NHÀ VĂN NGỌC TRAI

Trong giới nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện đại nhà văn Ngọc Trai được đánh giá là một trong những chuyên gia khảo cứu sâu và tài hoa về các nhà văn, nhà thơ lớp trước...

Viết bởi: Nhà xuất bản

 LỜI NHÀ XUẤT BẢN

 Trong giới nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện đại nhà văn Ngọc Trai được đánh giá là một trong những chuyên gia khảo cứu sâu và tài hoa về các nhà văn, nhà thơ lớp trước như: Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Anh Thơ, Nguyễn Minh Châu…

Nhà văn Ngọc Trai tên khai sinh là Tôn Nữ Ngọc Trai, sinh ngày 12/03/1933, bà còn có bút danh là Hồng Phương, Hoài Phương. Nhà văn Ngọc Trai đã tích cực tham gia hoạt động sáng tác, nghiên cứu văn học từ khi mới hai mươi tuổi. Bà đã trải qua nhiều cương vị công tác: cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu triết học, nguyên Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ, Phó Giám đốc Quỹ văn học Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà văn Ngọc Trai

Quá trình công tác hơn sáu mươi năm qua nhà văn Ngọc Trai đã công bố những công trình, tác phẩm chính như: Nhà văn Nguyễn Tuân, con người và sự nghiệp (nghiên cứu, 1992), và hai tập Tiểu luận phê bình văn học (1995) có giá trị tư liệu cao. Đặc biệt phần công trình viết chung của nhà văn Ngọc Trai, mới toát lên tinh thần khoa học nhân văn và lí tính của bà. Những công trình viết chung tiêu biểu phải kể đến: Mười năm văn học chống Mỹ (1972), Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát triển (1993), Tác phẩm và dư luận (1997), Nhà văn hiện đại tỉnh Thanh Hóa (2000), Các nhà thơ nữ Việt Nam (2001), Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tập 21 (2002). Ngoài ra nhà văn Ngọc Trai còn viết nhiều bài phê bình, tiểu luận in trên các báo, tạp chí chuyên ngành.

Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xem xét nghiên cứu kĩ toàn bộ hành trình viết lí luận phê bình của nhà văn Ngọc Trai và thống nhất tập hợp những công trình, chuyên luận, tiểu luận của bà đã xuất bản trước đây để đưa vào danh mục sách Nhà nước đặt hàng năm 2014, với tiêu đề Ngọc Trai - Tuyển lí luận phê bình.

 Tuyển lí luận phê bình Ngọc Trai tập trung nghiên cứu về tư tưởng nhân dân của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi bằng cái nhìn đương đại và có nhiều kiến giải độc đáo nhằm khẳng định tính bất tử của tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng thân dân gần dân của Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử dân tộc và góp phần soi sáng tư tưởng văn hóa Việt Nam đương đại. Mảng tiếp theo trong Tuyển lí luận phê bình, nhà văn Ngọc Trai khảo cứu về hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh trong thơ ca cách mạng miền Nam với một thái độ khoa học và thành kính, làm sáng rõ tâm hồn cao đẹp cả cuộc đời Bác đã hi sinh cho dân tộc, cho hạnh phúc của Con Người. Và trong Tuyển lí luận phê bình, nhà văn Ngọc Trai đã dành khá nhiều bài viết về các nhà văn Việt Nam hiện đại trong thế kỉ XX như: Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Đào Vũ, Nguyễn Sáng, Lê Anh Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Mạnh Tuấn. các nhà văn nói trên được tác giả Ngọc Trai dụng công tìm hiểu khảo sát, nghiên cứu bằng một ngòi bút tinh tế và tràn ngập tình cảm thương yêu. Dưới góc nhìn của bà, các nhà văn Việt Nam hiện lên như những mẫu hình giàu cá tính sáng tạo, giàu tính chiến đấu và tạo thành bức tranh nhiều phong cách biểu hiện trong sáng tạo văn học nghệ thuật.

Nhà văn Ngọc Trai còn nghiên cứu sâu về mảng lí luận phê bình trong giai đoạn văn học Đổi mới. Để tiến sâu vào mối quan hệ nghiên cứu liên ngành, nhà văn Ngọc Trai còn công bố một chuyên luận về Thực trạng văn hóa việt Nam, để có thêm cơ sở tư biện cho việc nghiên cứu lí luận phê bình tiệm cận chân lí học thuật.

Xuất phát từ những ý nghĩa về lí thuyết và thực tiễn như vậy, Nhà xuất bản Hội Nhà văn xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Tuyển lí luận phê bình Ngọc Trai.

Nhà xuất bản Hội Nhà văn xin tiếp thu những ý kiến đóng góp phê bình của toàn thể bạn đọc.

Xin trân trọng cảm ơn.

 Nhà xuất bản Hội Nhà văn

 

I. TÌM HIỂU NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI…!

 Người ta tìm hiểu Nguyễn Trãi về phương diện nhà văn, nhà chính trị, nhà chiến lược quân sự, v.v… Nhưng nói chung, dù nghiên cứu về phương diện nào mọi người cũng đều xoay quanh một tư tưởng cơ bản - chủ nghĩa yêu nước và tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi. Là nhà văn ông tuyên truyền nhân nghĩa, về chính trị ông chủ trương chính sách nhân nghĩa, ngay trong chiến lược quân sự ông cũng dựa vào nhân nghĩa, lấy “đại nghĩa”, lấy “chí nhân” làm đường lối vận động kháng chiến cứu nước. “Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi thực chất là tư tưởng nhân dân” (Phạm Văn Đồng). Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi là nội dung chủ yếu, là hạt nhân và là cơ sở cho toàn bộ tư tưởng chính trị và đạo đức của ông, là biểu hiện của thế giới quan tiến bộ có nhân tố duy vật tự phát của ông.

Trong bài này chúng tôi muốn tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi để góp phần đi sâu tìm hiểu nhà tư tưởng lớn của dân tộc.

Bao trùm lên toàn bộ tư tưởng Nguyễn Trãi là nhận thức của ông về vai trò và sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng nhân dân là biểu hiện tập trung nhất, sáng tỏ nhất cho nhân tố duy vật của thế giới quan Nguyễn Trãi. Ông là người đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nước ta đã đề cập đến vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử. Do ở điểm này Nguyễn Trãi đã tiếp cận với những tư tưởng tiên tiến, duy vật của nhân dân, vượt xa giai cấp ông.

