầm thanh đồng dò dẫm trên hòn đá nam châm. Đến một điểm nào đó, tiếng nói từ trong ống phát ra, anh găm mũi thanh đồng lại. Anh khoác ống nghe vào tai cho mẹ vài phút, rồi cho bố, rồi cho em gái. Rồi thanh niên cả xóm tụ tập đến, rồi ông già bà lão cũng chống gậy đến nghe nhờ. Mỗi người vài phút đổi cho nhau. Ai cũng thích thú. Mỗi tối thứ bẩy nhà anh cứ chật ních. Người ta lần lượt đợi nghe một tý trong mục "Sân khấu truyền thanh". Hầu như anh chẳng được nghe phút nào trừ khi máy tắc phải dò mạch lại. Thế mà nét mặt anh cứ hân hoan. Anh vui vì đã mang lại niềm vui cho cả làng. Tôi và chị tôi cũng thường đến nghe nhờ ga-len. Một hôm anh Bắc đang ngoặc tai nghe, chợt hét lên: "Liên Xô phóng tàu vũ trụ lên không trung rồi". Mọi người xôn xao hỏi: Đâu? Đâu? Nhưng Bắc vẫn giữ chặt tai nghe và hoa chân múa tay, y như tàu vũ trụ đang lượn lờ trước mặt. Hôm sau Bắc phải kể lại hàng trăm lần cái tin vui mừng ấy. Bắc ở gần nhà tôi, theo đuổi chị tôi đến nửa năm, nhưng chị từ chối. Sau đó chị nhanh chóng xây dựng với anh Tâm. Tôi hỏi, có phải chị mê anh vì cái tài lắp máy ga-len không. Chị bảo: "Mày chỉ được cái tò mò, anh ấy thiếu gì nết tốt. Còn anh, anh cởi mở hơn. Anh không giấu giếm mối tình giản dị và đằm thắm của mình. Dạo ấy hợp tác khởi công con đập Uẻ Võng. Cậu học trò cấp ba duy nhất của làng được ban chủ nhiệm tin cậy như người kỹ sư chính. Buổi ra quân gần như cả làng có mặt. Trống ếch rộn ràng, cờ đỏ bay phần phật y như ngày hội. Một mình anh đang tìm cách đo lưu lượng nước trên đầu nguồn, thì chợt thấy bóng một cô gái lung linh dưới lòng suối. Ngẩng lên, anh vô cùng bối rối bắt gặp cô gái ấy đang chằm chằm nhìn mình. Khuôn mặt tròn chín đỏ dưới nắng hanh. Đôi mắt đen như hai con liềng liễng, không hề chớp. Anh thấy khắp người nóng ran, và không biết sự thể sẽ thế nào nếu không có bác chủ nhiệm đi sau lên tiếng:

- Cháu Tâm, hãy nghỉ tay ăn uống chút đã. Dưới kia bà con đã ăn xong cả rồi.

Cô gái bưng cái gói đặt lên phiến đá, nhẹ nhàng nói:

- Chủ nhiệm lấy phần cho anh đây.

Trong gói có đĩa xôi, chiếc đùi gà và hai quả chuối tây. Ngày ấy động có việc gì là ăn uống ra trò. Đây chỉ là ăn nhẹ trong lúc giải lao thôi.

Người con gái ấy là chị Lan. Chị vui lòng gấp cuốn vở lớp tám lại mãi mãi để làm vợ rồi làm mẹ. Anh trở thành người lính trước ngưỡng cửa trường đại học. Khi đất nước thống nhất, dù đã ba mươi hai tuổi, anh vẫn thi đỗ vào trường đại học Bách khoa. Tôi trở thành cô giáo cấp hai, dạy ngay ở xã nhà. Những dịp nghỉ hè, nghỉ tết, anh thường đến thăm tôi. Nhiều lần anh thở dài nói: "Anh học không vất vả lắm. Người vất vả chính là chị Lan của em". Quả đúng như vậy. Nỗi phập phồng, thảng thốt trong chiến tranh vừa hết, chị lại phải tất bật lo đồng tiền, bát gạo để nuôi con và thêm thắt cho chồng. Ban ngày đi làm đồng, tối về chị xay thóc, giã gạo, hoặc bóc lạc dồn lại đến chợ phiên đi bán. Mỗi tháng anh về chị đều sẽ sàng mở chum gạo dồn vào chiếc ba lô cóc cho anh dăm mười ống. Chị bảo anh mang theo cái xoong nhỏ, cố nấu ăn sáng cho đỡ tiền quà. Cũng có lần anh từ chối, nhưng thường thì cứ lặng lẽ mang đi. Ở trường, anh cặm cụi học, lại gánh thêm chức bí thư chi đoàn, nên càng phải gương mẫu. Mọi tính toán để có đồng tiền, bát gạo đều được coi là tư tưởng thực dụng tầm thường. Mặc dù vậy nhưng anh kể ở lớp cũng có những anh chàng khôn ranh đáo để. Họ ra chợ Đồng Xuân mua buôn từng chục bút bi, giấy vở học sinh, thậm chí cả bánh đa nem, hạt tiêu, mì chính về các chợ nhà quê bán lại kiếm lời. Rồi lúc lên họ lại có những thứ hàng ở nhà quê từ quả chanh, quả ớt đến ống lạc, ống vừng. Dù lãi lờ không nhiều thì họ vẫn đủ tiền ăn sáng. Còn anh thì chịu. Một mình với suất lương bốn mươi lăm đồng, dăm ống gạo chị Lan trợ cấp vậy mà nó cứ lọt thỏm đi đằng nào. Mỗi lần định về nhà lại phải đấu tranh tư tưởng. Không về thì nhớ vợ nhớ con, mà về thì... có hôm mua vé tàu xong, trong túi chỉ còn mỗi một đồng, suy đi tính lại, anh đành mua chục bánh quế làm quà cho các con. Lũ trẻ được quà cứ tíu tít khoe:

- Mẹ ơi, bố mua bánh giấy. Mẹ có ăn bánh giấy không?

Anh gượng cười. Chị Lan nghiêm mặt nói:

- Bánh quế đấy. Mãi Hà Nội mới có chứ ở đây làm gì có nào. Con trông nó giống hệt mặt trăng lại có con cá đang bơi nữa. Bố thấy đẹp mới mua cho các con chứ.

Thằng lớn xếp ba cái bánh quế chồng lên nhau ngoạm mấy miếng hết veo. Miệng nó chóp chép nhai nước bọt. Còn thằng bé lóng ngóng bẻ chiếc bánh vỡ vụn, gió bay lả tả ngoài sân.

Lần khác, anh để dành mấy đồng, đủ mua cho các con gọi kẹo vừng ở chợ huyện. Nhưng chưa về đến chợ huyện thì chiếc xe đạp nổ nốp. Thế là mấy đồng bạc chỉ đủ giả tiền măng-xông. Còn miếng lốp thì ông thợ lót kỷ niệm. Anh đạp xe về với nỗi buồn khó tả. Lúc trông thấy cái cổng quen thuộc hiện ra anh chỉ mong sao lũ trẻ đi vắng. Nhưng thật khốn khổ cho anh, vừa dắt xe vào sân, chúng đã xô nhau chạy ào ra:

- A bố, bố về!

Anh dựng xe bên hè rồi xòa tay ôm gọn cả hai đứa vào lòng. Sau nỗi mừng bất chợt ấy, mặt chúng ỉu dần. Mặc dù được bố bế bổng lên và thơm cho mỗi đứa một cái thật mạnh vào má, chúng cũng chả vui thích gì. Thằng lớn nắn nắn túi áo ngực bố, thằng bé cứ ngoái lại nhìn cái túi ở ghi đông xe. Anh cố cười đùa với con, nhưng tiếng cười thật là nhạt nhẽo. Vợ anh biết ý vội cầm dao ra vườn chặt cây mía đẵn làm năm, bảy khúc đưa cả cho mấy bố con. Thế là mặt chúng lại tươi lên hớn hở.

