NHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶT

Đất luôn giấu mặt, cuốn tiểu thuyết của Ngô Xuân Hội xoay quanh một câu chuyện tình. Câu chuyện tình không phải là một cái gì mới trong văn học, cũng như ngoài đời.

Viết bởi: Nhà xuất bản

 Đất luôn giấu mặt, cuốn tiểu thuyết của Ngô Xuân Hội xoay quanh một câu chuyện tình. Câu chuyện tình không phải là một cái gì mới trong văn học, cũng như ngoài đời. Anh công nhân hầm lò - người luôn sống trong lòng đất sâu thẳm, đen ngòm - do một sự cố cháy mỏ, phải lên mặt đất làm công việc dưới ánh nắng mặt trời một cách khó nhọc - sàng than. Thế rồi anh đã gặp Lê - cô công nhân sàng than, suốt ngày hít thở một bầu không khí đen vùng mỏ, khắp thân hình và khuôn mặt quấn kín. Họ đã yêu nhau.

Nhà văn Ngô Xuân Hội

Tình yêu vừa chín, không sớm, không muộn, tưởng rằng sẽ đơm hoa, kết trái, nhưng rồi… Như những câu chuyện tình khác, người thứ ba xuất hiện cùng với những tham vọng nhỏ nhoi muốn thoát ra khỏi cảnh sàng than gian khổ mà Lê đã gặp nạn… Mối tình tan vỡ, nhưng hình như tấm lòng và trái tim của hai con người ấy mãi còn vương vấn bên nhau..

 ( Lời giới thiệu của Nhà văn Hoàng  Đình Quang trên báo Văn Nghệ- 2009)

 SACHVAN.VN trân trọng giới thiệu 3 chương đầu của tiểu thuyết ĐẤT LUÔN GIẤU MẶT của Nhà văn Ngô Xuân Hội do NXB Hội Nhà văn  ấn hành năm 2017 tới bạn đọc)

   I

Bảy giờ sáng.

Giờ này ít ô tô chạy, phố xá yên tĩnh. Trên đường phố vẫn còn nhiều người đạp xe, họ phần lớn là dân cạo giấy của các cơ quan xí nghiệp ngày tám tiếng đồng hồ mài đũng quần trên ghế, lợi dụng sự nhôm nhoam trong quản lý lao động ăn bớt giờ Nhà nước, bây giờ, sau khi đã tranh thủ làm xong một số công việc gia đình, mới hối hả đạp xe đi.

Đến cơ quan, những người này thường bỏ qua cái cổng lớn, nơi ngay sau chiếc cột trụ bên phải trong cái bốt gác làm bằng gỗ hòm mìn dựng cao như cái ống, lúc nào cũng thường trực một ông bảo vệ ngồi nguyên tư thế phỗng sành, súng chắc trong tay, mặt lầm lì sắt đá. Không phải họ sợ bảo vệ cơ quan. Cùng làm việc trong một khối văn phòng, ngày mấy lần ra đụng vào chạm. Họ biết những ông này chỉ lập nghiêm bộ mặt khi có người đi qua, những khi không có người, mắt trước mắt sau lỉnh ngay ra một chỗ nào đó ngồi khề khà trà thuốc, quá nữa thì đánh một giấc. Chẳng thế mà ở mỏ Thạch Xương Bồ, một buổi sáng nọ đầu giờ làm việc, đội trưởng đội xe hốt hoảng lên báo cáo với giám đốc rằng, đêm qua toàn bộ số xe của đội để trong ga-ra đã bị kẻ gian đánh cắp. Đánh cắp chín chiếc ô tô trong một đêm, ngay trước mũi những người bảo vệ, tài năng ấy chỉ có ở Tề Thiên Đại thánh giáng thế. Ông trưởng phòng bảo vệ mỏ lập tức điện thoại báo cáo tình hình với công an thị xã, sau đó nháo nhác bổ lính đi tìm. Bao nhiêu nghi vấn được đặt ra, người cho vụ trộm do một băng trộm xuyên quốc gia tiến hành, người cho vụ trộm chính là tác phẩm của quân bành trướng.

Trực gác khu văn phòng mỏ Thạch Xương Bồ đêm đó là Mật, một thanh niên tuổi trạc ba mươi, người béo đen, mặt mọc đầy trứng cá. Tiếc cô vợ thây lẩy nằm một mình trên giường, mười hai giờ khuya Mật bỏ bốt gác về ngủ với vợ, gần sáng mới mò lên. Bây giờ Mật ngồi trong phòng bảo vệ, tờ giấy trước mặt, cây bút trong tay anh thề sống thề chết với thủ trưởng rằng, đêm qua lúc nào anh cũng có mặt ở vị trị gác.

Đến trưa, Nguyễn Thế Phong trước làm công nhân lái tàu điện ở phân xưởng vận tải, sau bị tai nạn lao động chấn thương sọ não trở nên tàng tàng mát mát đi qua văn phòng mỏ, thấy mọi người tụm năm tụm ba, mặt ai cũng lộ vẻ hình sự, Phong mới đập vai ông đội trưởng đội xe hỏi:

- Chuyện gì vậy anh Hữu?

Biết tính Phong, ông đội trưởng đội xe không trả lời. Như người khác thì đã bỏ đi, nhưng là người không bình thường nên thấy ông đội trưởng đội xe im lặng thì Phong tức, văng tục:

- Mẹ kiếp, chả có cái gì mà cũng thậm thà thậm thụt!

Nhận ra cái lý của Phong và cái vô lý nhất định của mình, ông Hữu đấu dịu:

- Mày đi đi, đừng làm rối người ta. Đêm qua thằng nào ăn trộm hết xe ô tô của mỏ rồi đây này.

- Ơ... trộm ô tô à? - Phong reo lên - Đâu có, đêm qua em đánh xe ra đấy chứ.

Ông Hữu tròn mắt:

- Mày?!

- Em!

- Thế mày giấu xe chỗ nào?

- Ở trước cổng nhà máy cơ khí. Đi, em dẫn anh đi - Phong hào hứng.

Thấy lạ, cả khối văn phòng mỏ hơn một trăm người rùng rùng đi theo Phong. Chưa qua hết cái dốc đầu tiên từ thị xã dẫn lên khu 52, mọi người đã nhìn thấy một dãy ô tô của mỏ lớn bé đủ chín chiếc đậu ngay ngắn trên bãi đất rộng trước nhà máy cơ khí, bên cạnh những dãy xe Gấu, xe Benla, Bò tót mà nhà máy đã đại tu xong chuẩn bị xuất xưởng.

- Làm sao mày đánh ra đây được, chiếc nào bọn tao cũng khóa cả rồi cơ mà?

Ông Hữu hỏi Phong. Kỳ thực ông cũng không biết chắc chiều qua lúc tan tầm, lính của ông có khóa xe hay không.

- Thế mà em đánh ra được đấy, anh bảo có tài không nào?

- Tài - ông Hữu công nhận.

- Tài thật.

- Tài thật.

Mọi người tán thành.

Sau biến cố ấy, cánh bảo vệ mỏ Thạch Xương Bồ trở nên nổi tiếng trong toàn công ty. Người ta bàn tán giễu cợt họ khắp nơi. Còn dân thị xã trước một điều gì bất ưng lại buông một câu:

- Cứ như bọn bảo vệ mỏ Thạch Xương Bồ ấy.

Nhưng “Bọn bảo vệ mỏ Thạch Xương Bồ” không vì thế mà núng chí, trái lại họ tỏ ra kiên quyết hơn. Hễ túm được một đứa bé nhặt than trộm nào họ lập tức đá đít, tát tai và tịch thu ngay bao than. Nhà làm việc của phòng bảo vệ mỏ nhiều hôm thấy nhốt đầy những đứa trẻ ăn cắp than bị bắt. Biết thế, những người đi làm muộn giờ dù không sợ cánh bảo vệ, nhưng tránh voi chả xấu mặt nào, họ nhất loạt vào văn phòng bằng cách lách mình qua những chiếc cổng con do chính họ mở dọc bức tường rào bao quanh khu văn phòng. Những chiếc cổng con ấy bé đến nỗi, có cái chỉ vừa bằng gang tay, dù vậy vẫn còn hơn đã đi làm muộn lại cứ chường mặt mình ra giữa hai trụ cổng chính.

 *

*     *

Trong số những người góp mặt trên đường phố thị xã vào lúc bảy giờ sáng hàng ngày dĩ nhiên không chỉ toàn những người đi làm muộn giờ, còn rất nhiều người vì những lý do khác nhau, nhiều nhất là những người thợ xong ca ba trở về. Đó là những người có nhà ở gần nơi làm việc, hàng ngày không đến mỏ bằng xe ô tô đưa đón công nhân mà bằng đôi chân của mình. Những người này thường đi thành tốp năm ba người một, vừa đi vừa chuyện trò sôi nổi.