Theo Nguyễn Trãi, nhân dân gồm những ai? - Khổng Tử nói: “dân có sức mạnh lật đổ thuyền”. Mạnh Tử nói: “dân vi quý” là để đối lập lại với “quân vỉ khinh” khái niệm dân ở đây vẫn còn khá rộng, nó bao gồm cả quan lại và mọi tầng lớp nhân dân kể cả địa chủ thương nhân… Nhân dân mà Nguyễn Trãi thương xót chủ yếu là những “dân đen”, “con đỏ” là những kẻ bị bóc lột vì nạn phu phen tạp dịch, là “đám lưu dân nhóm họp” là những người dân ở “chốn hương thôn, trong thôn cùng xóm vắng”.

Đối với giai cấp phong kiến trước kia và cả sau này, nhân dân chỉ là đối tượng chăn dắt, là đất sét trong tay anh hùng; tư tưởng “kẻ lao tâm trị người lao lực, kẻ lao lực bị người trị” là tư tưởng phổ biến của giai cấp phong kiến thống trị. Còn đối với Nguyễn Trãi thì nhân dân lại có vai trò quan trọng. Cố nhiên là do giới hạn của điều kiện lịch sử ông không thể đạt tới nhận thức khoa học về vai trò quần chúng nhân dân sáng tạo ra lịch sử như chúng ta ngày nay, nhưng so với giai cấp phong kiến, với các nhà tư tưởng phong kiến thì tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi là một sự tiến bộ rất lớn.

Nguyễn Trãi khẳng định dứt khoát vai trò quan trọng của nhân dân trong mọi “việc lớn”. Nguyễn Trãi nói “làm việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc”, “có nhân nghĩa mới được lòng dân, được nhân dân ủng hộ. Nhân nghĩa thực tế là đứng về phía nhân dân, vì nhân dân mà làm việc như Nguyễn Trãi nói: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Tư tưởng nhân nghĩa chính là biểu hiện tư tưởng trọng dân và yêu dân, là biểu hiện nhận thức của Nguyễn Trãi về vai trò to lớn của nhân dân trong xã hội.

Nguyễn Trãi nói: “mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”. Trên cơ sở nhận thức đó Nguyễn Trãi hết sức tin tưởng nhân dân và dựa vào nhân dân. Khi bị giam lỏng ở thành Đông Quan để chờ thời cơ cứu nước, mặc dù có bao nhiêu cuộc vận động kháng Minh của quý tộc nhà Trần ông vẫn không theo vì ông thấy rõ sự cô lập của họ, thấy họ không tập hợp được đông đảo nhân dân. Đến lúc nghe tiếng Lê Lợi, hiểu rõ tính chất quần chúng của cuộc khởi nghĩa ấy, ông đã không quản khó nhọc băng ngàn vượt núi tìm đến Lam Sơn theo Lê Lợi mưu đồ việc lớn. Đúng như vậy, nghĩa quân Lam Sơn dưới mắt Nguyễn Trãi lại “tụ tập bốn phương manh lệ” là “đám lưu dân nhóm họp”. Tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, biết dựa vào nhân dân, Nguyễn Trãi đề ra phương châm chiến lược, của nhân dân là: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo”, “dám lấy yếu chống mạnh lấy ít địch nhiều” mà vẫn đi đến thắng lợi vẻ vang. Miêu tả tinh thần chiến đấu, chiến công vẻ vang của nghĩa quân, ông không chỉ nói đến chiến tích của tướng tá mà còn chú ý đến dũng khí của chiến sĩ.

“Sĩ tốt ra oai tỉ hồ

Tướng thần đủ mặt trảo nha”

Nhân dân không những đóng vai trò quyết định trong chiến tranh mà còn quyết định cả thế hưng vong các triều đại; trong bài “Chiếu cấm các quan đại thần, tổng quản cùng các quan ở viện sảnh cục tham lam lười biếng”, Nguyễn Trãi đã diễn đạt một cách tập trung và sáng tỏ vai trò của nhân dân trong sự kiện chính trị. Nguyễn Trãi phân tích nguyên nhân làm cho các triều đại Trần, Hồ sụp đổ, quân Minh suy yếu hoàn toàn không phải do mệnh trời mà chủ yếu là do áp bức, bóc lột nhân dân quá đáng nên bị mất lòng dân, bị dân căm ghét. Tóm lại Nguyễn Trãi thấy rất rõ sức mạnh của nhân dân trong đấu tranh bạo lực: đánh đuổi ngoại xâm hay lật đổ các triều đại phản động. Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò và sức mạnh của nhân dân. Trong đấu tranh chính trị Nguyễn Trãi đã phát triển nhiều ý kiến hay về vấn đề thời cơ.

Trước hết ta thấy thuyết tùy thời là một học thuyết rất phổ biến của nhà nho. Nhưng thuyết tùy thời của nhà nho căn bản có tính chất duy tâm, định mệnh về mặt triết học và cơ hội chủ nghĩa về mặt chính trị. Thời cơ đối với họ chỉ là vấn đề mệnh trời, là thiên mệnh. Theo lý học của Tổng nho, lịch sử chia ra nhiều thế, vận, hội, sự khủng hoảng của xã hội, sự thịnh suy của các triều đại tùy vào thế, vận, hội ấy. “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Do vậy kẻ gặp thời thì thành công, kẻ không gặp thời thì thất bại. Thuyết tùy thời ấy rất tiêu cực. Nhiều nho sĩ dựa vào thuyết đó để chủ trương cơ hội, khi thuận lợi thì xuất, khi khó khăn thì lấy cớ không gặp thời để tháo lui - xử; - Khi thành công, thắng lợi, cho là gặp thời, nếu thất bại, hỏng việc lại đổ lỗi cho là không gặp thời. Đặng Dung một quý tộc yêu nước nhà Trần, sau khi thất bại trong việc mưu đồ chống Minh đã làm bài thơ nói lên một cách đầy đủ quan niệm duy tâm phong kiến về vấn đề thời cơ:

Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điểu thành công dị

Vận khứ anh hung ẩm hận đa”.

Với Đặng Dung “Thế sự du du”, “Thiên địa vô cùng” huyền bí không biết đâu mà lường, do đấy sự thành bại của con người không phải do con người quyết định, gặp thời thì kẻ “đồ điểu” vẫn thành công, hết thời thì anh hùng cũng đành nuốt hận.

Chính vào lúc Đặng Dung than phiền là “vận khứ” và “ẩm hận đa” thì Nguyễn Trãi cùng với Lê Lợi phát động nhân dân mưu đồ đại sự và họ đã đạt đến thắng lợi vẻ vang. - Vì sao trong cùng một hoàn cảnh mà người này lại bị “vận khứ” người khác lại gặp thời cơ? - Lịch sử đã chứng minh rất rõ điều đó. Chính vì Nguyễn Trãi và Lê Lợi đã hiểu thời cơ tức là biết dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Thời cơ theo Nguyễn Trãi không phải là mệnh trời mà là lòng người, lòng dân. Được lòng dân thì yếu sẽ chuyển thành mạnh, mất lòng dân thì mạnh cũng trở thành yếu, dân ủng hộ, dân theo thì thành công, ngược lại, dù tài giỏi đến đâu cũng thất bại.