Những chuyện như thế, vợ và các con anh quên ngay, nhưng anh thì không quên được. Anh day dứt chia sẻ cùng tôi. Có hôm kể xong nước mắt anh giàn giụa. Tôi an ủi:

- Thôi, anh nghĩ ngợi làm gì. Ai chả biết anh đang là sinh viên. Đi học thì lấy đâu ra tiền. Chị em với các cháu có trách gì anh đâu.

- Ừ, biết vậy nên anh càng khổ tâm. Em có biết ngày xưa lẽ ra chị em lấy người khác không?

Chuyện ấy thì tôi biết. Anh Bắc giờ công tác ở huyện đã xây được nhà hai tầng cho vợ, lại đưa được hai đứa con ra nước ngoài. Kinh tế nhà anh phải nói là nhất xã. Tôi nói thật cứng cỏi, dường như để an ủi cả chính mình:

- Ôi dào, anh đừng nghĩ quẩn nữa. Ai tốt, ai xấu dân làng người ta biết hết. Chị Lan em chỉ quí trọng tình cảm và chí hướng chứ không hám lợi đâu mà anh buồn.

- Ừ, anh chỉ còn cách học thật giỏi thôi em nhỉ. Anh học giỏi thực sự. Dù đã lớn tuổi nhất lớp, anh vẫn không thua kém bất cứ một sinh viên nào. Giá anh ở lại trường hay về một cơ quan nghiên cứu nào đó thì sẽ hữu ích cho anh và cho đất nước. Về tỉnh, dù bằng đỏ hay bằng xanh thì anh cũng chỉ là một kỹ sư mới ra trường, lương tháng trên sáu chục đồng. Quanh quẩn anh nuôi mình cũng còn chật vật. Ngày ấy cán bộ Nhà nước thường làm thêm để tăng thu nhập bằng cách nuôi lợn hoặc cuốn thuốc lá. Cả hai việc ấy anh đều không làm được. Một số người khác không nuôi lợn nhưng sống dễ chịu nhờ cám vì ở tỉnh có nhà máy xay lớn, cám bán theo giấy giới thiệu. Xin được một tạ cám bán ra ngoài được số tiền chênh lệch bằng cả tháng lương. Các cơ quan cứ rồng rắn đi xin cám. Có lần chị cán bộ công đoàn gọi anh:

- Này chú Tâm! Nhân dịp mùng Một tháng Năm công đoàn xin được mấy tạ cám. Mỗi người được hai chục cân. Phần chú trong góc bếp ấy, chú tìm cái bao mà đựng.

- Nhưng em lấy cám làm gì.

- Bán đi, hoặc mang về cho bà xã.

Ôi, làm sao một kỹ sư như anh lại có thể đi bán lén lút hai chục cân cám. Còn mang về thì khác nào chở củi về rừng. Chị công đoàn hiểu ra, vội nói:

- Thế chú cho chị xin nhé.

Từ lần sau chị công đoàn cứ tự nhiên xin phần của anh. Phải hai năm sau khi ra trường, anh mới mua được tấm sa tanh Nam Định tặng vợ. Chị Lan cảm động lắm, cứ cất mãi trong hòm không dám may. Anh bảo tôi: Vân cho anh khất đến sang năm nhé". Tôi lắc đầu: "Anh quên là em cũng có phiếu cung cấp sao: "Anh nói: "Nhưng anh muốn tặng em".

Đó là những năm đầu của thập kỷ tám mươi. Những năm tiếp theo cuộc sống còn khó khăn hơn. Một hôm anh bảo tôi:

- Có khi anh về hẳn. Công tác bây giờ bí quá.

Tưởng rằng anh nói đùa vậy, nào ngờ tháng sau anh về thật. Ban đầu chị Lan không vui, cứ tiếc hai chục năm cống hiến của anh, nay về "một cục" được vài triệu bạc, lúc tuổi già sức yếu biết trông cậy vào đâu. Chẳng biết anh thuyết phục thế nào, sau chị cũng hiểu ra.Rồi chị vui vẻ cùng anh lên vỡ hoang khu Vẻ Võng. Anh ngăn lại con đập mà hợp tác bỏ từ lâu. Và khoanh hẳn một vạt đồi kề đó làm vườn. Ngày ngày bố con anh xoay trần, phạt cây đánh gốc. Sau ba tháng thì vạt đồi vốn toàn sim, mua trở thành khoảnh vườn xoai xoải phơi đất sỏi. Anh đào từng hố bằng cái nong, lấy đất màu đổ xuống rồi trồng vải, trồng cam. Nhìn anh làm, nhiều người ái ngại, và cũng nhiều người khâm phục. Riêng tôi, tôi rất tiếc cho anh, bởi vốn kiến thức khoa học mất bao công sức mới giành được nay đành bỏ phí. Tôi hỏi:

- Anh yêu nghề làm vườn đến mức bỏ cả tấm bằng kỹ sư hả anh?

- Dì là giáo viên nên nhìn cuộc sống trong sáng quá. Anh kể dì nghe nhé, nhưng đừng kể lại với chị Lan. Anh không muốn chị Lan buồn. Sau đại hội, cơ quan anh có một sếp mới. Người này còn trẻ, nghe nói năng nổ lắm, công việc khó mấy cũng tháo gỡ được. Đang lúc làm quen với cơ chế thị trường, còn gì phấn khởi bằng người đứng đầu cơ quan biết cách làm ăn. Nào ngờ sếp mới chính là cậu bạn cùng học cấp ba với anh. Cậu ấy chỉ học dở lớp mười rồi xin ngang đi công tác. Nghe đâu cậu ấy tiến bộ ở quê vợ, đã làm đến chức chủ tịch huyện rồi lên tỉnh. Gặp lại nhau, bọn anh mừng lắm. Chẳng cần giữ ý tứ, cậu ta nói thẳng:

- Mình sẽ đề bạt ông làm phó giám đốc. Chúng mình sẽ hợp tác ăn ý và cùng nhau tiến bộ.

Vài tháng sau cậu ta giao cho anh làm một dự án để xin đầu tư vốn. Tưởng giám đốc mới chưa am hiểu công việc, vì tình bạn bè, anh phải giúp đỡ tận tình, anh nói: Dự án ấy không thuộc chức năng cơ quan mình. Hơn nữa mình không có điều kiện thực thi. Cậu ấy nhíu mày nói:

- Ông thật thà quá. Cơ chế thị trường mở cửa cho mình làm ăn. Cứ vin vào chức năng thì khối anh chết. Chỉ cần tính toán ra đấy, làm được hay không là chuyện khác. Cốt sao mình được cấp trên chấp thuận. Duyệt xong dự án là mình có hàng trăm triệu đồng vốn, cậu hiểu chưa? Thời buổi này anh nào biết cách xoay được vốn thì anh ấy có cơ làm giàu. Cấp trên cũng chẳng phải ông thánh nghìn mắt, nghìn tay. Bản đề án do một kỹ sư giỏi như cậu tính toán là họ duyệt ngay thôi.

- Thế mình có vốn rồi mà không thực hiện được đề án thì sao?

- Thì ta lại giải trình nguyên nhân. Trong bước đầu chuyển đổi cơ chế này, bao nhiêu cơ quan Nhà nước, bao nhiêu nhà kinh tế lúng túng, lỡ lầm chứ đâu phải mình ta. Có cả ngàn lý do hợp lý và hợp pháp. Mình sẽ được bù lỗ, mình sẽ được xóa nợ. Với lại ông lo xa quá làm gì, người đứng ra ký kết và chịu trách nhiệm là thủ trưởng cơ quan, là tớ chứ có phải ông đâu. Miễn là ông tính toán sao cho hợp lý, không ai bắt bẻ được. Ông sẽ có năm phần trăm tiền thù lao của tổng dự án. Thôi, làm đi.