Cẩm Phả hẹp, một doi đất dài bị kẹp giữa núi và biển, núi lấn ra đường phố, biển ăn sâu vào trong phố. Hay đúng hơn, ở vùng Than phố xá mọc tràn trên núi và biển. Trong ký ức một số người dân nơi đây vẫn còn lưu giữ hình ảnh ngày Cẩm Phả chưa trở thành thị xã. Ngày ấy, sú vẹt từ dưới biển lấn lên đầu nguồn các con sông con suối. Từ trong rừng sâu, cây rừng mọc đến cuối nguồn các con suối con sông, có thể tìm thấy sú vẹt ngay trong những cánh rừng đại ngàn. Cây rừng nhiều, tôm cá chim muông cũng lắm, chim bay từng đàn cá lội từng bầy, tiếng cá quẫy vang động mặt sông mặt biển. Bước chân ra vườn, vết chân người chồng lên vết chân thú. Tìm gỗ quý chẳng phải đi đâu xa, gỗ quý ngay trong dậu ngõ nhà mình.

Thế rồi công nghiệp đến. Theo bước chân viễn chinh của quân đội Pháp, nhà máy, hầm mỏ mọc lên. Cây cối bị triệt hạ để xây phố phường, lấy mặt bằng cho công nghiệp. Nông dân từ các làng quê vùng Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, từ trong miền Trung Thanh, Nghệ đổ về Cẩm Phả làm phu. Thị xã mỏ hình thành. Trải bao biến thiên lịch sử, cái thời quá vãng ấy chỉ còn lại trong tiếng hoẵng tác thưa thớt từ những cánh rừng xa sau mỗi cơn mưa, trong những gốc cây dổi cây lim trầm tích sâu dưới đất mà thỉnh thoảng vẫn có người bắt gặp khi đi đào đất đỏ về trộn với than để đóng bánh làm than đun bếp. Bây giờ đứng dưới mặt bằng thị xã nhìn lên, trên những dãy núi trập trùng nhà cửa lớp trước lớp sau mọc chi chít. Trong những ngôi nhà ấy vẫn còn nhiều người sống bằng nghề rừng, nghề biển và rất nhiều nghề khác mà giờ giấc không hề khuôn bó trong một thời gian biểu cứng nhắc như những người làm thợ. Với thị xã, những người này là những gia vị không thể thiếu trong một bữa tiệc. Có họ, thị xã mỏ càng thêm phong phú.

Khác với mọi ngày, buổi sáng nay dân thị xã bỗng nháo lên vì một việc chẳng liên quan gì tới cảnh công trường than bụi. Đấy là việc anh công an viên phường Tam Hợp dẫn ba tên tội phạm từ trụ sở công an phường lên đồn công an thị xã. Ba tên tội phạm phạm tội hiếp dâm, trấn lột ở xóm Đập Nước bị bắt tối qua. Anh công an là người tham gia từ đầu đến cuối vụ mật phục. Sau khi bị bắt, ba tên bị công an phường còng tay tống vào phòng tạm giam. Còn anh công an sau một giấc ngủ chập chờn, dậy đánh răng rửa mặt, ăn sáng qua loa rồi giải chúng lên giao cho công an thị xã đúng như đồn trưởng đã phân công.

Ba tên tội phạm. Ba gã đàn ông. Một thấp lùn, da đen, mặt có vành râu quai nón chạy từ thái dương bên này sang thái dương bên kia. Một thấp đậm, da bánh mật, cổ to như cổ trâu. Một nữa dáng cao, mặt lưỡi cày, mắt thụt sâu vào hai hố mắt tạo thành hai hõm sâu chứa đầy tử khí. Mặt mũi chân tay gã nào cũng thấy hằn lên những vết đỏ do muỗi cắn. Ba gã tay bị còng trong những chiếc còng số 8 để xuôi phía trước và liên kết với nhau bằng một sợi dây xích dài.

Thị xã mỏ không phải là địa phương nêu điển hình tốt về việc giữ gìn trật tự trị an. Vì vậy, cảnh những tên tội phạm, dù phạm tội hiếp dâm bị còng tay giải đi giữa phố, cũng không mấy khi khiến người dân chú ý. Nhưng ba tên tội phạm sáng nay thu hút sự chú ý của nhiều người, vì sau lưng mỗi đứa thấy mang một cái mẹt, trên mỗi cái mẹt thấy viết một chữ bằng vôi trắng. Để riêng từng chữ chúng không có ý nghĩa bao nhiêu, nhưng khi ghép lại ba chữ ấy sẽ làm thành một câu thật khêu gợi: TỘI HIẾP DÂM.

Chính vì thế, khi anh công an và những món hàng của mình vừa xuất hiện trên đường phố, họ lập tức bị những người đi đường ùa tới vây quanh. Bảy giờ sáng đường phố ít người, vậy mà không hiểu sao chỉ trong thoáng chốc, ngã ba nơi con dốc Tân Đảo gặp đường quốc lộ khi anh công an cùng ba gã tội phạm vừa xuất hiện đã bị kẹt cứng bởi đủ thứ người, xe. Đám đông vây quanh không hỏi chuyện anh công an, ba cái mẹt đã cho họ tạm thời nắm được những thông tin cần thiết. Ngắm ba gã đàn ông. Đọc ba chữ viết rõ ràng trên ba cái mẹt, họ quay ra bàn tán với nhau. Những người đi sau bị những người đi trước che khuất, ai cũng ra sức luồn lách chen lên. Vừa chen, họ vừa hỏi:

- Cái gì thế, cái gì thế?

- Hiếp dâm!

- Hiếp dâm à?

Ngạc nhiên, nghĩ phía trước có kẻ nào đó đang diễn trò bỉ ổi, những người đến sau càng chen lấn xô đẩy hăng hơn. Anh công an dù đã quá quen với đám đông, với những cuộc va chạm, nhưng trước sự phấn khích của nhiều người, anh bỗng bị lúng túng. Lúc ấy anh thấy oán ông đồn trưởng già mà dại, chẳng nghĩ ra được trò gì cao minh lại nghĩ ra trò gắn ba cái mẹt vào lưng ba gã tội phạm. Anh oán mình, kẻ thừa hành bồng bột hăng hái tán thành việc làm dại dột của thủ trưởng. Nhưng ông đồn trưởng làm vậy còn khả dĩ chấp nhận được, mấy mươi năm lăn lộn trên mặt trận an ninh xã hội, đã từng nhiều phen vào sinh ra tử, ông mệt mỏi với bọn tội phạm rồi. Còn anh tốt nghiệp ra trường chưa được bao lâu, mặt mũi chân tay không hề sứt sẹo, sao đã vội tán thành việc áp dụng nhục hình đối với bọn đầu trâu này? Nghĩ vậy, nhưng anh công an không gỡ ba cái mẹt ra, trước khi anh lên đường, ông đồn trưởng đã dặn:

- Cậu cứ để nguyên ba cái mẹt như thế cho tớ, mệnh lệnh đấy. Đối với những thằng này, muốn chúng cải tà quy chính, kinh nghiệm của tớ là tẩn mạnh vào. Run tay một chút, chúng đè đầu cưỡi cổ ngay. Nhai kỹ no lâu, đòn đau nhớ đời, cha ông đã dạy như thế rồi. Phải cho chúng bị đòn đau để lúc ngồi đếm lịch trong tù, chúng còn có cái để nhớ lại.

Chính phương pháp tẩn cho mạnh vào ấy của thủ trưởng, đã khiến anh công an lúc này rơi vào thế lưỡng nan, tiến không thể tiến, thối không thể thối. Bực mình, anh nhảy lên một mô đất cao hét to đến lạc giọng:

- Này, bà con tránh ra cho chúng tôi đi. Tránh ra! Tránh ra!

Thương hại anh công an, đám đông tản dần rồi rùng rùng chuyển động, đội hình đầu nhọn đuôi dài đi theo anh. Không thể để ba tên tội phạm dàn hàng ngang cùng hành tiến, anh công an xếp chúng theo hàng dọc. Tên Tội đi trước, tên Hiếp đi thứ hai, tên Dâm sau cùng. Sau chúng là cả một dãy dài người tò mò rồng rắn đi theo. Đám rước lân đông nhất trong những dịp hội hè đình đám, mà phòng Văn hóa Thông tin thị xã thỉnh thoảng vẫn tổ chức ở sân vận động công nhân cũng không đông đến thế. Anh công an vừa đi vừa ngoái nhìn phía sau, hy vọng có chiếc ô tô nào đó chạy cùng chiều để xin đi nhờ. Những chiếc ô tô thấy đám đông liền bóp còi inh ỏi. Cánh tài xế nhoài mình qua cửa ca-bin. Khi biết lý do anh công an xin đi nhờ, họ đều thụt nhanh xuống ghế ngồi từ chối. Không thể mãi làm lân cho đám rước lân kỳ cục này, đến bến xe công nhân địa chất, anh công an lệnh cho ba gã hiếp dâm ghé vào ngồi chờ ở bến xe.

Bằng cách đó, anh dần thoát được đám đông tò mò.