Nguyễn Trãi giải nghĩa chữ “thời” như sau: - “nghĩa chữ “thời” thực to tát sao. Ngày trước, khi mới sang đánh Giao Chỉ, tướng thần vâng mệnh đi đánh kẻ có tội, bấy giờ là một thời vậy. Ngày nay vận thời tuần hoàn, đi rồi lại lại, khi ngài phụng mệnh sang đây được tiện nghi làm việc, nếu ngài biết theo chiếu thư của Thái Tông cho lập con cháu họ Trần để khôi phục nước tôi, thì bấy giờ lại là một thời”.

Trong một bức thư dụ Vương Thông, Nguyễn Trãi phân tích cho quân Minh thấy, chúng có sáu điều phải thua, trong đó ta thấy hai điều đáng để ý:

- Đông dụng can qua, hàng năm đánh dẹp, dân sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.

- Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc. Quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt khốn khổ, tự chuốc lấy bại vong. Đó là điều phải thua thứ sáu.

Trong một bức thư khác gửi Vương Thông ông phân tích: “tôi cho việc ngày nay với việc ngày trước khác nhau. Họ Hồ thì dối trời hại dân, mà tôi thì kính trời thuận dân, lẽ thuận nghịch không giống nhau là một. Quân của họ
Hồ trăm vạn người trăm vạn lòng, mà quân của tôi bất quá vài mươi vạn, nhưng ai cũng một lòng, không giống nhau là hai”.

Người ta vẫn có thể tìm thấy trong quan niệm của Nguyễn Trãi không ít ảnh hưởng duy tâm phong kiến; song qua những lời lẽ trên, ta thấy mặc dù Nguyễn Trãi có nói đến “vận trời”, “lẽ tuần hoàn” nhưng chung quy nội dung chủ yếu của chữ thời cơ của Nguyễn Trãi là lòng dân, nó xuất phát từ nhận thức của Nguyễn Trãi về vai trò quyết định của nhân dân, nên về mặt chính trị nó biểu lộ lập trường dứt khoát đứng về phía nhân dân và về mặt triết học nó mang nhân tố duy vật.

Không những Nguyễn Trãi nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân trong đấu tranh chính trị, mà phần nào ông còn thấy được nhân dân là kẻ sáng tạo nên của cải vật chất. Ông viết: “Thường nghĩ những quy mô lớn lao lộng lẫy, đều là sức lao khổ của nhân dân”.

Trong lúc các nho sĩ khác nói “ơn vua lộc nước” thì Nguyễn Trãi tuy có nói “ơn vua” đồng thời còn nói đến lộc của dân: “ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”.

Trong hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XV, và ở một nho sĩ quý tộc như Nguyễn Trãi mà có được nhận thức tiến bộ ấy, quả thật đáng quý. Tóm lại ta thấy tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi rất có hệ thống và nhất quán. Nó thể hiện trong lập trường, quan điểm và chi phối mọi chủ trương mọi hành động của Nguyễn Trãi, nó chính là cơ sở thế giới quan duy vật tự phát của Nguyễn Trãi.

*

*               *

Vậy do đâu mà Nguyễn Trãi có được thế giới quan có nhân tố duy vật và tiến bộ ấy?

Sự hình thành thế giới quan Nguyễn Trãi dựa trên những nhân tố chủ yếu sau đây:

- Yếu tố trước tiên là sự giải phóng nông nô và nô tỳ. Thời Lý Trần chế độ nô tỳ còn phổ biến, một bộ phận quan trọng của nhân dân chưa được giải phóng về mặt nhận thức, chưa thoát khỏi quan hệ lệ thuộc kiểu nô lệ gia trưởng. Đến cuối thế kỷ XIV, với sự phát triển kinh tế trong nước, phong trào đấu tranh của nông nô và nô tỳ lên cao, lan rộng, tiếp theo đó là cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, kinh tế lãnh chúa cùng với chế độ nô tỳ và nông nô mới căn bản bị thủ tiêu, nhân dân được giải phóng, - đó chính là tiền đề phát triển ý thức dân tộc và tư tưởng nhân dân.

- Tuy nhiên yếu tố căn bản nhất là Nguyễn Trãi sống trong một thời kỳ có nhiều biến động lịch sử quan trọng, trong đó vai trò của nhân dân trực tiếp quyết định mọi sự biến, thể hiện dưới những hình thức cụ thể và nổi bật nhất. Nguyễn Trãi đã biết rõ sự thất bại của Hồ Quý Ly. Với một triệu quân chính quy trong tay mà vì mất lòng dân nên Hồ Quý Ly vẫn thất bại. Chính Hồ Quý Ly cũng phải nói: “Không sợ giặc, chỉ sợ dân không theo”. Nguyễn Trãi đã chứng kiến sự thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa do quý tộc cầm đầu cũng chỉ vì không dựa được vào nhân dân. Ông đã từng sống cuộc đời khổ cực của người dân mất nước ở thành Đông Quan. Cùng đồng cam cộng khổ phần nào với nhân dân cho nên ông thông cảm được với nhân dân. Mặt khác, sống gần nhân dân Nguyễn Trãi đã tiếp thu được những tư tưởng lành mạnh của nhân dân để hình thành nên quan điểm đạo đức tiến bộ, thiết thực.

Điều quan trọng và có tác dụng quyết định hơn hết là Nguyễn Trãi được chứng kiến sức mạnh của nhân dân trong cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc của Lê Lợi. Đây là cuộc chiến tranh độc nhất vô song trong lịch sử phong kiến nước ta đứng về phương diện tiêu biểu cho tính nhân dân. Có thể nói nguyên nhân chủ yếu của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên do Trần Hưng Đạo đứng đầu là nền độc lập bị xâm phạm, quyền lợi các giai cấp từ trên xuống dưới bị đe dọa “Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc của các ngươi cũng mất”. Còn nguyên nhân chủ yếu của cuộc khởi nghĩa Lê Lợi là không những độc lập dân tộc bị xâm phạm mà còn vì nhân dân bị áp bức bóc lột thậm tệ: nào phải lên núi đào vàng, xuống biển mò ngọc, “sưu dịch nặng nề” đến nỗi “trong làng xóm cửi canh bỏ phế”. Cho nên cuộc khởi nghĩa Lê Lợi vừa là cuộc kháng chiến chống xâm lược vừa có tính chất một cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại bọn phong kiến tàn bạo. Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên do quân đội nhà nghề của triều đình cùng với nhân dân tiến hành; còn cuộc kháng chiến của Lê Lợi do người lãnh tụ nhân dân tập hợp đông đảo nhân dân lao động đánh đổ ách thống trị của bọn phong kiến ngoại quốc.