Nghĩa là nếu anh vẽ ra cái dự án xin đầu tư hai trăm triệu, anh sẽ có mười triệu bỏ túi. Hồi ấy vàng ba con chín, hai trăm ngàn một chỉ. Như vậy anh sẽ có năm cây. Dì biết không, lúc ấy ở nhà chị và các cháu đang bữa cơm bữa cháo. Nhưng anh đã không làm dự án, vì anh cảm thấy sờ sợ bởi món thù lao quá lớn, và quá dễ. Hơn nữa vì anh được giáo dục tính trung thực quá nhiều, quá đậm, suốt cả mười năm học phổ thông, mười năm đời lính và cả năm năm trong trường đại học, nó đã ngấm vào máu thịt. Mới có mấy tháng làm việc với sếp mới, anh chưa kịp chuyển đổi tư duy. Hai ngày sau anh nói với sếp:

- Cậu thông cảm, chuyển cái dự án ấy cho người khác. Mình thấy trong người không được khỏe, đầu óc kém minh mẫn quá. Sợ tính toán không chuẩn.

Dường như cậu ta hiểu hết tâm trạng anh nên chỉ thản nhiên:

- Được. Tùy ông thôi.

Rồi mọi sự vẫn như thường. Chừng ba tháng sau cậu ấy xuống phòng anh chơi, vẻ quan tâm:

- Ông có dành dụm gửi về cho bà xã được nhiều không?

- Gửi chú em ruột hết.

- Giỏi như ông làm ngoài sẽ giàu to. Bây giờ nhiều người có tài, tự nguyện rút khỏi biên chế Nhà nước. Họ phất lên rất nhanh.

- Người ta có vốn, lại có cơ sở ở thành phố, còn như mình, hai bàn tay trắng, xoay sở làm sao.

- Khó gì đâu, nếu ông quyết tâm là được hết. Vốn thì vay ngân hàng, nhà thì thuê. Tớ có căn nhà ở ngã tư Mát ấy, nếu ông cần tớ sẽ cho mượn vài năm.

- Cậu có nhà riêng ở đây à?

- Tớ mới mua. Rẻ như bèo ấy mà. Nó vốn là dãy nhà xí của Công ty X. Trước khi giải thể họ bán cho tớ. Giá nội bộ. Tớ dựng tạm nhà cấp bốn thôi, nhưng bám hai mặt đường. Kinh doanh tiện lợi lắm.

- Thế cậu có kinh doanh gì không?

- Sau này nhất định là có. Bây giờ mình đang cho cô bạn thuê mở quán bia hơi. Ông mà ra làm ngoài tớ sẽ cho mượn hẳn một gian. Nói thật tình cơ quan ta biên chế cồng kềnh quá. Những kỹ sư giỏi như ông, cấp trên không dám giảm biên. Nhưng nếu ông tự nguyện thì sẽ được giúp đỡ.

Lúc ấy anh ngỡ ngàng và choáng váng bởi cách đặt vấn đề thẳng thừng như vậy. Sau vài ngày tìm hiểu anh biết đó là ý định nghiêm túc của sếp. Anh ta muốn giảm biên chế không phải để cơ quan bớt cồng kềnh, mà để có chỗ nhận những người khác, đa số là người đi lao động nước ngoài trở về. Họ không có bằng kỹ sư nhưng có nhiều đô la. Những người cũ không ăn ý sếp thì hoặc phải giảm biên hoặc phải chuyển công tác. Như vậy anh ở lại sao được nữa. Mà ra ngoài vay tiền, thuê nhà làm riêng thì anh chịu. Anh chưa từng được học kinh doanh. Vậy chỉ còn cách về cuốc đất thôi, dì hiểu chứ. May là quê mình còn có đất hoang để mà cuốc đấy. Khối người còn phải đi bán kem, hoặc mua bán đồng nát rong cơ dì ạ.

- Còn cái dự án?

- Tất nhiên có người khác làm, và họ được đầu tư hàng trăm triệu đồng thật. Sau đó thì anh không biết.

- Đáng lẽ anh đừng về. Ai dám đuổi anh.

- Ôi, dì đúng là đàn bà. Đàn ông lòng tự trọng cao lắm. Chỗ bạn bè, người ta đã nói đến như thế mình phải hiểu chứ.

Năm ấy anh trồng được hơn trăm cành vải. Trong vườn có chút vốn liếng nào, anh chị dốc hết vào vườn. Lúc giáp hạt chị Lan phải chạy vay lãi cao. Đã thế, đứa con lớn đang ôn thi tốt nghiệp cấp ba hầu như ngày nào cũng cần tiền. Anh chị cứ chạy quanh. Tôi dành dụm được ngót hai triệu, tự nguyện cho chị Lan vay. Nửa năm sau, chồng tôi chuyển công tác lên thành phố, cần xe máy đi, về. Tôi hỏi chị Lan món tiền ấy. Chị cứ khất hoài. Lần thứ ba tôi đành phải nói xẵng mấy câu. Chị Lan dấm dứt khóc. Lúc ấy anh mới biết chuyện. Hôm sau anh cầm đến tận nhà trả đủ số tiền tôi đã cho vay, lại thêm năm mươi ngàn tiền lãi. Tôi không dám nhận. Anh bảo: "Tiền này của dì, lúc khó khăn dì đỡ anh chị là quí lắm rồi. Anh chị không muốn dì chịu thiệt". Nghe anh nói chân tình, tôi thanh thản cầm tiền. Chồng tôi mua được xe máy như ý muốn. Mãi về sau tôi mới biết, để có tiền trả tôi, anh đã lên thị trấn vay của người quen với mức lãi hai phân, và phải lấy thịt nạc làm chuẩn, vì lúc ấy vàng đã chững giá. Tôi buồn lặng đi và thầm giận anh, sao phải thái quá như vậy. Khoản tiền ấy không lớn, nhưng lãi mẹ đẻ lãi con anh trả mãi không hết. Mùa thu năm 1991, biết tin Nhà nước cho nông dân vay vốn, anh làm đơn ngay đợt đầu. Nhưng không hiểu sao anh chị thay nhau lên huyện mãi mà vẫn chưa vay được. Lúc ấy vườn vải đã mướt xanh, nhưng lâu quá trời không mưa, đất đồi khô như rang, cây mới trồng có nguy cơ chết nắng. Anh rất cần mua một máy bơm, bơm nước từ hồ Ủe Võng lên. Trong khi chưa mua được máy, bố con anh phải gánh nước tưới hàng ngày. Sáng ấy tôi có việc lên vườn đồi tìm chị Lan. Anh bảo chị đi ngân hàng, hy vọng hôm nay sẽ vay được tiền. Hai anh em đang trò chuyện thì có chiếc xe máy màu ớt lượn đến. Thì ra Bắc, người anh rể hụt của tôi. Hai anh bằng tuổi nhau, nhưng trông anh Bắc trẻ hơn đến mười tuổi. Các anh bắt tay nhau, rồi Bắc vồn vã:

- Ông biết tin gì chưa? Gióc-Ba-Chốp vừa tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô rồi. Đài phương tây đưa tin hôm qua, đài ta sáng nay cũng đưa tin.

Anh tôi có vẻ sửng sốt lắm. Lâu nay anh cứ mải mê với vườn rừng, chẳng chú ý gì đến thời sự gần xa. Với lại nhà chẳng có phương tiện gì. Có chiếc đài tự lắp, anh cũng bán để đong thóc. Nhìn vẻ mặt phởn phơ của Bắc, tôi bỗng nhớ lại ba chục năm trước, anh ta từng nghe nhờ ga-len nhà anh tôi. Hình như cuộc xoay vẫn của trời đất có sự nhầm lẫn. Sau ít phút hàn huyên Bắc trịnh trọng nói:

- Hôm nay tôi lên mời ông bà ngày kia đến dự cưới con trai tôi. Nó lấy vợ từ bên Đức cơ, nay đưa về trình diện, tôi vẫn tổ chức đàng hoàng. Hôm trước làm ở cơ quan tôi cho bạn bè biết mặt cháu dâu. Hôm sau tổ chức ở nhà. Tôi sẽ làm trăm mâm cỗ mời hết cả làng, trước hết cho các cháu nó vui, sau là để bà xã nhà tôi đỡ tủi thân. Lâu nay bà ấy cứ nghĩ tôi có bồ trên huyện nên chểnh mảng với vợ con. Ông bà phải đến cả đấy nhớ, không là tôi giận đấy.