   II

 Ngày nào cũng vậy, buổi sáng vào lúc bảy giờ ba mươi phút, chuyến xe đầu tiên của mỏ chở công nhân làm ca ba trên công trường Tây Khe Sim trở về chuyển bánh tại bến Cây số bảy. Chạy được năm ba phút, xe dừng trả khách ở bến Cây số năm. Từ đó trở đi, cứ hai cây số xe dừng một lần để trả khách ở những bến tiếp theo: Địa chất - Ba tầng - 52 - Độc lập... Sau mỗi bận xe dừng, người trên xe ít hơn. Đến bến cuối cùng, khi trên xe không còn người nào nữa, anh tài quay đầu xe, tắt máy rồi sà vào một cái quán bất kỳ nào đó ngồi nhâm nhi nước trà. Từ trong quán anh nheo mắt nhìn ra ngoài, lòng thầm mong có một cô gái xuất hiện đi nhờ xe về thị xã, để anh có dịp mở cửa ca-bin trân trọng mời cô ngồi. Đã uống đến ly nước trà thứ ba rồi mà vẫn không thấy một bóng hồng nào xuất hiện, anh thầm ngao ngán cho cái kiếp nạn gà cồ ăn quẩn cối xay của mình, lặng lẽ trả tiền, lên ca-bin đánh xe về bãi. Công việc hàng ngày của anh là vậy. Không có cảnh đường xa phố lạ đồi núi trập trùng, mỗi chuyến ra đi lòng nao nức trước bao điều mới lạ. Không có cảnh các cô gái xinh đẹp đưa tay phanh nón bên đường. Mỗi lần xe anh dừng, các bà chủ quán lại nở nụ cười cầu tài, phái ngay đám đệ tử mỏng mày hay hạt của mình ra lôi kéo anh... Không, không có những cảnh ấy. Cảnh ấy ở đâu trong mơ, chỉ dành cho những tay lái xe tốt số. Anh là lái xe vùng mỏ, công việc quen thuộc, lộ trình quen thuộc. Dù vậy, vẫn không thể bỏ vùng mỏ mà đi, cuộc đời có biết bao ràng buộc. Sau những cố gắng vùng vẫy thoát ra không thành, anh đành lại chăm chút nghề mình, chăm chút xe mình. Xe của anh người vùng mỏ vẫn quen gọi xe Gấu, trọng tải 27 tấn, đóng thùng để chuyên dùng vào việc đưa đón công nhân. Xe vận tải 27 tấn đã thuộc hàng đại xa, nhưng trong danh mục xe ở mỏ, Gấu thuộc hàng ba, tư. Anh chị của nó là những chiếc xe Bò tót, Benla đường kính bánh cao quá đầu người, khi chạy trông chúng đồ sộ như những nhà máy di động. Từ dưới đất nhìn lên, người lái giống một chú lùn đang chơi trò bập bênh trong ca-bin. Gần đây ở mỏ thấy xuất hiện thêm những chiếc xe Kockums của Thụy Điển, Komatsu của Nhật trọng tải 37, 40 tấn. Nhưng những gã khổng lồ chuyên làm việc phá đường ấy ít khi hạ sơn xuống phố, phạm vi hoạt động của chúng được giới hạn trên những tầng cao, nơi đầu đường bãi thải. Chạy trên phố phần lớn là xe Gấu đã hoặc chưa đóng thùng. Những chiếc xe ấy giống nhau như mặt lợn con. Chiếc nào cũng phủ kín bụi than, lấm lem dầu mỡ. Nhưng nói mặt lợn con giống nhau, nghĩa là đã thừa nhận những điểm khác nhau của chúng. Vì vậy nhìn những chiếc xe chạy trên đường, người thị xã vẫn phân biệt được xe ấy chạy đi đâu, của công ty xí nghiệp nào. Thì họ vẫn phân biệt được từng con lợn trong ổ lợn con nhà mình đấy thôi.

Ở thị xã mỏ, việc nắm được mặt xe, giờ giấc, cùng tuyến đường hoạt động hàng ngày của chúng là cả một sự sống còn. Một số người vì chưa nắm vững kỹ năng này, lạc bước lên xe của một đơn vị khác lắm khi mất cả ca làm việc. Xe nhiều, mỗi mỏ xe mang một đặc điểm riêng. Xe Đèo Nai màu xanh nhạt, xe Cao Sơn màu xanh đậm, rồi xe của Cọc Sáu, Mông Dương, xe của xí nghiệp Xây lắp, của nhà máy cơ khí Trung tâm... Mỗi đơn vị, xe tuân theo một lộ trình khác nhau. Cái khởi hành ở Cây số năm đi về Độc lập, cái khởi hành ở Độc lập đi về Cây số năm. Phút thị xã vào ca, các tuyến xe đồng thời hoạt động, gấu này gấu kia chạy ngược chạy xuôi rầm rầm. Tiếng máy xe từ đất bằng bay lên, từ núi cao dội xuống. Trong những ngôi nhà ven đường, cốc chén úp trên bàn rung bần bật. Muốn trao đổi với nhau điều gì, những lúc ấy người ta chỉ có thể hoặc hét to vào tai nhau, hoặc đưa tay làm hiệu. Các ngả đường mịt mù bùn đất khói bụi. Mùa khô, bụi cuồn cuộn bốc cao, làm thành một dải lụa ngoằn ngoèo uốn lượn theo chiều uốn lượn của những con đường. Đứng xa hàng cây số nhìn về thị xã, vẫn còn thấy một quầng bụi mờ mờ như sương như khói. Khi các tuyến đường xe ngừng hoạt động, bụi còn mãi lửng lơ trong không khí, để mấy tiếng đồng hồ sau lại nhập làm một với những làn mây bụi mới bốc lên. Mùa mưa, theo nhịp bánh xe lăn, bùn đất bùn than bắn thành dòng cao ngang mái nhà. Những ngôi nhà thị xã than quanh năm bị vây bọc bởi một màu đất, màu than rất đặc trưng. Uông Bí, Hòn Gai, Cửa Ông, Cẩm Phả... từ bao nhiêu năm nay giờ công nhân vào ca lên tầng đều diễn ra như thế. Xe chạy rầm rộ quãng một tiếng đồng hồ thì chấm dứt, không gian yên tĩnh trở lại. Nhưng sự yên tĩnh chỉ kéo dài một lúc, sau đó phố xá lại náo động trong tiếng xe ầm ầm với một cường độ không hề thua kém lúc trước. Sau khi chở công nhân lên tầng vào ca, theo chiều ngược lại, xe đón những công nhân tan ca trở về nhà. Ngày chia ba ca, ngày ba lần thị xã sống trong không khí bừng bừng sôi động. Buổi sáng bắt đầu từ bốn giờ ba mươi, chấm dứt lúc tám giờ ba mươi. Buổi chiều bắt đầu từ một giờ, chấm dứt lúc ba giờ. Buổi tối, từ chín giờ tới mười một giờ khuya. Du khách đến vùng Than, ai cũng ngạc nhiên về cuộc sống khác lạ ở đây. Lạ âm thanh, lạ màu sắc và lạ nhất là những điều người dân vùng Than quan tâm. Như bị rơi vào một thế giới khác, nhiều người không ngủ được. Tha thẩn nơi phố xá, đôi mắt họ bị hút chặt vào vòm trời sao chi chít trên tầng cao. Trong khi đó, những người dân vùng Than vẫn bình yên ăn ngủ cả vào giờ xe chạy, vắng những âm thanh ấy ai cũng thấy trống trải, dị thường. Người lớn nắm giờ xe để chủ động công việc, không nhỡ buổi làm. Trẻ con nắm giờ xe để biết lúc nào bố mẹ chúng trở về. Ngay từ khi chiếc xe đầu tiên rú máy, từ những ngõ hẻm người gọi người lục tục ra đi. Những người không làm ca nắm giờ xe để tránh chúng, đi lại trên các tuyến đường xe tấp nập là cả một tai họa. Những khi ấy, cách khôn ngoan nhất là dạt vào một bên đường đứng nhìn khói bụi, sau đó tiến lui từng chặng. Cũng có người nắm giờ xe để lợi dụng chúng. Xe đưa đón công nhân là một thứ tài sản chung của vùng Than, ai cũng có thể lên, ai cũng có thể xuống mà không sợ bị ngăn cản, miễn sao đừng để nhầm đường.

Sau những người thợ mỏ, cánh sơn tràng là những người nắm giờ xe được tin cậy hơn cả. Vác sản phẩm của rừng trên vai, họ biết cách tiếp cận bến xe nào gần nhất mà không phải ngồi chờ lâu. Nhiều khi chưa ráo mồ hôi, xe đã giúp họ đưa củi gỗ về tận nhà.

Anh công an phường Tam Hợp sáng nay không có được sự am hiểu giờ xe tường tận của những người thợ sơn tràng, nhưng bù lại, giờ anh xuất hành trùng với thời điểm những người thợ mỏ Tây Khe Sim tan ca ba trở về. Vì thế khi anh dẫn ba tên tội phạm ghé vào bến xe Địa chất, cũng là lúc chuyến xe đầu tiên của mỏ Thạch Xương Bồ trờ tới. Đợi cho những công nhân ở khu vực Địa chất xuống hết, anh bình tĩnh dẫn ba tên tội phạm lên xe. Ba gã hai tay bị còng, mang sau lưng ba cái mẹt, lóng ngóng không biết làm cách nào bám vào bậc lên xuống.

- Đỡ hộ người ta tí.

Tiếng một người thợ lò.

- Nào thì đỡ.

Tiếng một người thợ lò khác. Anh này trẻ măng, đứng ngay cạnh bậc cấp. Một tay anh thợ bám vào thành xe, một tay anh chìa ra lần lượt nắm lấy ba đôi tay bị còng.

- Hai ba nào! - Anh hô to.