Chính trong cuộc chiến tranh nhân dân này đã xuất hiện nhân vật lịch sử vĩ đại Nguyễn Trãi. Hoàn cảnh lịch sử đã tạo nên Nguyễn Trãi cùng với tư tưởng tiến bộ của ông. Không phải bằng lý luận, bằng suy nghĩ lôgic mà bằng thể nghiệm bản thân từ thực tiễn đấu tranh sinh động Nguyễn Trãi đã rút ra chân lý: “Ủng hộ người nhân là dân mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”.

Cuộc đời Nguyễn Trãi không phải bắt đầu đã là nhà trước thuật, nhà học giả mà trước hết ông là nhà chính trị, nhà ái quốc vĩ đại rồi từ hoạt động chính trị, từ cuộc đấu tranh cứu nước, kinh nghiệm sống đã hun đúc ông trở thành nhà văn, nhà thi sĩ lớn, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc. Về sự tiến bộ của tư tưởng cũng như sự phong phú sâu sắc của học thuật ông đều đạt đến đích cao, vượt qua tất cả những người đương thời.

Xưa nay những nhà tư tưởng lớn sở dĩ họ lớn không phải vì tính kỳ dị, khác người của họ, hay vì khối óc thông minh đặc biệt của họ mà như Mác nói: “Những nhà triết học là sản phẩm của thời đại họ, của dân tộc họ, thời đại và dân tộc mà những nghị lực tinh túy nhất, quý báu nhất, khó thấy nhất được biểu đạt trong những tư tưởng triết học”. Đối với Nguyễn Trãi ta cũng có thể nói như vậy, những tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi không phải đột nhiên, do những nhân tố ngẫu nhiên chỉ có liên quan đến cá nhân ông - mà nó có tính tất yếu, tính thời đại, nó là tinh hoa, là kết tinh của tư tưởng thời đại. Do đấy chỗ vĩ đại của tư tưởng Nguyễn Trãi còn ở tính tiêu biểu, tính chất điển hình cho truyền thống tư tưởng nhân văn, tư tưởng đạo đức của dân tộc.

Như đã nói ở trên, Nguyễn Trãi sinh ra trong một giai đoạn chuyển biến từ chế độ phong kiến lãnh chúa có tính chất phân quyền sang tập quyền, giai đoạn tan rã của chế độ nô tỳ và nô lệ - giai đoạn vận động nông dân chống ngoại xâm, giai đoạn trưởng thành của ý thức dân tộc và của nền văn hóa dân tộc sau thời kỳ xây dựng nền độc lập. Tư tưởng Nguyễn Trãi là một cái mốc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, là sự tổng kết và nâng cao tư tưởng yêu nước thời Lý Trần, là tấm gương sống của lịch sử đương thời.

Nguyễn Trãi là một nhà nho phong kiến, là một nhà trí thức phong kiến - ý thức hệ của ông là ý thức hệ phong kiến - điều đó thật rõ ràng không cần tranh luận. Nhưng nói Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng của giai cấp phong kiến, tư tưởng của ông mang tính chất phong kiến, điều đó không mâu thuẫn gì với ý kiến cho rằng ông là một trí thức đại biểu cho nhân dân, cho dân tộc, là người phát ngôn những tư tưởng và khát vọng của nhân dân, vì giai cấp phong kiến mà ông tiêu biểu đang đóng vai trò tích cực trong lịch sử. trong quyển “Chúng ta từ bỏ di sản nào” Lê-nin có nói: “Không nên quên rằng ở thế kỷ XVIII, vào thời kỳ những nhà bách khoa toàn thư (mà dư luận chung thường xếp vào hàng những người dẫn đường cho giai cấp tư sản) khi mà những nhà trí thức khai hóa nước ta vào hồi những năm 40 - 60 viết, thì tất cả những vấn đề xã hội chung quy đều chỉ là vấn đề đấu tranh chống chế độ nông nô và những tàn tích của nó. Hồi đó những quan hệ mới về kinh tế và xã hội cũng như những mâu thuẫn của quan hệ đó, đều chỉ mới còn là phôi thai. Cho nên vào hồi đó, ở những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản chưa thấy biểu lộ một tính chất ích kỷ nào cả; mà trái lại, ở phương tây cũng như ở Nga, họ đã thực tin tưởng vào sự phồn vinh chung và thành thực mong ước điều đó; thực ra, họ không thấy (và trong một mức độ nào đó, họ chưa hề thấy) được những mâu thuẫn của cái chế độ đã phát sinh từ trong lòng chế độ phong kiến”.

Với Nguyễn Trãi ta cũng thấy như vậy, trong điều kiện xã hội của mình (như đã phân tích ở trên) Nguyễn Trãi thành thật tin tưởng rằng có thể xây dựng một xã hội phong kiến “nhân nghĩa” làm nguyên tắc chỉ đạo mọi chính sách, mọi quan hệ xã hội - một xã hội mà từ vua đến quan đều “lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ”, đều lấy việc phục vụ nhân dân làm đầu. Ông thành thực mong muốn xây dựng một xã hội phong kiến công bằng, bác ái trong đó nhân dân được ấm no hạnh phúc “khiến trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu”. Nhưng do chỉ là một ước mơ không tưởng, xã hội ấy chỉ có trong truyện cổ tích của nhân dân mà thôi, xã hội ấy không thể có trong điều kiện xã hội còn phân chia giai cấp, không thể có dưới chế độ phong kiến cho nên sự nêu gương của Nguyễn Trãi đã bị cô lập.

Nguyễn Trãi trở thành kẻ cô đơn sống ở triều đình “triều quan không phải, ẩn chẳng phải”. Trong suốt hai tập thơ “Ức Trai Thi Tập” và “Quốc Âm Thi Tập” chúng ta thấy ông day dứt, đau khổ với tư cách một nhà ái quốc, một kẻ sĩ không thực hiện được lý tưởng vì dân vì nước của mình. Ông bất mãn với bọn vua quan phong kiến “chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của dân cho nhiều”. Ông cương quyết không chịu bán thân vào con đường “công danh đeo khổ nhục” nhưng ông không quay về với nhân dân mà lại chỉ quay về với bản thân trốn vào thiên nhiên, vào sách vở, và chữ nhàn. Trong 105 bài thơ của “Ức Trai Thi Tập” và 254 bài của “Quốc Âm Thi Tập” chúng ta không thấy những bài thơ nói về đời sống của nhân dân lao động xung quanh ông, những đau khổ và nguyện vọng của họ. Đó là nhược điểm của ông. Cố nhiên trong điều kiện lịch sử thế kỷ XV những hạn chế của Nguyễn Trãi là tất yếu và không thể khác thế được.

Trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống quân Minh xâm lược, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được vận dụng trong quân sự và chính trị để giành thắng lợi vì lúc ấy giai cấp phong kiến còn là giai cấp bị áp bức về mặt dân tộc trước ách thống trị của đế quốc phong kiến nhà Minh như Lê Lợi đã miêu tả về tình cảnh của bản thân, cũng là tình cảnh của lớp quý tộc phong kiến lúc ấy: “Giặc càng ngày càng bạo ngược, dân không sống nổi, phàm người có trí thức đều bị hại. Trẫm tuy dốc hết gia tài để cung phụng nó, mong được khỏi vạ, nhưng cái bụng nó muốn hại trẫm không từng nới chút nào”. Nguyễn Trãi có thể thay lời Lê Lợi để nói về đường lối nhân nghĩa trong đánh giặc cũng như trong giữ nước. Những ngày đầu mới khôi phục nền độc lập dân tộc Nguyễn Trãi có thể viết thay lời vua để răn thái tử: “thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân, chớ thưởng bậy vì tri ân, chớ phạt bừa vì tư nộ. Đừng thích của tiền mà buông tuồng xa xỉ, đừng gần thanh sắc mà bừa bãi hoang dâm. Cho đến những việc dùng nhân tài, nghe can gián, ra một chính sách, một mệnh lệnh, phát một lời nói, một việc làm, đều phải chính trung dùng theo thường điển, ngõ hầu trên có thể đáp thiên tâm, dưới có thể thỏa nhân vọng, thì quốc gia mới được yên vững lâu dài”. Nhưng đấy chỉ là những tiến bộ tạm thời và cục bộ của giai cấp phong kiến. Khi đất nước đã ổn định, chính quyền chuyên chế đã được củng cố vững mạnh thì giai cấp quý tộc, đứng đầu là nhà vua lại tái diễn cảnh thịnh suy chu kỳ muôn đời của các triều đại phong kiến - ngày càng tăng cường bóc lột nhân dân, tranh giành địa vị, giết hại lẫn nhau. Đấy là sự biến diễn lịch sử của nhà Lê sau khi đánh đuổi quân Minh. Nguyễn Trãi với tư cách nhà trí thức gắn bó với chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo lập tức trở thành kẻ bị cô lập trong triều đình. Đó là bi kịch của Nguyễn Trãi và cũng là bi kịch chung của nhiều nhà tư tưởng tiên tiến trong xã hội cũ.

Triết lý nhân nghĩa, tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi đã trở thành di sản tư tưởng lớn của dân tộc, Nguyễn Trãi vĩ đại vì ông đã kiên trì giữ vững tư tưởng nhân dân suốt đời. Trong khi giai cấp phong kiến thống trị, nắm được chính quyền rồi trở nên tha hóa, đấu tranh trừ khử lẫn nhau tranh giành quyền lực và quay lại đàn áp nhân dân thì Nguyễn Trãi luôn tìm thời cơ đưa ra lời khuyên nhân nghĩa với vua và quan lại đồng triều. Bản án tru di tam tộc thể hiện phản ứng khốc liệt mà giai cấp phong kiến cầm quyền đã vì sợ hãi tư tưởng lớn của ông, phẩm chất trong sạch của ông mà vu cáo cho ông, tiêu diệt ông. Tuy vậy lịch sử rất công bằng, nhân dân và dân tộc đánh giá ông là nhà tư tưởng lớn, là nhà yêu nước vĩ đại.

Di sản tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi cho đến nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự - đóng góp lớn của Nguyễn Trãi vào kho tàng truyền thống văn hóa dân tộc là ở chỗ đó.

 Thông báo triết học 1967

II. HÌNH ẢNH BÁC HỒ TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG MIỀN NAM

 Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, có lẽ cả trên thế giới hiếm thấy một nhân vật nào mà khi còn sống đã là đề tài hấp dẫn và sáng chói cho Văn nghệ như hình ảnh Bác Hồ.

Có biết bao bài thơ, ca dao, trường ca, truyện ký... biết bao tác phẩm hội họa, điêu khắc, biết bao tác phẩm âm nhạc, sân khấu điện ảnh... sáng tác về Bác Hồ

Trong những bài thơ, bản nhạc, tác phẩm điêu khắc, hội họa đẹp nhất hay nhất thời hiện đại, tác phẩm về Bác Hồ chiếm phần quan trọng và nổi bật. Bởi vì Bác là hình ảnh sống, là tượng trưng cho đất nước, con người hiện đại Việt Nam, tượng trưng cho dân tộc, lịch sử cách mạng Việt Nam, cho những đau khổ và vinh quang Việt Nam, tượng trưng cho nhân, trí, dũng Việt Nam.

Cho nên bất cứ người Việt Nam nào khi nói đến quê hương, đất nước, nói đến truyền thống cha ông, nói đến cuộc đời lầm than cũng như hạnh phúc, nói đến nỗi đau chia cắt và nguyện vọng thống nhất... đều liên tưởng đến Bác Hồ.

Không có bản anh hùng ca nào có thể so sánh với cuộc đời thực của Bác, cuộc đời thực mà như huyền thoại. Bác là thiên trữ tình vĩ đại với lòng nhân ái bao la, nhạy cảm với mọi nỗi đau của con người; Không chỉ với đồng bào, đồng chí, mà với mọi con người đau khổ, lầm than, nô lệ, bị áp bức trên thế giới bất kể da đen, da trắng da vàng. Lời nói, hành động của Bác là lời nói từ trái tim họ cho nên cũng ít có con người nào trên trái đất này mà khi ra đi lại gây xúc động và tiếc thương vô hạn cho mọi người như đối với Bác. Bác là muôn vàn tình thương yêu của nhân loại khổ đau và kiên cường. Bác chính là Việt Nam anh hùng, bất khuất và nhân ái. Bác cũng chính là Miền Nam "đau thương, anh dũng", "đi trước về sau”. Bởi vì Miền Nam, như lời thủ tướng Phạm Văn Đồng "là bộ phận nhạy cảm nhất của Việt Nam”

Tình cảm đồng bào Miền nam đối với Bác lúc nào cũng thiết tha trìu mến, son sắt thủy chung không bút nào tả xiết. Thơ ca miền Nam - tiếng nói trái tim của đồng bào miền Nam, chỉ mới nói được phần nào tình cảm ấy của mọi người.