Chiếc xe màu ớt rồ máy lao đi, chỉ để lại một làn bụi mỏng, nhưng không khí vốn đã hanh khô, dường như nóng rát lên. Anh ngồi ôm đầu một lát rồi nói nhỏ: "Dì thấy không, thiên hạ bây giờ đổi thay khiếp quá!". Rồi anh bảo tôi cứ ngồi chơi đợi chị, anh tiếp tục gánh nước tưới cây. Chừng nửa tiếng không thấy anh xuống hồ, tôi ngó tìm. Anh nằm gục bên gốc vải. Gánh nước chao nghiêng. Bác sĩ nói anh bị chảy máu não. Khi chị Lan hấp hổi chạy đến trạm cấp cứu thì anh không nói được nữa, nửa người bên trái đã liệt. Anh dùng bàn tay phải lau nước mắt cho chị, rồi cậy một mẩu vữa bên cửa sổ viết lên tường hai chữ "ngân hàng" và một dấu hỏi chấm. Chị Lan ôm chầm lấy anh, gật đầu lia lịa trong làn nước mắt tầm tã. Mắt anh lóe lên niềm vui, nhưng hôm sau anh trút hơi thở cuối cùng. Ngẫu nhiên đám tang anh trùng với đám cưới con anh Bắc. Xóm trên kèn trống não nề, xóm dưới xập xình nhạc tây. Trăm mâm cỗ cưới hôm ấy ế đến già nửa. Dân làng đưa tiễn anh tôi chẳng thiếu vắng nhà nào. Dẫu không họ hàng thân thích, ai nấy mắt đều đỏ hoe.

Năm năm trôi qua, vườn vải của anh đã cho lứa đầu. Từ lúc quả khoe mã, cánh buôn vải, nào xe đạp xe máy nhộn nhịp lượn quanh vườn đồi. Chị Lan hầu như không tiếp ai. Những người thạo giá nói rằng mùa đầu này chị Lan sẽ cầm chắc trong tay hai chục triệu, những mùa sau sẽ gấp đôi. Số tiền hai chục triệu năm năm trước dù nằm mơ chị cũng không nhìn thấy. Nhưng vì thế mà chị khóc suốt ngày. Dường như bây giờ chị còn thương tiếc anh hơn cả ngày xưa. Mỗi sáng chị hái một chùm quả mọng đặt lên bàn thờ, vừa khấn anh vừa nức nở.

Còn tôi, hằng năm ngày giỗ anh, tôi nghiêm trang đặt một xấp tiền âm phủ dưới bức chân dung anh và thắp một nén hương thành kính, mong anh quên đi chuyện vay mượn ngày nào. Xấp tiền ngày một dày thêm, nhưng nỗi buồn trong tôi chưa bao giờ vơi nhẹ. Hẳn vì những đồng tiền dương thế có nhiều phép lạ hơn tiền cõi âm.

 

Trại sáng tác Nam Định, năm 1996

 

 


HOA CAU

 

Lâu lắm rồi anh Dậu không đến ngôi nhà này, mặc dù nó nằm dệ ngay mé đồng, sát đường cái lớn. Lý do thứ nhất khiến anh không đến vì chủ nhà là người nổi tiếng khoảnh khái, chua ngoa. Đã có lần chị ta chửi bốp chát vào mặt anh trước đám đông. Lý do thứ hai là vì một chút lòng tự ái. Anh thấy bị xúc phạm từ cái hôm chị ta sai con kéo rào dấp cổng. Dẫu một thời chị ta đẹp gái nhất làng thì bây giờ cũng đã là gái góa. Còn anh, anh mới ngoài ba mươi tuổi, mà đàn ông ở lứa tuổi ba mươi là lứa tuổi "đang xoan". Vợ anh vẫn còn trẻ. Ngoài ra những cô gái làng mười chín, hai mươi chẳng thiếu gì cô quí mến anh. Tối tối, khi mà anh đặt chiếc đèn bão và cuốn sổ nhàu nát xuống góc sân kho thì hàng chục cô xúm xít, vòng trong, vòng ngoài vây kín anh. Cô thì chen vai, cô thì hích cánh. Có cô chẳng biết vô tình hay cố ý, tỳ cả phần ngực nóng hổi lên vai anh. Vậy thì mụ gái góa ngoài ba mươi tuổi ấy đáng là gì mà chị ta xúc phạm anh. Anh Dậu tự lý giải như vậy để chứng tỏ với chính mình rằng: mình đến đây không phải vì những ham muốn tầm thường. Và như vậy để cái lòng tự ái sống dai dẳng, kìm giữ anh cho đến tận bây giờ. Năm năm rồi anh không thèm đặt chân vào cái cổng mà con bé con đã đặt một bó rào ngay trước mặt anh.

Mới năm năm mà cảnh vật khác lạ đến sững sờ. Anh thoáng tưởng mình bước nhầm vào nhà nào khác. Nếp nhà tranh một gian hai trái, nay đã thay bằng ngôi nhà ngói khang trang, tường vôi trắng lốp. Rồi từ mái bếp đến chuồng lợn, chuồng gà đều ngăn nắp, gọn gàng. Ngày xưa, khu đất này quanh năm nước rỉ nhuộm vàng và rậm um tùm những bụi gai chiếng chiếng. Nó là miếng đất bìa làng nơi những chú bìm bịp và những con ma trơi ẩn nấp. Chính anh là người ký giấy cắt cho vợ chồng Giang khu đất bìa làng. Lúc ấy đất làng này còn ênh hềnh thừa mứa. Chỗ cao, chỗ thoáng chẳng thiếu gì, nhưng anh muốn dành cho nàng một lời chia tay đầy kiêu hãnh bằng quyền lực. Anh còn nhớ, anh ký giấy với tâm trạng rất hả hê. Anh cũng còn nhớ chồng Giang băn khoăn định xin đổi chỗ đất khác, nhưng nàng đã giật phắt tờ giấy, lườm chồng và lặng lẽ ra về.