Ba gã tội phạm được người thợ lôi lên xe. Trên xe không ai bảo ai, mọi người tự động đứng tránh ra, nhường góc phía trên cho ba gã tội phạm. Ba gã đứng đó mặt hướng tới, lưng quay sau. Bây giờ thì ai cũng trông rõ dòng chữ viết trên ba cái mẹt.

- Tội hiếp dâm!

Đọc xong ba chữ ấy, mấy cô gái nhà đèn tủm tỉm cười. Cô nào cũng nghĩ thầm, mình mà rơi vào tay ba anh chàng này thì chỉ có nước chết. Anh thợ lò trẻ sau thành tích đưa tay kéo ba gã lên xe, tự cho giữa mình và ba gã đã có mối kết giao nào đó, anh đến cúi sát mặt xuống ba cái mẹt miệng lẩm nhẩm đánh vần:

- Ô... i... ôi, tờ... ôi... tôi nặng tội, iê... pờ... iêp... hờ... iêp... hiêp... sắc hiếp. Tội hiếp dâm! Chà, hiếp dâm. Hiếp dâm là thế nào ấy nhẩy?

- Là thế này này - Một anh thợ lò trẻ khác xông đến, ôm anh ta vật xuống sàn xe rồi nằm đè lên trên. Hai anh thợ lò ôm nhau lăn lộn trên sàn xe.

- Phải gió hai cái thằng này.

- Sướng cu mụ mặt.

- Khổ, cái đuôi chuột làm hại cả đời người. Theo tớ, thằng nào phạm tội làm bậy thì cứ thiến béng của ấy vứt đi cho chó gặm, đố còn dám... Pháp luật mình nhân đạo chung chung, lúc nào cũng giáo dục cải tạo, vì thế hầu hết bọn tội phạm mãn hạn ra tù, sẵn sàng tái phạm ngay. Thằng ăn cắp tiếp tục ăn cắp, thằng giết người tiếp tục giết người, thằng hiếp dâm tiếp tục hiếp dâm, chẳng ra làm sao cả. Cứ thiến chúng đi là thượng sách.

Một ông thợ lò có tên là Hôn bình luận. Ông này tuổi trung niên, người gầy, da trắng. Xét về góc độ tội phạm học, ông Hôn đồng quan điểm với ông trưởng công an phường Tam Hợp. Nghe ông Hôn bày tỏ quan điểm của mình, một đồng nghiệp của ông vặc lại:

- Thiến! Có mà thiến ông ấy.

- Tao làm gì nên tội mà thiến?

- Ông đẻ ra toàn thị mẹt nên phải thiến. Chính những thị mẹt như những thị mẹt nhà ông đã làm chúng tôi nhảy dựng lên đấy. Hiểu chưa nào?

Ấy là anh thợ trẻ trêu ông Hôn về việc vợ ông đẻ toàn con gái. Người ta nghĩ cũng lạ, người đẻ toàn con trai, người đẻ toàn con gái. Ông Hôn dù đã cố gắng bao nhiêu, nhưng mỗi lần như vậy y như rằng sau đó vợ ông lại cho ra đời thêm một lục cách cách, thất cách cách, bát cách cách nữa. Khi đẻ đến đứa con gái thứ năm, vợ ông quyết định không tiếp tục cái việc mua số cầu may. Ông phải dỗ dành mãi bà rằng, đứa thứ sáu nhất định là con trai, rằng năm lần trước do ông mở hầm chưa đối hướng. Bây giờ ông đã học được ở cánh trắc địa mỏ cách xác định hướng lò rồi, thì không lý gì lại không ra con trai. Nghe bùi tai, bà Hôn tháo vòng sinh đứa con thứ sáu. Khi đứa bé cất tiếng chào đời, hai vợ chồng xiết bao thất vọng, đứa bé mới sinh cũng lại là con gái. Cứ cố gắng như thế, từ năm đứa ngày nào, rốt cuộc ông bà Hôn đã có tới đứa con gái thứ chín. Bây giờ tuổi ngoại năm mươi, thợ lò bậc sáu Nguyễn Văn Hôn vẫn băn khoăn không biết mình có nên cố gắng nữa hay không? Bị đụng chạm đến nỗi buồn sâu xa, ông Hôn nói liều:

- Không phải thị mẹt nhà tao bị hiếp nhé.

- Thế thị mẹt nhà ai vậy?

- Con Lê.

- Lê nào? Có phải Lê trước làm hợp đồng ở công trường than sàng 110, nay đi học mậu dịch viên ở trường Thương nghiệp trên cây số mười ba không?

- Đúng rồi. Lê yêu thằng Hóa ấy.

- Hóa nào?

- Hóa công trường mình chứ còn Hóa nào nữa.

- Hóa ơi, Hóa đâu rồi, Hóa có đi xe này không?

Xe ầm ầm chuyển bánh.

   III

 Từ thị xã, có thể lên Tây Khe Sim bằng hai con đường. Thứ nhất, con đường chính, làm từ khi phương án khai thác than ở đây được chấp nhận. Để có con đường này, đội cầu đường của mỏ đã phải xẻ núi đào đất đá, bạt ta tuy, san lấp thung lũng, xây hệ thống thoát nước hai bên lề. Sau khi làm xong, con đường như một dải lụa đen uốn lượn giữa trập trùng núi cao vực sâu. Từ mức số 0 dưới thị xã, nó tăng dần độ cao bò lên mức 128, 200. Mùa khô, mọi thứ xe của mỏ có việc lên Tây Khe Sim đều đi đường này. Mùa mưa nhiều xói lở, mặt đường không ổn định, con đường chỉ còn dành riêng cho xe chở gỗ và lương thực thực phẩm. Để bảo đảm an toàn, xe chở công nhân vào ca chỉ được phép chạy theo đường quốc lộ 18, đến đỗ ở chân núi đoạn cây số bảy. Từ đó, mọi người cuốc bộ leo một con dốc dựng dài một ngàn một trăm mười ba bậc lên công trường bộ. Con đường xuyên sơn này là con đường thứ hai. Leo xong ngần ấy bậc dốc, ngay cả những vận động viên leo núi cũng phải thở hơi ra đằng lỗ tai. Cánh thợ lò ngày tám tiếng đồng hồ xuống lò ngầm, lên lò thượng, chân cẳng còn khỏe hơn cả những vận động viên leo núi chuyên nghiệp. Dù thở đấy, nhưng chỉ cần nghỉ ngơi một lúc, sức lực của họ hồi phục ngay. Bù lại việc leo một ngàn một trăm mười ba bậc dốc, đến bậc dốc thứ một ngàn một trăm mười ba họ thoải mái ngắm trời mây non nước. Vì những giây phút thần tiên này, Hóa thích lên Tây Khe Sim bằng con đường thứ hai. Cảnh non xanh nước biếc của vịnh Bái Tử Long luôn làm anh mê đắm. Ca ba, khi anh leo hết ngần ấy bậc dốc lên công trường bộ, đồng hồ thường chỉ mười giờ đêm.

Đêm.

Không thể nhìn thấy những hòn đảo đá nhấp nhô, những cánh buồm xòe như cánh bướm, Hóa vẫn phanh ngực đứng đầu dốc, mắt dõi về phía trước. Dãy băng chuyền sáng đèn băng ngang sườn dốc, từ đỉnh 128 xuống chân núi. Đường quốc lộ chạy men theo vịnh biển, thỉnh thoảng lại thấy một chiếc ô tô vội vã phóng về thị xã. Thấp thoáng ánh đèn từ những chiếc thuyền câu trên vịnh Bái Tử Long. Cũng đã có đêm Hóa đi câu cá tôm trên vịnh biển, để chơi hơn là để kiếm tôm cá, nhưng thật thích. Chiếc thuyền câu lướt nhẹ. Sóng vỗ vào mạn thuyền làm ánh lên những vệt lân tinh. Những con cá mắc lưới bị bắt quăng xuống đáy thuyền rồi vẫn tròn mắt nhìn anh ngạc nhiên. Chưa xong buổi câu Hóa đã ngủ gà ngủ gật... Đêm nào cũng từng ấy cảnh, mà Hóa có cảm tưởng cảnh đêm nào cũng khác nhau. Đêm nay, ngôi nhà đầu xóm núi cuối chân dốc còn sáng đèn, nghĩa là chủ nhân ngôi nhà đang bận làm một việc gì đấy. Mọi đêm họ đi ngủ sớm, chẳng mấy khi thấy ánh đèn. Hóa đứng trầm tư mặc tưởng, ngọn gió đêm mang nhiều hơi nước phả lành lạnh vào người anh, thấy rõ sương đang xuống. Những hạt sương li ti Hóa biết được bằng cảm giác hơn là bằng xúc giác. Phía nhà đèn vọng lại tiếng người. Hình như có đám cãi nhau. Hóa lắng nghe, không rõ chuyện gì, anh đứng dậy đi về phía sáng.

Những tiếng người mà Hóa nghĩ là đám cãi nhau ấy, hóa ra là cuộc đấu khẩu giữa ông Hôn thợ lò bậc sáu, làm cùng kíp với Hóa và cô Sinh con ông Nhâm, quản đốc công trường 128A, tức công trường của anh. Sinh mới được bố xin cho vào làm thợ điện trong mỏ, tuần ca ba này là tuần làm việc đầu tiên của cô. Chiếc cửa sổ hình vuông có song sắt dùng để giao nhận đèn bị những người đến trước chắn ngang, không len vào được, Hóa đứng ngoài tựa cột lắng nghe.