Thơ ca miền Nam nói về Bác có một sắc thái riêng, nó vừa dạt dào, mạnh mẽ, lại vừa man mác nhớ thương;

Nó vừa đằm thắm, trung hậu, chứa chan tình cảm lại vừa khỏe khoắn, trong sáng và bao giờ cũng toát lên nét mộc mạc, chân chất của tính cách miền Nam quen thuộc.

I- Đau thương thành sức mạnh

Hôm nay là ngày giỗ đầu Bác, một sự trùng lặp ngẫu nhiên, - Bác mất sau kỷ niệm quốc khánh 2/9, một ngày sau khi Bác đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại quảng trường Ba Đình lịch sử cũng trở thành như có ý nghĩa. Hình như trước lúc yên nghỉ vĩnh viễn Bác vẫn còn sống lại mạnh mẽ, sáng ngời trong ngày lịch sử vẻ vang ấy. Đấy cũng là một chi tiết diệu kỳ trong cuộc đời vô cùng kỳ diệu của Bác. Bác mất, thơ ca về Bác dạt dào như một nguồn suối vô tận, không phải vì như xưa kia người ta thích nói về người đã khuất như khơi lại tro tàn quá khứ, thích kể lại sự việc đã được phủ bóng thời gian. Trái lại, Bác mất, gây xúc động chính vì đây là một dịp để mọi người ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của Bác, sức mạnh và sự tỏa sáng của Bác. Tình thương nhớ Bác đã trở thành động lực thúc đẩy cuộc chiến đấu giải phóng Tổ quốc thống nhất đất nước. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam thương tiếc Bác càng ân hận vì chưa đánh tan giặc Mỹ để thực hiện được hoài bão của Bác: - giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc:

Bác ơi, Bác đã đi rồi

Tin đâu sét đánh ngang trời sáng nay

Mênh mông trời đất cao dày.

Nỗi đau thế kỷ một ngày se tim?

Giận mình đánh thắng chưa to

Mười lăm năm để Bác chờ, Bác mong

                              (Nguyễn Thành Vân)

Căm thù giặc, thương xót và ân hận vì chưa đáp được mong mỏi của Bác, Thanh Hải viết:

Càng thấy Bác là xương là thịt

Càng ân hận vì chưa đánh tan quân địch

Chưa thắng lợi hoàn toàn để đón Bác vào Nam

Trong hận thù, thù hận nào hơn!

Viễn Phương cảm thấy một cách cụ thể và thấm thía nỗi đau thương, mất mát vô bờ này:

Bác đã đi rồi! Con bỗng hiểu lũ xâm lăng

Không chỉ cướp của con sông nước, xóm làng

Không chỉ cướp của con tự do, cơm áo

Không chỉ cướp của con thịt da, xương máu

Mà chúng đã cướp rồi cả một niềm mơ

Giấc mộng xuân, sao được gặp Bác Hồ!

Giấc mộng lớn của miền Nam, phương trời thương nhớ.

“Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều”, Nhà thơ Tố Hữu tự dằn lòng và cũng muốn nhắn nhủ mọi người như vậy. Không để đau thương làm cho mềm yếu, vì kẻ thù còn trước mặt, còn đang gieo tang tóc cho đồng bào, sự nghiệp cách mạng đòi hỏi mỗi người phải tự vươn lên, lớn mạnh.

Thanh Hải đã an ủi, khích lệ bà mẹ miền Nam:

Đừng khóc nhiều má nhé, nén đau thương

Kìa má trông! Bộ đội đã lên đường

Đôi mắt Bác là ngôi sao phía trước

Tấm băng tang gài trên phía ngực

Là mệnh lệnh tấn công, mệnh lệnh diệt thù

Không chỉ vì nghĩa vụ phải nén đau thương mà còn vì chính Bác là hình ảnh dẫn dắt, không cho phép ta được mềm yếu. Con người cách mạng vĩ đại, kiên cường ấy khi ra đi không chỉ để ta khóc thương mà để ta học tập, noi gương, tiếp tục sự nghiệp cao cả mà Người đã theo đuổi. Con người ấy khi sống là nguồn động viên, cỗ vũ, là ngọn đuốc soi đường và khi trở về với tổ tiên cũng biến thành một sức mạnh thúc đẩy vươn lên vô cùng mạnh mẽ. Một người bạn quốc tế đã viết rất đúng rằng đấy là con người mà cái chết là mầm mống của sự sống"

II - Muôn vàn tình thương yêu!

Bác giành “muôn vàn tình thương yêu” cho miền Nam; "Một ngày miền Nam còn chưa được giải phóng, Bác còn ăn không ngon ngủ không yên". Nguyện vọng lớn lao của đồng bào miền Nam là mong ngày thống nhất được gặp Bác, nguyện vọng ấy theo tháng năm gian khổ mà lớn dần lên. Tình cảm của nhân dân, của đồng bào đối với Bác cũng theo thời gian mà càng sâu sắc, đằm thắm, lúc nào cũng cảm thấy Bác gần gũi bên mình.

Vì mảnh đất này Bác thao thức bao đêm

Bác chưa đến nhưng chưa hề xa cách.

 Giang Nam

(Bác còn sống mãi)

Bác mong ngóng, theo dõi tin tức chiến thắng miền Nam từng phút, từng giờ

Trước lúc ra đi còn ngoảnh lại nhìn

Hỏi miền Nam nơi nào đánh thắng?

                         (Thanh Hải

                          "Cả miền Nam thương nhớ Bác")

Bác trồng cây vú sữa miền Nam trong vườn Bác và hằng ngày chăm chút, tưới bón cho cây như để nguôi đi thương nhớ mảnh đất miền Nam. Đồng bào miền Nam
vô cùng xúc động trước việc làm đó. Cây vú sữa trong vườn Bác trở thành đề tài của nhiều bài thơ hay của tác giả miền Nam

Cây vú sữa lên xanh trong vườn Bác

Đã rộng bóng im, đã ngân tiếng hót

Mắt Bác nhìn hẳn thấy cả quê con

Và chúng con khi chặn giặc diệt đồn

Thấy ngấm vào người một dòng nước tưới

Ôi dòng nước quê ta xanh rượi

Là tấm lòng của Bác với miền Nam.

                       (Cao Phương

                        "Xanh trong vườn Bác”)

Những ngày Bác xới gốc cam

Chăm cây vú sữa miền Nam trong vườn

Bác ơi! Lòng Bác yêu thương

Nên cây vú sữa đã vươn cao nhiều…"

                       (Thu Bồn

                        “Tiếng trống Nam Ô")

Cây vú sữa Bác trồng bỗng như truyền nhựa sống cho bao làng mạc bị cháy trụi, bao cây trái bị tàn héo bởi bom đạn và chất độc hóa học của giặc Mỹ. Tình thương nhớ Bác của người dân miền Nam qua cây vú sữa lập tức trở thành sức mạnh, như một sự kiện kỳ diệu, cây vú sữa trong vườn Bác trở thành ngọn tầm vông của miền Nam.