Việc ấy sau này anh đã ân hận rồi. Hôm nay nhìn thấy căn nhà xây vững chãi và vườn tược xum xuê của Giang, lòng anh bỗng cộm lên nhiều cảm xúc khó tả. Vừa cay đắng, xót xa, vừa ghen tỵ, oán hờn. Ngày ấy, anh là cán bộ trẻ, được chính quyền ưu tiên cấp cho khu đất rộng rãi, thoáng đãng nhất làng. Anh dựng ngôi nhà tranh ba gian, hướng đông nam. Và anh đã sống một thời hạnh phúc trong ngôi nhà đó. Nhưng bây giờ căn nhà của anh trông tiều tuỵ. Sân thềm bừa bãi, vườn tược xác xơ... Từ ngày anh về phục viên. Vợ anh đẻ liền liền thêm năm con nhỏ. Một mình anh vừa lo việc hợp tác, vừa làm nuôi tám miệng ăn. Chưa bao giờ anh có thời gian và tiền của để nghĩ đến việc xây cất một ngôi nhà mới. Những năm còn hợp tác nhỏ, mấy người bạn thường nửa đùa, nửa thật nói rằng: "Ông làm chủ nhiệm, mỗi vụ nắm trong tay mấy trăm tấn thóc mà chịu để cho vợ con ở cái nhà bẹp thế này ư". Anh chỉ cười xòa. Không nói ra nhưng trong bụng anh vẫn khinh những anh bạn lợi dụng chức quyền, bòn rút của dân để xây nhà cao cửa rộng. Trong thâm tâm chưa bao giờ anh nghĩ đến chuyện xập xí xập mầu của xã viên. Anh chỉ nghĩ sao cho nước nổi thì bèo cũng nổi. Có lẽ vì thế mà xã viên tín nhiệm anh, khóa nào cũng bầu vào ban quản trị. Nhưng lãnh đạo sản xuất chẳng phải chuyện dễ. Hợp tác của anh đã tam tứ phen thay hình đổi dạng, nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy. Gia đình anh cũng chẳng khấm khá lên được chút nào. Nhiều lúc anh cứ lúng túng bộn bề, chẳng biết xoay xỏa ra sao. Thấy ai làm gì anh cũng bắt chước. Nào là khoanh vùng, bờ lô bờ thửa, nào là đưa cơ giới vào cải tạo ruộng đồng. Nhưng khốn khổ cho anh, máy móc hay dở chứng và khó dạy hơn trâu bò. Bây giờ mấy cái máy kéo Bông Sen cứ nằm chềnh ềnh ở đầu làng, thỏa sức han rỉ. Thỉnh thoảng người nào đó lại nói đùa một câu như bấu vào da thịt anh: "Ông chủ nhiệm sẵn của, đem một đống tiền bày chơi ở đầu làng". Mấy trăm héc ta canh tác nằm trong tay anh, có lúc anh thấy nó rộng mênh mông, có lúc lại thấy quá ư chật hẹp. Quả thật anh bối rối, quẩn quanh như thể vướng phải mớ dây khổng lồ. Cha ông xưa không có một tấc đất cắm dùi, nên không thể truyền dạy cho anh việc làm ăn trên vùng đất lớn. Ngày nay Nhà nước cũng chưa hề mở lớp dạy làm chủ nhiệm bao giờ. Vừa mới chân ướt chân ráo ở chiến trường về, xã viên đã tín nhiệm bầu anh. Anh hăm hở nhận cái chức mà chính mình chưa thể nào hình dung nổi. Anh cứ làm theo sự chỉ đạo chung chung của cấp trên. Anh cứ làm theo những bạn bè bên cạnh, khi hợp tác lên bậc cao, anh xuống làm đội trưởng, nhưng thực tình công việc vẫn cứ ngổn ngang chẳng hề giảm bớt. Anh vẫn chẳng được rảnh rang để vun vén cái gia đình nhỏ của mình. Ấy vậy mà xã viên vẫn chẳng thông cảm cho anh. Bầu thì bầu vậy thôi, nhưng có người vẫn ánh ỏi sau lưng, có người bốp chát ngay trước mặt. Họ chỉ việc làm ăn và thu vén cơ nghiệp riêng mà họ chẳng biết điều. Chị chủ nhà này chỉ là một gái góa, xưa cũng nghèo khó như anh mà nay bỗng trở nên đàng hoàng khấm khá. Có đến tận đây anh mới tin rằng những lời đồn đại quả chẳng sai. Vợ anh và mấy cô kế toán thường bàn tán với nhau rằng: "Từ ngày xây xong cái nhà, mụ ta diện như cô dâu mới cưới. Hết áo cánh mỡ gà lại đến áo cánh xanh lơ. Ở tai lúc nào cũng nhanh nhảnh đôi nụ đầm vàng. Đi làm cũng cứ diện quần phíp đen nhẫy chứ không chịu mặc quần thâm đất. Mỗi năm mụ ta thu được những hàng nghìn tiền sắn, còn những thứ tiền hoa quả không kể làm gì. Vừa mới xây nhà xong đã mua ngay cái xe đạp giá cao cho con đi học cấp 3". Nói đến sắn, vợ anh và các cô vẫn còn ấm ức như người thua vật. Cái năm mất mùa to, cả làng thi nhau vỡ hoang trồng sắn. Vợ anh sức yếu, bậm bạch cuốc được vài nhát đã chối tay. Các cô kia cũng không quen làm nặng. Lúc người ta ào ào cuốc hết mới cùng nhau tiếc ngẩn ngơ. Nhà chị Giang chỉ có một mình nhưng cuốc được đến ba sào. Chị ta vừa nhanh vừa khỏe lại hùng hục cuốc cả trưa, cả tối. Vợ anh sốt sắng góp ý với ban quản trị: "Đất của hợp tác mà nhiều người sấn sổ như ăn cướp, thế thì các ông còn lãnh đạo cái gì". Ban quản trị nghe thấy phải, bèn ra lệnh cho mỗi nhà chỉ được trồng ba trăm khóm sắn, gọi là cứu đói thôi, còn lại hợp tác sẽ quản lý. Nhiều nhà phải bỏ ra hàng nửa nương trả cho hợp tác. Nhưng hợp tác chỉ giữ được độ nửa tháng thì đàn trâu bò cũng của hợp tác đến ăn trơ trụi. Đất ấy lại mọc cỏ hoang. Riêng chị Giang vẫn giữ được cả nương, vì trước khi hợp tác đi đếm cây chị ta đã vội vàng nhổ hết những cây non, cây yếu để luống sắn thưa đuểnh đoảng. Vợ anh lại góp ý phải đo diện tích. Suýt nữa thì anh đã vác sào đi đo, nhưng công việc bận bịu nên anh nấn ná bỏ qua. Vậy là chị Giang cứ trồng cả ba sào, mỗi năm thu về tiền nghìn khiến nhiều người ngốt mắt. Vợ anh và các cô cho rằng đấy là con mụ tham lam ích kỷ. Đàn bà cũng tập tọe làm giầu. Anh cũng đồng tình như vậy. Càng nghĩ đến chị ta anh càng thấy mình thua thiệt quá nhiều. Đứa con gái đầu lòng của anh tốt nghiệp lớp bẩy năm ngoái, buộc lòng phải nghỉ học làm công điểm nuôi các em. Chẳng biết những đứa sau có đứa nào được học đến cấp 3. Mấy năm trước vải vóc còn nhiều, người ta vẫn ưu tiên cho chủ nhiệm. Vợ anh thường có quần áo đẹp nhất làng. Bây giờ hàng hóa khan hiếm, thứ gì cũng bán giá cao, anh không đủ tiền để chiều chuộng người vợ vốn ưa ăn diện của mình. Từ khi rục rịch khoán sản phẩm, sức khỏe của Thoa tự nhiên thất thường. Hôm thì đau lưng, hôm thì đau bụng, hôm thì sổ mũi nhức đầu. Mặt chị lúc nào cũng xìu xịu. Chẳng bù cho vài năm trước, khi hợp tác xã còn đặt trụ sở ở nhà anh. Mỗi khi có cuộc họp quản trị, mặt Thoa lại tươi hơn hớn. Chị cùng các cô thư ký, kế toán chuyện trò ran ran và bàn luận mọi việc như chính mình cũng ở trong ban quản trị. Hôm nay có thể Thoa ốm thật, nhưng anh Dậu chẳng kịp hỏi han cũng chẳng thiết nhắc nhở đám trẻ đang cãi nhau bên mâm bát. Bao nhiêu việc còn đang bối rối trong đầu anh. Việc chia ruộng cho các hộ vẫn còn bung bét. Sáng nay họp đội mới ngam ngám thôi mà xem ra đã lắm ý kiến trái chiều. Người chê chân ruộng trũng, người sợ khu đồng cao. Ngay cả Thoa cũng vậy. Thoa nằng nặc đòi nhận khu ruộng Đồng Sim màu mỡ chứ không muốn dính dáng vào khu Chuôm Mạch trũng sâu. Anh nói sơ sơ: Mình là đội trưởng, phải gương mẫu trước xã viên. Thế là Thoa xịu mặt và kêu ốm. Vợ anh còn vậy huống gì những xã viên khác. Thôi thì đành bốc phiếu, tùy sự may rủi, mình cũng đỡ mệt người. Việc còn bề bộn là thế, bên trên lại cứ thúc ép hoài. Đành rằng năng suất lúa đội anh có năm đạt gần hai tạ. Nhưng cũng có năm mất mùa, chỉ đạt tạ mốt tạ hai. Vậy anh nhận mức khoán tạ ba một sào là hợp lý. Ông chủ nhiệm đang ép anh tạ rưỡi, anh dại gì mà nhận như vậy. Gọi là khoán sản phẩm, xã viên còn mong nhận được chút ít cho mình. Họ mà thấy thiệt là họ chả làm đâu.