Ngày trước ở mỏ, công nhân vào lò làm việc dùng đèn đất. Từ khi khu vực 13-50 bị cháy, việc dùng đèn đất chấm dứt, mỏ chuyển sang dùng đèn ắc-quy. Bình ắc-quy cho vào bao cao su thắt ngang hông, loa đèn gắn trên mũ nhựa, đi đâu, làm gì ánh sáng cũng luôn tỏa trước mắt người dùng. Cánh thợ lò trẻ vì thế thích dùng đèn ắc-quy hơn. Nhưng cánh thợ già vẫn thích dùng đèn đất. Mang bao da nặng trĩu bên mình họ cảm thấy vướng, rủi ro hơn, gặp phải một bình ắc-quy nào đó vặn không chặt xút chảy ra. Dù đã có bao bọc ngoài, người mang vẫn cứ bị cháy thịt mông như chơi. Vả lại đèn ắc-quy độ sáng thua đèn đất. Những cây đèn đất chăm sóc tốt, tia lửa phóng chéo hình đuôi cá, phần chót đuôi có màu xanh, thân và đầu con cá sáng trắng trông thật đẹp. Ngoắc vào vách lò, một ngọn đèn đất như thế đủ chiếu sáng cả gương than. Mỗi người một đèn, gương than thành đêm hội hoa đăng huyền bí như những câu chuyện cổ tích vẫn mô tả. Lúc nghỉ ngơi, người thợ có thể giải trí bằng cách mở đèn thay đất, dùi lại kim nước, thi xem đèn nhà mình có rạng hơn đèn nhà hàng xóm hay không. Những hòn đất đèn có mùi hăng hăng, thối thối ngửi mãi cũng quen. Đề phòng đất đèn bị ngậm nước trong không khí mà tơi vụn, những người thợ có kinh nghiệm đem nhúng chúng vào thùng dầu hỏa. Lúc bỏ đất vào đèn, họ chùi sạch lớp dầu bên ngoài, từ đấy hòn đất ngậm nước thực hiện một quá trình phản ứng hóa học cung cấp khí đốt. Cây đèn đất tốt, đã một thời là niềm tự hào của những người thợ mỏ. Họ thi nhau ánh sáng và lấy làm tự hào về nguồn sáng của mình. Trong đêm tối cầm cây đèn đất trên tay, người thợ đi đến đâu bóng tối rẽ ra đến đấy. Đèn chung thủy với họ cả trên công trường cũng như khi ở nhà. Ra khỏi hầm lò, họ không phải trả lại đèn cho mỏ, không phải chịu sự hạch hỏi của những cô gái làm nghề giao nhận bảo dưỡng đèn. Dùng đèn ắc-quy, nhỡ đánh rơi một ốc vít, một miếng kính lại phải giải trình mãi với những đứa con gái tuổi chỉ bằng tuổi con cháu họ. Cái hay cái dở của việc dùng hai loại đèn là như thế, nhưng những cái hay cái dở ấy chỉ những người thợ già mới phân biệt được. Vì thế ông Hôn rất bất bình với cánh thợ trẻ, chúng chẳng hề biết tới những đau khổ của ông. Từ bất bình cánh trẻ, ông bất bình luôn với những cô gái nhà đèn, cô nào cũng mũ cao áo dài, găng tay găng chân cứ như đám đốc-tờ trong các nhà thương. Đêm nay leo xong một ngàn một trăm mười ba bậc dốc từ độ cao số 0 lên độ cao 128, ông đi thẳng đến nhà đèn. Nhưng Hôn chưa mượn đèn. Ông ngồi bệt xuống thềm xi-măng nhìn đăm đăm vào đêm tối, sau đó lách mình vào ô cửa nói với cô gái phát đèn trẻ măng có hai bím tóc hất lên cao, thường thấy ở những cô gái người Hoa ngoài thị xã. Cô gái này ông không biết tên, tuổi cỡ con gái thứ tư, thứ năm của ông. Ông chẳng ghét cô gái đến nỗi phải cãi nhau, nhưng thấy cô lính mới mỗi lần trao đèn cho ai lại dặn dò đủ thứ, nào không được làm chảy nước xút, không được đánh vỡ kính đèn v.v... Hôn bèn thử trêu cô cho vui. Lấy bộ điệu thờ ơ, ông nói với cô gái:

- Cho Hôn một cái.

Cô gái tròn mắt ngạc nhiên. Không thể mắng ông, cô lặng im coi như không có ông trên đời, bình tĩnh phát đèn cho những người thợ khác. Thấy cô gái không trao đèn cho mình, ông Hôn điềm tĩnh nhắc lại lời yêu cầu:

- Cho Hôn một cái.

- Phải đấy, cho ông già hôn một cái đi em.

Biết ý ông Hôn, cánh thợ trẻ chợt nhao lên tiếp lời. Cô gái đỏ mặt vì tức, vì ngượng. Giá một anh thợ trẻ nói vậy còn khả dĩ, đằng này ông già cổ kính như trái đất rồi vẫn còn đĩ tính. Ghìm tức giận, cô gái nói với ông:

- Bác đứng đắn vào nhá. Già rồi còn dơ.

Sau câu nói người lớn ấy, cô tưởng ông già sẽ thay đổi thái độ, xin lỗi cô. Nhưng bất chấp lời cảnh cáo, ông vẫn lì lợm:

- Cô bảo ai dơ? Tôi yêu cầu cô cho Hôn một cái, trách nhiệm của cô là phải cho.

Cô gái bật lên như lò xo:

- Có mà hôn Tố Là ấy!([1])

Ông Hôn cáu, cáu lắm. Giá cô gái bảo ông về hôn chỗ dưới đuôi con chó cái, con lợn sề ông còn chịu được. Nhưng cô lại bảo ông về hôn Tố Là thì thật mất danh dự của ông quá. Ông quát to:

- Cô này láo, bảo cho Hôn một cái mà không cho.

- Tôi không cho!

- Cô phải cho!

- Không cho!

- Phải cho!

- Phải cho, phải cho. Cho hôn một cái đi!

Đám thợ lò hô to như hô khẩu hiệu. Sự can đảm mà cô gái cố gồng lên từ nãy đến giờ sụp đổ. Cô chạy vào nhà trong khóc với chị đội trưởng. Đội trưởng nhà đèn bỏ dở công việc đang làm, ngoắc tay cô gái bước ra. Chị to béo đẫy đà, cảm giác như có thể sưởi ấm cho cả công trường thợ. Khi chị đội trưởng xuất hiện, trật tự lập tức được vãn hồi. Cánh thợ trẻ đứng yên tủm tỉm cười. Chị đội trưởng nhà đèn cất tiếng hỏi:

- Có chuyện gì mà bắt nạt cháu tôi thế các ông này?

Một anh thợ trẻ chỉ vào người thợ già rồi chỉ vào cô gái, nhanh nhảu:

- Có gì đâu, ông này muốn cô này cho hôn một cái. Cô này không chịu, vì vậy ông này mới tức.

Chị đội trưởng nhà đèn đứng như trời trồng. Rồi chị phá lên cười to nắc nẻ, khiến cô gái tổ viên bối rối. Cô lầu bầu trách chị đội trưởng:

- Chuyện thế mà cô còn cười được.

Sau khi cười chán chê, chị đội trưởng bèn quay ra mắng ông thợ già:

- Cha cái ông này, già cốc đế đại vương rồi còn nghịch. Thẻ của ông đâu?

Ông Hôn đưa thẻ mượn đèn. Cầm chiếc thẻ mượn đèn của ông Hôn trong tay, chị đội trưởng quay ra nói với cô gái:

- Cháu cho ông già một cái đèn. Ông ta tên là Hôn, Nguyễn Văn Hôn, số thẻ 2294, làm việc ở công trường 128A. Tại cháu mới đi làm chưa biết hết các hắn, nên các hắn bắt nạt thôi. Phải biết hết tông chi họ hàng các hắn, kẻo có ngày các hắn không chỉ đòi hôn, mà còn đòi tụt quần của mình ra nữa đấy cháu ạ.

Đám thợ lò khoái chí cười vui vẻ. Cô gái cũng cười. Ông Hôn nhận chiếc đèn từ tay cô gái, cẩn thận thắt bao ngang hông, cài ngọn đèn lên mũ, xong ông đến đứng trước cửa sổ tạm biệt cô gái bằng một cái nháy mắt rất điệu:

- Bố đi nghe con gái - Ông nói với Sinh.

Hóa chứng kiến trọn vẹn câu chuyện tức cười vừa xảy ra, khi ông Hôn đi rồi, anh bước đến rút chiếc thẻ mượn đèn trong túi áo trao cho Sinh. Anh nói:

- Em chọn cho anh một cái đèn.

Cô gái vào giá lựa một cái đèn thật sáng đưa tận tay Hóa, ghi số thẻ, số đèn của anh vào sổ. Gấp sổ lại, cô bảo anh:

- Anh Hóa ác lắm nhé. Từ đầu buổi nấp đâu không xuất hiện, để mặc em cho ông già trêu, quê quá.

- Kỷ niệm sâu sắc trong đời làm thợ mà em. Từ nay anh đố em quên được ông già đấy. Bố em đã mượn đèn chưa?