Khi trước mắt con hiện lên rực sáng

Bóng Bác che cho cây vú sữa quê hương

Con bỗng thấy quanh con dâu bãi cây vườn

Dù đã héo dưới làn mưa thuốc độc

Bỗng sung sức đâm chồi nẩy lộc

Ngẩng cao đầu như những ngọn tầm vông.

                  (Cao Phương

                    "Xanh trong vườn Bác")

Bác ra đi tìm đường cứu nước từ mảnh đất miền Nam đau thương đang rên siết dưới gót giày thực dân Pháp. Bác trở về, dẫn dắt toàn dân đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật và thực dân Pháp, đưa cuộc Cách mạng tháng Tám đến thành công. Khi Bác xuất hiện trên lễ đài Ba Đình lịch sử, đọc tuyên ngôn độc lập, đồng bào miền Nam hy vọng sớm được đón Bác vào thăm. Vì Pháp gây hấn trở lại, Bác không thể vào gặp đồng bào miền Nam, nay lại vì giặc Mỹ ngăn cản, đồng bào miền Nam xiết bao thương nhớ, mong đợi, vẫn chưa một lần được gặp Bác.

Thu Bồn đã nói lên nỗi niềm đau xót ấy;

Bạn từ bãi biển Hi - rông

Bạn còn đến để kịp hôn Bác Hồ

Mà con mong đợi Bác vô

Ngắm phương Bắc, nhớ thủ đô quặn lòng.

Đất nước bị chia cắt kéo dài, tình thương nhớ Bác lại gắn liền với nguyện vọng thống nhất đất nước.

Viễn Phương mơ ngày thống nhất, Bác về miền Nam, quê hương tươi đẹp rạng ngời đón Bác:

Xưa con ước mơ một ngày thống nhất

Bác Hồ về tắm mát suối quê hương

Đường quê con mịn màng cát trắng

Mát bước chân Cha gian khổ, dặm trường.

Dù Bắc Nam chia cắt, nhưng lòng người miền Nam nghĩ về Bác, lúc nào cũng gần gũi thân thiết, Giang Nam chân tình thổ lộ;

Con nhớ như in từng lời của Bác

Tiếng nói quê hương trong tiếng nói một người

Con đếm được từng nhịp tim Bác đập

Dù giữa hai miền còn giới tuyến ngăn đôi

Thơ ca miền Nam cũng như thơ ca cả nước, mảng đề tài về thiếu nhi miền Nam đối với Bác luôn là những tình cảm hồn nhiên, ngây thơ mà gây xúc động sâu sắc. Thanh Hải quá thấu hiểu nên đã diễn đạt tình cảm thiếu nhi miền nam với Bác trong những câu thơ đầy hình ảnh:

Đêm đêm cháu những bâng khuâng

Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu

Nhìn mắt sáng nhìn chòm râu

Nhìn vầng trán rộng, nhìn đầu bạc phơ

Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ

Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn.

Bằng vốn sống súc tích, bằng sức tưởng tượng bay bổng của một nhà thơ tài năng, Thanh Hải đã tả thật sinh động và chân thực không khí hân hoan cảm động cảnh thiếu nhi và đồng bào miền Nam đón tiếp Bác khi Bác về thăm các cháu, thăm quê hương:

Đêm nằm cháu những chiêm bao

Ngày vui thống nhất Bác vào miền Nam

Cổng chào dựng chật đường quan

Bác đến đình làng, Bác đứng trên cao

Bác cười thân mật biết bao

Bác dặn đồng bào cặn kẽ từng câu

Ung dung Bác vuốt chòm râu

Bác xoa đầu cháu, Bác âu yếm cười.

Nhân dân ta không chỉ ước mơ gặp Bác mà còn quyết tâm chiến đấu giết giặc để báo công dâng Bác. Trong lòng các bà má miền Nam, hình ảnh Bác là tượng trưng cho ý chí thống nhất. Ngay từ phút đầu tiên, đưa tiễn con em ra miền Bắc tập kết, các má đã gửi gói đất miền Nam ra dâng Bác để nói lên ý chí sắt son thủy chung của người miền Nam với Bác; đối với Tổ quốc.

Con về Thủ đô

Đem dâng cụ Hồ

Chút đất miền Nam

Thưa dù núi cách sông ngăn

Đồng bào Nam bộ vẫn gần bên Cha

Tình yêu đất nước đậm đà

Nam là của Bắc, Bắc là của Nam.

Hình ảnh Bác là niềm an ủi lớn lao cho đồng bào miền Nam khi phải chịu đau thương, mất mát trong cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ; Hình ảnh Bác động viên người chiến sĩ trong chiến hào dũng cảm xông lên diệt dịch; Các chiến sĩ cách mạng trong ngục tù tăm tối của đế quốc, nghĩ đến Bác là có thêm sức mạnh để giữ vững khí tiết, kiên cường bất khuất trước đòn roi tra tấn của kẻ thù. Nỗi khắc khoải đợi chờ, niềm mơ ước đón Bác về thăm là động cơ thúc đẩy đồng bào và chiến sĩ đứng lên chiến đấu giành thắng lợi.

Quê con đã nổi dậy rồi!

Bác ơi! Dù Bác da mồi tóc sương

Những là đêm nhớ ngày thương

Sông Hàn một dải quê hương đợi Người.

III - Sức mạnh của Bác; “Hồn thiêng sông núi”

Thơ ca miền Nam vốn đã chân chất, mộc mạc, khi viết về Bác lại càng chân chất, trong sáng. Là người Việt Nam, ai mà không thuộc hai câu thơ như ca dao mới của miền Nam:

Tháp Mười đẹp nhất bông sen,

Nước Nam đẹp nhất, có tên cụ Hồ.

Hai câu thơ mở đầu cho một bài thơ hay của Bảo Định Giang với phong cách dân gian với tình cảm chân chất mà khỏe khoắn, trung hậu:

Cụ Hồ như cột trụ đồng

Muốn lay chẳng ngã, muốn rung chẳng dời.

Cụ Hồ là cái kiếng soi,

Soi người trung liệt soi người tinh ma

Cụ Hồ là biển bao la

Bao nhiêu sông rạch đổ ra bày nguồn.

Cụ Hồ như cái khánh chuông

Khua vang đánh thức những phường mê man.

Cụ Hồ như chiếc đò ngang,

Đưa ta đến bến vinh quang đời đời.