Anh Dậu đứng tần ngần trước cổng, nghĩ lan man như vậy. Bỗng nhiên anh nhận thấy không gian quanh mình ngào ngạt thứ hương thơm hăng hắc. Anh ngước nhìn lên, thì ra ngay trên đầu anh một ngọn cau đang trỗ. Lúc ấy anh mới sửng sốt nhìn thấy một hàng cau trồng sát bên hè. Mới cao quá đầu người mà cây nào cũng bạnh cổ ôm buồng hoa sắp nở. Có lẽ đây là lần đầu tiên anh nhận biết thứ hương thơm đặc biệt của hoa cau.

Đi vài bước nữa thì anh đứng sững lại. Nhà im vắng, nhưng hai cánh cửa mở rộng. Với ánh sáng của ngọn đèn dầu, anh nhìn rõ trong nhà. Trên chiếc bàn thờ nhỏ đặt dưới chân dung Hồ Chủ tịch, mấy nén hương đang tỏa khói. Dưới đất, người đàn bà kính cẩn chắp hai tay trước ngực, mắt ngước nhìn lên. Miệng lầm rầm khấn khứa. Chiếc khăn vuông quàng ngay ngắn trên vai để lộ vành khăn vấn có giải tóc đuôi gà giắt gọn bên trong. Chốc chốc, hai tay chị lại trịnh trọng vái xuống, mái đầu ngoan ngoãn cúi theo. Trước cảnh tượng ấy, anh Dậu đành lặng lẽ đứng chờ. Lòng anh bỗng nhiên bàng hoàng xao động. Vành khăn vấn làm cho anh phút chốc yếu mềm. Đã hai mươi năm rồi, anh không được nhìn thấy chỏm đầu tròn tròn, đựng trong vành khăn vấn duyên dáng của Giang, không được nhìn sát khuôn mặt trái xoan, với đôi mắt lá dăm sắc sảo và đôi lông mày cong vót ấy. Những năm năm chín, sáu mươi, con gái làng đua nhau chải bồng, cặp tóc. Riêng cô gái có đôi mắt sắc sảo, hay đăm đắm nhìn anh thì một mực mang vành khăn vấn trên đầu. Thực tình Giang vấn tóc trông rất đẹp, nhưng ai cũng chê là cổ lỗ. Riêng anh thì thấy nó chương chướng làm sao giữa đám các cô thi nhau khoe mái tóc dài. Có hôm đi chơi dưới trăng, anh đã sỗ sàng xổ tung mái tóc của Giang, giấu biến mảnh khăn đi. Vậy mà hôm sau Giang đã tìm đâu mảnh khăn khác và lại quấn tóc lên như cũ. Một hôm, hai người ngồi bên nhau, anh vừa âu yếm vuốt món tóc đuôi gà của Giang, vừa âu yếm nói: "Em cặp tóc đi, đừng vấn nữa". Im lặng một lúc, Giang mới thủ thỉ: "Anh xem vở chèo Tấm Cám chưa? Em thích cô Tấm quá!", vậy thôi chẳng nói gì đến đầu tóc của mình. Và Giang cứ vấn tóc đến bây giờ.

Thấy chủ nhà vẫn chìm sâu trong tâm tưởng, anh Dậu không nỡ đánh tiếng. Anh lặng lẽ lùi ra phía cổng. Lúc này, lúc Giang chắp tay khấn vái, sao trông Giang hiền lành đến thế. Anh tưởng như đó chính là cô Tấm đang mơ gặp tiên ông. Giá mà trong cuộc đời lúc nào Giang cũng hiền lành như vậy. Nhưng cô ta chẳng hiền. Từ một cô gái đanh đá, lắm lời, Giang trở thành người xã viên chua ngoa. Dù hai mươi năm rồi, anh vẫn nhớ như in cái buổi chiều Giang gay gắt mắng anh. Quả là anh có cho đội thủy lợi giải lao quá sớm, mỗi người mới gánh được mươi chuyến đất là cùng. Nhưng có lẽ vì cái nắng đầu hè gay gắt quá, và vì cô hàng nước cứ đon đả mời chào, khiến anh không cưỡng được. Nghỉ sớm một tý đã sao. Bao nhiêu người khác thấy anh hô nghỉ thì họ vỗ tay reo mừng. Còn Giang thì cứ đứng giữa trời nắng mà gào thét. Can ngăn chẳng được, Giang liền sa sả lên tiếng, nào là lười biếng, chưa làm đã sợ mệt, nào là làm ăn theo ngữ này thì rồi hợp tác có ngày sạt nghiệp. Đã đành Giang là cô gái đảm đang nhất đội, sức vóc mảnh mai thế mà vác trên vai hòn đất bằng cái thúng cứ chạy xoe xoe. Đành rằng Giang sợ đội mình thua kém đội khác, nhưng Giang quên rằng người yêu của cô là bí thư chi đoàn, là đội trưởng thủy lợi. Sao Giang nỡ té tát vào mặt anh trước đám đông. Đó là sự xúc phạm nặng nề đến danh dự của anh. Lẽ ra thấy anh giận thì Giang phải làm lành mới phải. Đằng này, chẳng hối hận thì chớ, Giang cũng vùng vằng giận lại anh. Mới yêu đương đã thế, là vợ rồi thì cô ta còn mắng nhiếc mình đến mức độ nào. Nghĩ vậy nên anh lẳng lặng dạm hỏi cô gái khác. Giá mà Giang xin lỗi anh một lời, hoặc tỏ một chút van lơn trong ánh mắt thì có thể anh cũng nghĩ lại rồi. Nhưng không. Gặp nhau đôi mắt ấy cứ chằng chằng nhìn anh như thể chính anh phải xin lỗi cô ta. Vậy là anh vội vàng cưới vợ. Thoa chính là cô gái bán nước hôm ấy. Thoa cũng đẹp gái, lại biết ăn diện hợp thời trang. Đặc biệt là Thoa ngoan ngoãn, anh bảo gì Thoa cũng nghe theo. Anh lấy làm mãn nguyện và nhìn Giang bằng ánh mắt đắc thắng. Hôm anh cưới, Giang cũng đi dự như mọi cô gái trong làng, chỉ khác là Giang không mặc áo mới, vẫn chiếc áo cánh nâu non nhuộm bùn và chiếc khăn vuông đen phủ trên vành khăn vấn như những ngày thường. Mắt Giang không lảng tránh mà thường nhìn xoáy vào anh, vừa như trêu ngươi, vừa như thách thức, lại vừa như giận hờn. Thái độ ấy khiến anh khó chịu. Cũng vì vậy mà em gái anh thề mấy lần rằng bắt gặp chị Giang khóc sướt mướt, anh cũng không tin. Anh không thể tin đôi mắt ấy đã vì anh mà nhỏ lệ. Anh vẫn thấy như nó đang giễu cợt, và thách thức anh. Vì thế nên mỗi khi nghe mong manh có người hỏi Giang làm vợ, anh đều cố tình săn đón để xem mặt mũi và dò hỏi lý lịch anh ta. Hình như anh vẫn sợ Giang sẽ lấy người chồng đẹp trai và tài giỏi hơn mình. Mấy anh chàng đến hỏi, Giang vẫn không thuận người nào. Mãi hai ba năm sau, lúc anh đã có con, Giang mới đột ngột lấy chồng. Người ấy không phải ai xa lạ, chính là Tân, bạn cùng lứa tuổi và cùng xóm với anh. Tân ho lao từ bé, nên người xanh xao gầy yếu đến nỗi các cô gái làng hầu như quên Tân. Nhiều người ngạc nhiên và tiếc cho Giang, một cô gái đẹp và đảm đang nhất làng sao lại lấy anh chồng như vậy. Nhưng anh thì anh cho rằng, như vậy là xứng đáng. Số kiếp trả thù sự kiêu ngạo của Giang. Dù vậy, anh vẫn thấy cần phải nói với Giang lời cuối cùng để cô ta hiểu ra điều đó. Ấy là lần vợ chồng Giang đến xin đất làm nhà. Với tư cách một ủy viên thường trực, anh vanh vách giải thích rằng: Chỗ cao, chỗ thoáng còn phải để xây dựng những công trình cho hợp tác. Sau này, lúc mà chồng Giang đã chết, lúc anh mới về phục viên, thấy Giang chỉ có một mẹ, một con ở căn nhà lụp xụp ngoài bìa làng, tự nhiên anh ân hận về điều đó. Bởi thế nên anh cứ bị cuốn hút đến ngôi nhà ấy. Chính anh cũng không biết cái gì sẽ xảy ra nếu không có bó rào chắn ngang trước mặt anh.