- Chưa! Thường phải khi giao ca xong, công nhân vào vị trí hết ông mới đến lấy đèn. Lấy đèn xong là vào lò ngay, quản đốc mà.

Sinh nói líu lo. Hình như cô tự hào về bố mình lắm. Hóa nhìn ngắm cô gái. Mới một năm, từ một cô bé gầy gò, trước sau như một, cô vụt lớn bổng lên như suối sông mùa lũ, ầm ào sôi sục. Trong bộ quần áo bảo hộ lao động đã chữa lại, Hóa nhận ra những đường cong ở hông, ở ngực cô. Hai bím tóc cô để vểnh sau như đuôi gà trống, má đỏ hồng bồ quân. Nhìn chung trông Sinh có vẻ nữ sinh hơn là một cô công nhân mỏ. Cô gái này rồi sẽ làm khối anh chàng phải khốn khổ đây, Hóa nghĩ. Anh thầm so sánh Sinh với Lê, không biết người nào đẹp hơn. Nhưng anh ngắm Sinh một cách lặng lẽ khách quan, cô đối với anh bí ẩn và xa xôi như những vì sao xanh trên bầu trời đêm tháng sáu. Còn Lê, chỉ nghĩ đến Hóa đã thấy lòng mình dâng lên một mối bồi hồi khôn xiết.

Phía quang sàng vọng lại tiếng thình thình của những tam bông xe goòng va nhau. Tàu điện đang dồn toa. Ánh lửa điện từ điểm tiếp xúc giữa cần vẹt tàu và đường dây điện trần vụt sáng vụt tắt, khu sân ga chập chờn sáng tối. Trong ánh lửa thấy mờ mờ một dãy toa xe dài đang chuyển động, thấy mờ mờ gương mặt người lái phía ca-bin, bờ vách ta-luy xói lở, một dòng nước mỏng manh kiên trì chảy dọc đường xói. Mương thoát nước chưa xây xong, những chiếc cống bê-tông hình chữ U vất chỏng chơ bên vệ đường. Cảm nhận được trong không gian mùi khét của khí trời bị cần vẹt tàu đốt cháy.

Giã từ cô gái, Hóa đi về nhà giao ca công trường. Bình ắc-quy đập lạch xạch bên hông theo những nhịp chân anh bước.

*

*     *

Văn phòng công trường 128A. Một ngôi nhà lá ba gian khung sắt dựng ngay cạnh cửa lò, lưng tựa vào vách núi, mặt tiền nhìn xuống lũng sâu. Nhà không có sân, hay đúng hơn nhà lấy đường tàu điện làm sân. Viên kỹ sư thiết kế mặt bằng công nghiệp khu Tây Khe Sim, quê sinh nếu không ở Nghệ Tĩnh, đời sống quen đếm củ dưa hành đo chai nước mắm, thì nhất định cũng là dân thuyền chã, quanh năm suốt tháng vũ trụ vòng vo trên mấy tấm ván thuyền. Với một cái sân như thế, cánh thợ lò mỗi lần vào ra văn phòng công trường, cứ phải mắt trước mắt sau canh chừng tàu điện, chỉ cần một lần mất cảnh giác có thể toi mạng ngay. Đứng cạnh cửa lò, văn phòng công trường trông như một trạm gác. Từ đây có thể phóng tầm mắt bao quát cả một vùng rộng lớn bãi gỗ, quang sàng, hệ thống sân ga, nhà ăn, nhà tắm, nhà đèn, đội thông gió, phân xưởng cơ điện, phân xưởng vận tải... Tây Khe Sim vốn là vùng đồi cao dốc dựng, để mở được hệ thống đường lò khai thác than ở đây, mỏ đã mất hàng năm trời bạt hàng triệu mét khối đất đá giữa lưng chừng các ngọn đồi lấy mặt bằng công nghiệp. Hệ thống đường lò mở ở độ cao nào, phải chuẩn bị mặt bằng công nghiệp ở độ cao ấy. Lấy mức 128 làm chuẩn, các hệ thống đường lò nhích dần lên, mức 200, mức 270... Càng lên cao, mắt nhìn càng bị ngợp bởi những cánh rừng đại ngàn hùng vĩ kéo dài lên tận đỉnh núi. Trong những cánh rừng ấy, gỗ quý không còn nhiều, nhưng màu xanh hãy còn trùng điệp lắm. Ngày nắng ráo, chót đỉnh rừng cây xanh thắm màu trời, gió luồn qua thung lũng thổi ngược lên cao tạo thành những xoáy lốc nhỏ bốc rác bụi quay tròn một cách tinh nghịch. Tiếng gà rừng te te gáy khiến nhiều người ngỡ gà của công trường nuôi. Ngày mưa, rừng núi ngập trong màu mây xám. Mây ngự trên đỉnh núi cao, theo sườn dốc chậm chạp bò xuống tận công trường. Rải rác trên núi cao, bàn chân người vẽ lên những lối mòn dai dẳng. Trong những cánh rừng, thỉnh thoảng lại vọng ra tiếng búa đẵn gỗ, không biết những tiếng búa đó là của thợ lò hay của dân sơn tràng. Tiếng chim kêu vượn hú, tiếng suối chảy chập chờn, lúc gần lúc xa. Nhìn xuống, quốc lộ 18 như một dải lụa đen len lách qua núi cao vực sâu rồi mất hút sau những dãy núi đá vôi phía Quang Hanh. Vịnh Bái Tử Long êm đềm trầm mặc. Hệ thống băng chuyền than nối mặt bằng công trường với đường quốc lộ. Than khai thác từ những lò chợ được tàu điện chở ra trút xuống quang sàng, băng chuyền sẽ chuyển than xuống những boong ke dưới chân núi. Từ ngày hệ thống băng chuyền được đưa vào sử dụng, suốt ngày đêm Tây Khe Sim ầm ầm tiếng than trôi. Năng lực của những đường lò khai thác được thể hiện trong sự đầy vơi của hệ thống băng chuyền. Khi băng chuyền chạy không tải, những người thợ lò tinh nghịch nhảy lên đường băng, tự mình làm một hòn kíp-lê cho đường băng tải xuống. Cả những vụ vi phạm kỷ luật an toàn kiểu ấy, ngồi ở nhà văn phòng công trường người quản đốc cũng dễ dàng kiểm soát.

Nội thất văn phòng sơ sài. Hai chiếc bàn kê phía đầu vách hồi gần cửa lò, nơi làm việc của các lò trưởng, ca trưởng. Bên dưới đặt những băng ghế dài dành cho công nhân hàng ngày ngồi nhận ca. Chiếc bảng đen làm bằng vải ống gió vẽ sơ đồ đường lò công trường quản lý, tiến độ hàng ca của các gương lò treo trên tường. Cạnh bảng, một cái đinh đóng vào vách tường găm đủ loại giấy tờ: Phiếu ốm, phiếu nhận gỗ, phiếu nhận mìn v.v... Với cách bài trí ấy, văn phòng công trường trông giống như một lớp học dã chiến. Dĩ nhiên có thể xây dựng một nhà làm việc đẹp hơn, nhưng với những người làm nghề ăn cơm dương gian nói chuyện âm phủ, chân đi ủng nhựa, đầu đội mũ cứng, quần áo nhiều khi rách toạc phải buộc túm bằng những sợi dây điện nhặt trong các bãi mìn mà vẫn thò hết của chìm của nổi ra ngoài, thì một sự chỉn chu kiểu công sở trở nên không cần thiết.

Ông Nhâm, quản đốc công trường đang ngồi ghi chép ở bàn. Thông thường quản đốc công trường được miễn đi ca ba. Nhưng những năm làm thợ ông đã quen đi ca ba, vì vậy khi được bổ nhiệm làm quản đốc, ông vẫn giữ thói quen ấy. Tuần nào mỏ ít họp hành ông nhường ngay suất ca một cho một ông ca trưởng nào đó, còn mình thay ca trưởng chỉ huy sản xuất ca ba. Đang ngồi viết, liếc xuống phía dưới thấy những băng ghế đã kín chỗ, ông gấp sổ lại, đóng nắp bút đứng dậy. Giờ giao ca bắt đầu. Ông Nhâm khổ người cao, nước da trắng, dáng lưng hơi còng. Khi ông nói, yết hầu nổi một cục to chạy đi chạy lại. Ngắm ông, Hóa thấy ông thật giống Sinh. Sinh cũng có nước da trắng, gương mặt mỏng, thanh tú.