Cũng lối nhìn ấy, Hải Châu, với mấy câu ngắn gọn như đồng dao, đã nói lên sự gắn bó ruột thịt giữa Bác với nhân dân:

Bác Hồ với dân

Như chân với tay

Như chày với cối

Như cội với cành.

Lê Anh Xuân, nhà thơ trẻ với trái tim nồng nhiệt giàu cảm xúc, có giọng nói riêng, nhẹ nhàng nhưng thắm thiết mê say khi nói về tuổi thơ, về quê hương đất nước cũng như nói về Bác Hồ. Nhà thơ thấy rõ sự tỏa sáng và sức mạnh của tên tuổi Bác.

Ôi tên Bác vàng mơ mùa gặt hái

Dịu dàng ru giấc ngủ tuổi thơ xanh.

Ôi tên Bác, giặc giật mình sợ hãi

Chúng bắt giam chúng kết án tử hình.

Tên Bác không những là giấc mơ hạnh phúc trong tương lai mà còn là sự cổ vũ chiến đấu trong hiện tại:

Ôi tên Bác,

Xanh biếc ước mơ

Đỏ thắm lá cờ

Đang vẫy gọi miền Nam xốc tới.

Bác là tượng trưng cho tinh thần đoàn kết dân tộc. Nhiều nhà thơ dân tộc kinh như Hải Lê, Hồng Chinh Hiền, Thu Bồn, Thân Như Thơ... đã sống gắn bó với miền núi qua hai cuộc kháng chiến, hiểu rõ tâm tư tình cảm của đồng bào các dân tộc đối với Bác, đã có rất nhiều bài thơ xúc động ca ngợi tình cảm của Bác với đồng bào và tình cảm của đồng bào Tây Nguyên với Bác. Hình ảnh Bác trong thơ của các nhà thơ dân tộc Tây Nguyên chân thật mà cao đẹp;

Kra-ylank đã nói lên được phần nào tình yêu thương và lòng biết ơn của đồng bào Tây Nguyên với Bác:

Hình ảnh Bác mênh mông, hiền hậu

Bác dẫn ta đi đạp bằng gian khổ

Bác là mối tình nồng hậu thượng kinh

Bác là mặt trời không bao giờ tắt

Bác là niềm tin, Bác là chiến thắng.

Tên tuổi Bác gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, gắn liền, với sự hồi sinh của đất nước, với sự đổi đời của nhân dân. Tên Bác là ánh sáng xua tan đêm dài nô lệ, xua tan bóng tối của ngục tù đế quốc

Hướng Triều vẽ lên chân dung Bác tượng trưng cho sự biến đổi cách mạng của đất nước:

Người đi mây xám quê hương

Người về tiếng hát lên đường cất cao.

Người đi trăm họ nghẹn ngào

Người về lồng lộng cờ sao tung hoành

Nước này Người ký khai sinh,

Đất này Người phá bất bình dựng nên.

Có Người tổ quốc có tên,

Cùng đinh mới biết qua đêm có ngày

Bác là hình ảnh của Dân tộc của Tổ quốc được nhân cách hóa. Lời kêu gọi của Bác không chỉ là hiệu triệu của một lãnh tụ cách mạng mà như chính là tiếng gọi: của Tổ quốc, của Dân tộc;

Nguyễn Bá viết:

Bác đã gọi rồi!

Nghe lời Tổ quốc

Đất ngẩng đầu, lúa trỗ dưới na-pan

Bác đã gọi rồi!

Nghe lời Tổ quốc

Con ngẩng đầu bước tới đỉnh vinh quang.

Nhà thơ Nguyễn Bá xem Bác là tượng trưng cho ý chí giành, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; Bác còn tượng trưng cho lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc, là người kế tục truyền thống vẻ vang của bà Trưng, bà Triệu, truyền thống yêu nước, bất khuất của các anh hùng dân tộc đã từng đánh thắng các đội quân xâm lược của các đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử:

Bác Hồ từ đất Thăng Long

Cất cao tiếng nói cha ông quật cường,

Nghe voi gầm thuở Trưng Vương,

Thấy chữ "sát thát” trên cườm tay to

Nguyễn Trãi mài mực làm thơ,

Nguyễn Huệ đốt lá may cờ xuất quân

Ngàn năm dân tộc anh hùng

Trên đầu con đội ngàn chương sử nhà

Bây giờ hịch Bác truyền ra

Hồn nghe nóng bỏng như pha thép hồng

Lời kêu gọi của Bác có sức mạnh của ba mươi triệu đồng bào và bốn nghìn năm lịch sử do đó nó có sức lay chuyển mạnh mẽ:

Sáng nay Bác gọi đồng bào.

Ngàn xưa cùng với mai sau tựu về,

Oai nghiêm như một lời thề

Cả dân tộc đã cầm lê tuốt trần

Lại vẫn Lê Anh Xuân, nhà thơ trẻ tràn đầy chí khí ấy, tìm thấy sức mạnh của Bác từ niềm tin sâu sắc vào cách mạng, sức mạnh từ nội lực vĩ đại của quần chúng nhân dân:

Ôi ba tiếng Hồ Chí Minh

Đã thành vũ khí, đã thành niềm tin

Đã thành lời hứa thiêng liêng

Lửa thiêu chẳng cháy, đá nghiền chẳng tan.

Con người, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng bất tận để các văn nghệ sĩ sáng tác nhiều tác phẩm bất hủ để lại cho đời. Trong một bài báo ngắn, tôi chỉ điểm được một số bài thơ có trong tầm tay giới thiệu với bạn đọc, đây là nén tâm nhang dâng lên Bác nhân ngày giỗ Người…

 9/1970

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 07/03/2019

Tin khác

HỒNG DIỆU- NHÀ PHÊ BÌNH VIẾT VỀ NHÀ PHÊ BÌNHHỒNG DIỆU- NHÀ PHÊ BÌNH VIẾT VỀ NHÀ PHÊ BÌNH
NHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶTNHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶT
BÔNG HỒNG KHÔNG GAIBÔNG HỒNG KHÔNG GAI

Tin mới nhất

CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA LÒNG QUẢ CẢM
CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA LÒNG QUẢ CẢM

"Bây giờ em là dâu của một gia đình Trung Quốc và mang quốc tịch Trung Quốc, nhưng anh hãy tin rằng em mãi mãi là người Việt Nam và sẽ tranh đấu bằng cách của mình cho sự thật."

Sách mới

Phan nhân 1972

viết bởi: Nhà xuất bản

Phan nhân 1972
Không thể sống mà không viết

viết bởi: Nhà xuất bản

Không thể sống mà không viết
Mối tình của ông Hire

viết bởi: Nhà xuất bản

Mối tình của ông Hire