Rồi từ hôm ấy, mỗi hôm gặp mặt nhau, giọng Giang cứ gay gắt như mắng mỏ ai, như tức bực điều gì. Còn anh vì tự ái nên vội vàng xóa hết những tình cảm mới. Anh coi chị ta là người đàn bà ngu ngốc, người xã viên lắm lời, anh chẳng muốn dây dưa chuyện gì với chị ta. Thế nhưng anh vẫn không thoát tội. Hôm ấy, anh vừa vác cuốc ló ra khu đám mạ, đã nghe chị ta choang choác réo lên:

- Ông đội trưởng ơi! Ông làm những gì, ở đâu hay mải ở nhà đú đởn, còn mạ muội thì để thế này hả!

Thì ra số mạ xuân xã viên đi mót về ngâm dưới ao đã bị kẻ nào vớt trộm đến một nửa. Năm sáu cái bị trâu nghé lôi lên bờ ăn nham nhở và rũ tung tành khắp lối đi. Nhìn ao mạ, chính anh cũng xót ruột như muối bóp. Hôm trước phải huy động mãi xã viên mới đi mót chứ dễ dàng gì. Nhưng nghe những lời soa sỏa như hắt nước kia, anh không chịu được, bèn lên tiếng chống chế:

- Này, này! Đừng có ngoa ngoắt thế. Ai đú đởn?

- Không đú đởn thì diều nó tha, quạ nó mổ hay sao mà không ngó ngàng đến mạ. Những đứa không phải cúi vẹo xương hông thì không biết xót ruột đâu.

Anh chưa biết nói sao thì vợ anh bèn lên tiếng. Chắc là chị muốn bênh chồng. Hoặc là những lời nói ấy đã chạm vào da thịt chị. Có chồng bên cạnh nên giọng chị rắn giỏi và kẻ cả hơn:

- Nhà chị động mở mồm là diếc dáy người ta. Chị đi mót mạ thì đã lấy công điểm của hợp tác rồi. Mạ này không vướng gì đến chị.

Nghe vậy, Giang đang cúi xén mạ vội ngẩng lên. Mặt đỏ gay. Hai hàm răng chị ta nghiến lại. Tiếng nói dường như bị nén chặt, bây giờ thỏa sức bung lên:

- Lấy công rồi! Công mà không có thóc thì lấy để táng vào mả bố những đứa lười chẩy thây, chẩy xác ra à!

Và chị ta cứ thế thông thốc kể ra bách bệnh của những anh cán bộ cứ đứng dõng lưng chỉ tay năm ngón, rồi lại mang công sức của dân đổ xuống ao xuống hồ. Chị nguyền rủa những đứa chuyên môn hóng hớt lừa việc mà vẫn vác mặt lên vênh vênh như mặt thớt. Chị đào bới cả mồ mả tổ tiên, cả năm đời mười đời những thằng nào, con nào cướp công cướp sức của chị. Sự việc chẳng có gì to tát mà chị ta bù lu, bù loa như thể có ai vừa cướp giật của chị thứ của quí báu nào. Dĩ nhiên là vợ anh đành im lặng. Không thể đối đáp kịp mồm chị ta. Nhất là mỗi lời cay độc ấy cứ như một mũi tên cắm trúng vào chị. Chính vì vậy mà vợ anh càng bực bõ hơn. Tối về Thoa dấm dứt khóc với chồng: "Anh làm cán bộ bao nhiêu năm, chẳng mang lại tý lợi lộc gì cho vợ con. Nay lại chịu để nó làm nhục thế". Chính anh cũng tức bực thật sự. Càng ngày mụ ta càng quá đa quá đỗi. Không giáo dục thế nào thì rồi chả ai dám đứng ra làm đội trưởng nữa đâu. Phiên họp quản trị tối, Thoa sồn sồn đề nghị hợp tác giải quyết ngay cái vụ chửi bới quàng xiên ấy. Một cô kế toán gợi ý nên trừ công điểm. Cứ đánh vào kinh tế cho mụ ta kinh. Thế là vụ mùa ấy, chị Giang phải phạt ba chục công về tội chửi bới gia đình cán bộ. Anh Dậu cho như vậy là thỏa đáng. Nhưng không hiểu tại sao từ khi tuyên bố trước đội việc ấy, anh không dám giáp mặt Giang. Mỗi lần nhìn thấy chị ở xa anh lại lảng tránh. Chính vì thế mà việc đến gặp Giang hôm nay là việc nặng nề lắm với anh.

Anh Dậu đứng lâu lâu ở cổng, cố nén những cảm xúc bộn bề trong lòng. Cuối cùng anh quả quyết bước vào sân. Lúc ấy chị Giang ngồi trên hè đang nghiêng đầu chải tóc, thanh thản nhìn vầng trăng khuyết lơ lửng trên ngọn cau nhà. Anh Dậu đánh tiếng rõ to như thể chưa nhìn thấy gì cả.

- Có ai ở nhà không?

Hình như chị Giang giật mình, hơi hoảng hốt. Rồi chị cũng nói to:

- Ối dà! Ông đội trưởng. Hôm nay ông đến chơi thì có lẽ mai bão mất.

- Chơi bời gì. Có công việc tôi mới đến. Sáng nay họp đội bàn việc chia ruộng khoán sản phẩm, sao bà không đi họp lại cho đứa nhóc con đi. Tham lam vừa vừa thôi. Ai ăn cho mà làm lắm thế.

- Làm thế mà cũng chẳng thấy ế hạt nào. Có con thì phải nhờ con chứ sao. Tôi đã dặn nó kỹ rồi. Nó mà nói sai ý tôi thì khắc có roi.

- Nhưng chúng tôi không họp với trẻ con. Với lại quyền lợi sát sườn thế, không đi họp rồi sau này lại ngoạc mồm mắng nhiếc người ta. Chiều nay tôi đã đến đây, nhưng bà đi vắng. Tôi phải đến tận nhà bảo cho bà biết, sáng mai họp đội để bốc phiếu nhận ruộng. Bà mà không đến thì sau này đừng có trách ai.

Thấy chị Giang im lặng, anh Dậu dấm dẳn nói tiếp như muốn phân bua sự vất vả của mình:

- Việc chia bôi có phải dễ đâu. Giá mà đặt lên đĩa cân được thì mới dám nói đều nhau. Đằng này nó là ruộng đất. Chỗ cao, chỗ thấp, chỗ tốt, chỗ xấu. Thế nào chả có người hơn kẻ thiệt. Vậy mà đội mới ướm thử, đã thắc mắc ồn ồn cả lên. Mai cứ mời các ông các bà đến mà bốc phiếu. Được đâu chịu đấy. Chẳng ai phải tỵ nạnh với ai.