Hóa vừa đi làm vừa theo học bổ túc văn hóa. Năm nay tốt nghiệp cấp ba, anh thi luôn đại học. Xem bài làm của anh, nhiều người bảo anh sẽ đậu, Hóa cũng tin thế, nhưng điểm cao thấp thì anh không biết. Những ngày chờ đợi này, trong anh có một sự phân thân. Một mặt, anh muốn coi như không có chuyện gì xảy ra để yên tâm làm việc như ngày nào. Mặt khác, anh nghĩ những ngày này là những ngày đào than cuốc mỏ cuối cùng trong đời mình. Đã học đại học Mỏ, dĩ nhiên anh sẽ làm mỏ đến trọn đời, nhưng làm mỏ trên một vị trí khác, nhàn nhã hơn, khó khăn hơn: Vị trí của những người trí thức! Vì sự phân thân ấy, nên lắng nghe những việc phải làm trước mắt mà lòng anh cứ phiêu diêu trong những liên tưởng, so sánh tương lai. Nếu trúng tuyển đại học, cảnh lên lớp hàng ngày của anh mai đây cũng giống thế này. Cũng một chiếc bảng đen, những băng ghế dài, nhưng người thuyết trình khi ấy không còn là ông Nhâm, mà sẽ là một thầy giáo nào đó. Sự giống nhau về hình thức giữa nhà giao ca công trường và một giảng đường đại học trong tưởng tượng của Hóa, khiến anh thấy ông Nhâm gần gũi hơn. Nếu làm thầy giáo, ông Nhâm sẽ là một thầy giáo giỏi, Hóa nghĩ vậy. Trên cương vị quản đốc công trường, ông nắm vững công việc cần làm và truyền đạt những công việc ấy lại cho những học trò - đồng nghiệp của mình bằng một lối nói khúc chiết, rõ ràng. Những người thợ nghe ông một cách chăm chú. Những người thợ cũng là những học trò giỏi, họ nghe ông và hiểu ngay những điều ông gửi gắm.

Đã thành lệ, giờ giao ca tình hình chung trong mỏ, các chế độ chính sách Nhà nước mới ban hành, thời sự trong nước, thời sự quốc tế, những điều cần phổ biến cho toàn thể công nhân người ca trưởng nói trước, công việc cụ thể của từng người nói sau. Công nhân khi biết đích xác công việc mình phải làm trong ca, người trước người sau lặng lẽ rút lui thay quần áo. Đứng trước chiếc bàn vuông, người ca trưởng tiếp tục truyền đạt công việc đến người thợ cuối cùng. Cảnh tượng văn phòng công trường giờ giao ca cũng giống như cảnh tượng trên những chuyến xe chở công nhân về lúc tan tầm, sau mỗi bến đỗ người trên xe thưa dần. Khi những người thợ cuối cùng đứng dậy, giờ giao ca kết thúc.

Buổi giao ca hôm nay ông Nhâm bỏ qua phần điểm tình hình trong mỏ, trong nước và quốc tế. Gấp cuốn sổ lại, ông đi ngay vào việc giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người:

- Chống phá xuyên vỉa ba: Thắng, Chiều, Vĩ. Chống dặm đường vận chuyển chính: Khâm, Mộc. Đi gương thượng lớp bảy: Hôn, Hóa, Điều, Lợi. Ở đây các bác các anh chú ý, nếu thấy nước mạch nhiều, đất đá không ổn định, phải giảm lượng thuốc nổ. Mùa mưa công việc khó khăn, nhưng cố gắng đẩy nhanh tiến độ, chọc thủng càng sớm càng tốt...

Nghe đến đây, bốn người trong nhóm của Hóa nhất loạt đứng dậy lặng lẽ đi ra tủ đựng quần áo, dụng cụ làm việc đặt ở dưới bụi cây bông ỏng. Gọi là tủ, nhưng đó là một chiếc xe goòng hỏng được hàn thêm hai bản lề ở phía trên để lắp cánh cửa làm nắp đậy. Thay xong quần áo, cả nhóm hối hả đi vào gương than.

*

*     *

Gió hun hút thổi dọc đường lò. Những ngày nóng nực, ngọn gió này là một liều thuốc hồi sinh lý tưởng cho những người thợ. Sau tám tiếng đồng hồ làm việc mệt nhọc, gió mau chóng lau khô những giọt mồ hôi trên người họ, xóa đi những nỗi nhọc nhằn mà người thợ đã chịu đựng, nếm trải. Người thợ cảm nhận được trong gió vị mặn của biển khơi, hương thơm của những cánh rừng đại ngàn, vẻ nồng đậm của cuộc sống ồn ào trên mặt đất. Tắm mình trong gió họ hiểu ngay ngoài trời hôm nay mưa hay nắng, hanh khô hay sương mù. Thậm chí qua ngọn gió ồn ào bất tận, có người không nhìn đồng hồ cũng đoán chính xác lúc này là mấy giờ. Ngược lại, mùa rét chịu đựng ngọn gió dọc đường lò là cả một nỗi cay cực ghê gớm. Lúc ấy gió mang theo cái lạnh buốt xương từ những triền núi đá điệp trùng tận phương Bắc xa xôi, từ những sa mạc cát hoang vu không dấu chân người, từ những thảo nguyên mênh mông tuyết phủ thổi liên tu bất tận. Chịu đựng ngọn gió ấy, mười ngón tay cầm choòng co quắp lại, đôi tai muốn rụng khỏi mang tai, hai môi tím tái. Chống lại cái rét của những ngọn gió thổi dọc các đường lò mùa rét, có người đã thử mang thật nhiều quần áo trên mình. Nhưng khi đến gương than anh đành phải cởi bỏ, gương than nóng, mặc nhiều quần áo không chịu được. Vả lại nếu gương than không nóng, quần áo sẽ làm anh vướng víu khó quai búa, thúc choòng. Hết ca làm việc trở ra, những quần áo đã cởi bỏ cũng khó mặc vào lại. Những đường lò nói chung nhiều nước, mùa mưa nước càng nhiều hơn, quần áo dù cất chỗ nào cũng dễ ướt nhoẹt.

Bấy giờ đang mùa mưa, tiết trời mát mẻ. Gió cửa lò mang nhiều hơi ẩm thổi nhớp nháp suốt ngày đêm, quần áo vừa khô giòn bỗng chốc mềm lại. Rãnh thoát nước bên hông lò nước chảy ầm ầm. Trừ đường lò vận chuyển chính được cuốn bê-tông, những đường lò còn lại nước thẩm thấu qua muôn trùng đất đá rơi rả rích. Nước nhiều nhất vẫn là những đoạn đường lò đi qua phay phá, qua các nếp đứt gãy của những tầng nham thạch. Những đoạn đường lò ấy, nước tong tong chảy thành giọt thành dòng. Đi qua chúng, người nào cũng phải vụt chạy nếu không muốn bị ướt. Dọc đường lò, những ngọn đèn điện chăng đều cách quãng. Trong quầng sáng của những ngọn đèn, hơi nước bốc lên đường lò trong mờ mờ ảo ảo. Tiếng chuyện trò, tiếng chân bước rậm rịch. Từ chiếc cúp đổ bê-tông bên vách một đoạn lò, bà Phả trực điện thoại lẳng lặng ra cài cánh cửa sắt lại, sau đó thận trọng dịch chiếc ghế đang ngồi vào sâu bên trong cúp. Hồi chưa xảy ra cháy mỏ, bà ngồi trực điện thoại trong đường lò khu vực 13. Cúp ở đó đào nông, nên dù cửa cúp đã khóa bà vẫn bị cánh thợ lò đi qua thò tay vào bóp vú. Chuyện chẳng có gì phải làm ầm ĩ, nhưng khi kiến thiết cơ bản đường lò ở khu vực Tây Khe Sim, các nhà kỹ thuật của mỏ đã rút kinh nghiệm để những chiếc cúp có phụ nữ làm việc được đào sâu hơn, rộng hơn. Gặp những chiếc cúp ấy, người có cánh tay dài như tay ông Lưu Bị(1) cũng đành chịu thúc thủ. Yên tâm trong sào huyệt của mình, khi tốp thợ của Hóa đi qua, bà Phả cất giọng thõng thượt:

- Có lạnh không các em ơi, vào đây chị sưởi cho nào.

Hóa nhìn vào cúp điện, lại nhìn ông Hôn:

- Kìa bác Hôn, bà Phả mời bác kìa.

Ông Hôn càu nhàu:

- Làm gì được mày, cửa thì nó khóa, ghế ngồi thì nó dịch vào sâu. Nói đùa chứ nó cởi truồng ra đấy cũng chịu.

- Chị đợi đấy - Điều buông một câu gỡ danh dự. Tiếng Điều âm âm trong lòng đất.

Hết đường lò vận chuyển chính đến đường lò xuyên vỉa, những ngã ba liên tiếp hiện ra. Những người thợ mỏ chia tay tại những ngã ba ấy, tiếng bước chân của họ xa dần rồi mất hút ở đâu không biết nữa.

Sau một chặng dài cuốc bộ, kíp thợ của Hóa đến chân thượng lớp bảy. Trước khi bắt tay vào công việc, cả tốp ngồi lại dưới chân thượng hút thuốc. Ông Hôn cắm phập cây choòng xuống nền lò, nói to:

- Khi tao cắm cây choòng thế này là có bao nhiêu thằng bám vào, thằng Kế hoạch, thằng Tài vụ, thằng Lao động tiền lương, thằng Kỹ thuật, thằng Địa chất, thằng Trắc địa... Cấm có thiếu thằng nào. Mai đây lại thêm thằng Hóa nữa. Thế mà chúng bắt ne bắt nét tao đủ thứ, rằng cấm dùng đèn đất, cấm hút thuốc trong lò, làm thân cu-li đến khổ. Mai đây lên làm lãnh đạo, nhớ nương nhẹ cho chúng tao một chút nghe Hóa.

Trong bốn người, ông Hôn và Hóa là thợ chống cuốc. Lợi, Điều thợ vận tải. Hóa biết ông Hôn nói vui. Tính ông thích triết lý lặt vặt, thích nói văng mạng những điều khó nói. Thực lòng, ông rất yên tâm với công việc của mình. Hóa trêu ông:

- Dĩ nhiên tôi sẽ đè đầu cưỡi cổ ông, nhưng chưa cần đến tôi, chục cái l... nhà ông nó đè ông cũng đã méo mặt rồi.