Chị Giang cất giọng khe khẽ:

- Các ông cứ việc bốc phiếu với nhau. Tôi nhận khu ruộng Chuôm Mạch.

Anh Dậu nhướn mày, trừng trừng nhìn người đàn bà đang quấn tóc, như thể không tin vào những lời chị ta vừa nói:

- Bà nói thật hay nói bỡn? Mấy hôm nay tôi đang đau đầu vì khu ruộng lầy thụt ấy đấy. Tôi đã phải chia cho mỗi người một mảnh, thế mà khối người vẫn dẫy nẩy lên.

- Vậy thì ông cứ chia cả khu ruộng ấy cho tôi. Tôi nhận 5 sào. Coi như hai lao động.

Thấy giọng chị Giang nghiêm nghiêm, anh Dậu đâm ra khó nghĩ. Lặng im một lát, rồi anh cũng lấy giọng nghiêm trang như khuyên nhủ:

- Tùy bà. Nếu bà muốn lấy khu ruộng ấy thì tôi cũng chia. Nhưng bà thử nghĩ kỹ xem. Làm được hột thóc ở khu ruộng ấy không phải ít công phu đâu. Nhận rồi sau này thiệt thòi lại sa sả mắng nhiếc chúng tôi là không được.

Chị Giang đã quấn xong mái tóc, lẳng lặng đứng lên đi lại phía bờ hè. Vẫn đứng quay lưng về phía người đội trưởng, chị nói:

- Thì ra các người vẫn nghĩ rằng tôi sợ thiệt mà lắm lời ư? Phải! Tại tôi ngu dốt nên vụng ăn vụng nói. Ấy nhưng, thế mới biết ở đời cũng lắm đứa cạn lòng. Ông thử nghĩ xem, tôi đã nói gì để được lợi cho riêng cái thân tôi nào - Rồi chị quay ngoắt lại, dằn giọng xuống - Nói thật với ông, tôi làm ruộng từ lúc còn để chỏm ở cái làng này, sao tôi lại chẳng biết khu ruộng Chuôm Mạch ấy lầy thụt thế nào; chua mặn thế nào, lại lắm đỉa như giòi như bọ. Tôi cũng biết nhiều đứa sợ nó như sợ hủi. Ấy vì thế mà năm nào lúa cũng xấu lem tem, nhưng nó là ruộng của hợp tác, là miếng ăn của trăm người, một mình tôi xót ruột cũng chẳng được. Bây giờ ông định xắn nó ra cho mỗi người một miếng, chắc rồi ai cũng chỉ bâu vào miếng nạc, miếng mỡ. Còn cái miếng xương xẩu ấy rồi lại đến nuôi cỏ hoang thôi. Phải! Tôi cũng biết làm được hạt thóc ở khu ruộng ấy chẳng ít công phu. Nhưng tôi làm cố được. Chẳng mượn ai lo cho tôi. Mặc xác tôi. Mong ông cứ công tâm mà làm việc như cái hồi cắt cho tôi mảnh đất này và như cái hồi phạt vạ tôi nữa.

Anh Dậu lặng nghe, lòng bỗng hoang mang bối rối. Rồi anh từ từ đi lại gần hè nơi chị Giang đang đứng. Giọng anh vừa khó nhọc, vừa nỉ non:

- Thôi thôi, tôi lạy bà. Bà dừng nhắc lại chuyện ấy. Chuyện đã qua rồi, bà cứ giận tôi mãi ư?

- Tôi giận ông sao được. Nhưng tôi cứ giận những đứa làm chỉ được gang tay mà ăn tày sải quặt; những đứa bóc ngắn cắn dài; những đứa không muốn nhọc xác mà chỉ vội ham thích giàu sang.

Những lời ấy trút ra ào ào như xối nước. Nó giống hệt như những lời Giang mắng nhiếc anh trong buổi chiều nào. Bây giờ anh không thấy tự ái mà bỗng thấy lòng mình bồi hồi xao xuyến như vừa tìm thấy một kỷ niệm đẹp trong thời yêu đương. Anh bần thần nhìn Giang, và không biết cái gì xui khiến để anh thốt ra những lời mà có lẽ anh chưa kịp nghĩ:

- Giang! Tôi xin Giang đừng làm ầm lên như vây. Bây giờ tôi mới hiểu Giang. Phải! Bấy nay tôi cứ lẫn lầm...

Hình như anh còn định nói gì thêm nữa, nhưng không nói được. Hai người cùng lặng im. Lúc ấy vầng trăng khuyết cứ dõi tỏ ngời ngời, mách bảo cho anh Dậu nhìn thấy đôi lông mày cong vót đang nhíu lại gần nhau và hai giọt nước mắt lóng lánh từ từ lăn trên gò má người đàn bà đứng tuổi. Những giọt nước mắt khiến anh thấy lòng mình nhức nhối. Sao hai mươi năm trước anh không thể tin rằng đôi mắt ấy đã nhỏ lệ vì anh.

Họ vẫn đứng lặng thinh như vậy. Trên đầu họ những tàu cau đang xạc xào vẫy gió. Hương hoa cau hăng hắc, ngòn ngọt ùa vào không gian. Đột ngột, chị Giang cất tiếng gọi con lanh lảnh:

- Nga ơi! Về học bài, con!

Từ nhà bên, con bé trả lời đầy vẻ ngạc nhiên:

- Ơ! Mẹ mơ ngủ hay sao. Con đang nghỉ hè cơ mà.

Câu nói của con bé dường như làm cả hai người cùng tỉnh lại. Chị Giang không giấu được vẻ bối rối trên nét mặt. Anh Dậu thì giật mình vội vàng đi nhanh ra cổng. Vừa đi, anh vừa vò nát nắm phiếu chia ruộng vẫn để sẵn trong túi áo. Anh vứt chúng rải rác trên dọc đường đi. Sau vài phút vừa rồi nó bỗng trở nên vô nghĩa. Ngày mai, nhất định anh sẽ chia ruộng cho xã viên bằng cách thương lượng với nhau. Anh tin rằng sẽ không ai tỵ nạnh thiệt hơn gì nữa. Đáng lẽ anh phải về nhà, nhưng anh quả quyết đi thẳng lại nhà ông chủ nhiệm. Anh sẽ nhận ngay mức khoán tạ rưỡi một sào và anh cứ tin rằng vụ mùa này năng suất lúa sẽ còn cao hơn thế.

Trên con đường làng lổ trổ những vệt trăng, anh Dậu mải mốt bước những bước dài. Đến đâu anh cũng nhận thấy thứ hương thơm hăng hắc, ngòn ngọt của hoa cau. Bỗng anh thấy thẹn thùng vì mãi đến bây giờ mới nhận ra thứ hương thơm da diết, diệu kỳ của làng quê.

 Viết tại quê nhà, thôn Lương Quan hè 1980

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 10/06/2019

Tin khác

CHÙM PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NHÀ VĂN PHẠM XUÂN NGUYÊNCHÙM PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NHÀ VĂN PHẠM XUÂN NGUYÊN
THÁI BÁ LỢI VỚI TIỂU THUYẾTTHÁI BÁ LỢI VỚI TIỂU THUYẾT
NHÀ VĂN ĐỖ BẢO CHÂUNHÀ VĂN ĐỖ BẢO CHÂU

Tin mới nhất

NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ
NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH VỚI ĐỒNG NGHIỆP QUỐC TẾ

Tôi có cảm nhận rất rõ ràng là nhà thơ TNM rất hiểu văn học Đài Loan văn học Hoa Lục và văn học phương Đông nói chung, những mối quan hệ tương tác của các nền văn học này trong quá trình giao thoa và phát triển...

Sách mới

Bài toán khó

viết bởi: Triệu Hồng

Bài toán khó
Bóng Mẹ

viết bởi: Quang Hoài

Bóng Mẹ
Gỗ thần

viết bởi: Nhà xuất bản

Gỗ thần