- Đúng! - Ông Hôn thừa nhận - Nhưng còn thân mày nữa đấy ôn con ạ. Con Lê rồi nó cũng sẽ đè đầu cưỡi cổ mày thôi. Chúng ta đều vậy cả. Tao như con cá trong lờ, muốn ra không ra nổi. Chúng mày như những con cá ngoài lờ, cứ phải vào được trong lờ mới yên. Thằng Lợi thì xoắn lấy con Cẩm, thằng Điều thì xoắn lấy con Hằng, chẳng biết thằng nào khôn, thằng nào dại.

- Thôi, con lạy các bố. Đừng có ngồi mà chứng minh gương than hình bầu dục nữa, các bố lên gương ngay để chúng con còn đi bắt xe.

Điều nói và kéo Lợi đứng dậy. Hóa bật quạt thông gió, rồi cùng ông Hôn cầm choòng búa leo lên thượng. Vừa đặt một chân lên bậc dốc, ông Hôn quay lại nói với hai thợ vận tải:

- Xe bắt lấy năm cái. Một thằng bắt xe, một thằng lên kiểm tra kỹ tời và máng, chuẩn bị bắn mìn xong thì tải than, chuyển gỗ.

- Nhất trí! - Lợi và Điều rập chân đánh rụp khiến ông Hôn khoái chí. Ông bập lưỡi búa vào thân một cây gỗ chống lò, sau đó nắm cán búa lấy đà kéo mạnh, đu mình lên cửa thượng.

Lối lên thượng gập ghềnh. Đoạn lò phía chân thượng tương đối rộng rãi, phía trên nhiều chỗ áp lực đất đá lớn, nén vì chống vẹo xiêu dúm dó. Không thể đi ngay lưng, hai người phải khom mình lại, tay bám vào những cây cột chống lần từng bậc một. Gặp nơi đường lò bị nén thấp quá, cả hai phải bò. Nước rỉ khắp bốn mặt đường lò, nhưng không đủ nhiều để cho than có thể tự chảy, thành ra chúng cứ quánh lại như cứt trâu. Lên đến gương, quần áo hai người dính than bê bết. Kiểu đường lò này, chọc thủng là phải chống phá ngay.

Gương thượng nóng, ẩm ướt. Đường ống dài, gió cuối nguồn không đủ sức xua nóng đi. Mồ hôi Hóa bò lẩn mẩn trên lưng. Anh cởi cúc áo đến đứng trước ống gió xẹp lép, mềm xàu. Từ ống gió tuôn ra đều đều một luồng gió nóng yếu ớt như hơi thở tàn của một con quái vật khổng lồ. Đứng một lúc, anh cài cúc áo lại, cầm choòng gẩy những hòn than trên gương cho chúng rụng xuống để lấy chỗ khoan mìn. Bất ngờ một tảng than từ nóc lò đổ ụp. Không đoán trước được mảng than rơi, nhưng bằng một linh cảm nghề nghiệp, Hóa thoắt nhảy lùi phía sau. Trước mắt anh đất đá ào ào rơi xuống. Lò sụt nóc, gương than phút chốc bị vùi trong đống đất đá to lù.

Ông Hôn nhìn Hóa gật gù:

- Mày giỏi! Làm mỏ là phải nhanh như thế. Bây giờ mày xuống chọn gỗ, chắc phải xếp cũi lợn nóc đấy. Nhắc hai thằng dưới kia lấy thêm năm vỏ xe nữa, đất đá nhiều thế này mười xe may ra mới tải hết.

Hóa rời thượng xuống đường lò cái lớp. Đống gỗ ở dưới chân thượng xấu, không đủ tiêu chuẩn làm cột chống, anh đi thẳng ra ngã ba rồi từ đó ngoặt vào cúp gỗ đặt ở đường lò xuyên vỉa. Qua khỏi ngã ba, Hóa gặp Ngọc, thợ vận tải công trường 128B đang ngồi buồn thiu bên chiếc xe goòng bị cặm. Chiếc xe goòng chở đầy đất đá, trật cả bốn bánh khỏi đường ray. Nếu không xúc đất đá ra ngoài, bốc được chiếc xe lên mặt đường là cả một vấn đề nan giải. Có lẽ hiểu điều đó nên Ngọc không chuẩn bị những cây đòn, gỗ chống để bẫy xe. Chắc Ngọc đang chờ tàu điện.

Ngắm chiếc xe goòng trật bánh, Hóa buông một câu:

- Mẹ kiếp, làm ăn như buồi. Đoạn đường bằng phẳng thế này mà cũng đánh cặm xe được thì tao phục mày.

Ngọc tức, nhưng tức vì lời chê thì ít, mà tức vì người chê thì nhiều. Giữa Hóa và Ngọc có một món nợ. Năm ngoái hội thao dân quân tự vệ, mỏ tổ chức thi vật. Hóa tham gia, anh lần lượt cho các đối thủ lấm lưng trắng bụng. Đến khi tưởng không còn đối thủ nào, chợt đâu Ngọc nhảy ra, Ngọc cao to lực lưỡng, thoạt nhìn Hóa đã thấy chờn. Bước vào sới, trong lúc Hóa ra ràng rất đúng bài thì Ngọc vờn múa loạn xạ, khiến Hóa không hiểu Ngọc định chơi môn võ vật gì. Thế rồi khi Hóa đang dò tìm miếng thế của đối phương, bất thần Ngọc đâm sầm vào túm chặt lấy Hóa lẳng khỏi sới vật. Người xem vụt cười ầm ĩ. Hóa lồm cồm bò dậy. Bị đau và bị xấu hổ, nhưng Hóa hiểu ngay Ngọc không biết vật. Anh bị đánh bại chỉ do nhất thời núng thế. Bình tĩnh trở lại, Hóa bước vào sới vật tiếp. Ngọc quen mùi định soạn lại bổn cũ, nhưng Hóa biết tỏng. Để cho Ngọc hoa múa chân tay, Hóa nương tay nắm tay Ngọc kéo vào mình, nhanh chóng lừa thế ôm vai kéo đối phương sụp xuống. Suýt nữa Ngọc bị anh rút tụt xương vai, may trọng tài kịp thời can thiệp. Keo vật kết thúc, Hóa bước lên bục lãnh thưởng.

Keo vật, cuộc đụng độ đầu tiên giữa Hóa và Ngọc nhìn chung đã không làm hai bên mất mặt. Nhưng trong lúc xe goòng bị cặm chưa bốc lên được mà Hóa mắng Ngọc thì Ngọc tức. Từ tức Hóa trước mắt, Ngọc chuyển sang tức Hóa ngày nào, hai cái tức dồn lại khiến nộ khí trong người Ngọc bốc lên, Ngọc đứng dậy nhìn Hóa sừng sộ:

- Mày bảo ai làm ăn như buồi?

- Tao không bảo mày, tao chỉ bảo thằng nào đường bằng phẳng thế này mà lại đánh cặm xe làm ăn như buồi thôi.

Ngọc không nói gì, lẳng lặng rút cây chèn gỗ bên hông lò nhắm Hóa lia thẳng cánh. Hóa thụp người tránh cây chèn, khi cây chèn trượt qua anh chồm dậy giật chiếc mũ nhựa trên đầu xuống nhằm cánh tay cầm chèn của Ngọc đập mạnh. Chát! Cây chèn trong tay Ngọc văng xuống rãnh nước. Ngọc ôm tay rãy rãy. Hóa đội mũ lên đầu, thủng thẳng:

- Phải biết kính trọng đàn anh nghe em.

- Được rồi, ra lò mày biết tay ông.

Nhìn Hóa đi về cúp gỗ, Ngọc hậm hực đe dọa.

Vì lò bị sụt nóc, gần hết ca nhóm thợ của Hóa phải tập trung tải hết số than, đá trên gương. Tải xong đã bốn giờ sáng, cố gắng dựng thêm một vì chống, xếp cũi lợn che kín nóc lò, bốn người đi ra, đói mệt rã rời. Kế hoạch tiến độ chống hai vì của họ hôm nay chỉ hoàn thành một nửa. Cất choòng búa vào cái xe goòng hỏng, Hóa vội vàng đi tắm rửa, ăn cơm để về cho kịp chuyến xe đầu tiên. Ca làm việc trắc trở làm anh nóng ruột và uể oải.

Lên xe, Hóa đứng vòng ngoài. Khi xe dừng ở bến Địa chất anh là người đầu tiên nhìn thấy ba gã tội phạm. Anh không nói gì. Bọn tội phạm đã có tòa án trừng phạt, chỉ thương cho nạn nhân, Hóa nghĩ vậy. Trong ba gã, gã thấp đậm, da bánh mật, cổ to như cổ trâu và gã dáng người cao hai mắt thụt sâu vào hố mắt thành hai hõm chứa đầy tử khí Hóa quen mặt. Ấy là lần Hóa đón Lê tan ca làm việc trở về. Trên đường về, hai người dừng trước cửa hàng bách hóa thị xã ăn kem. Suốt ca làm việc giữa công trường nắng nôi bụi bặm, Lê khát. Trong lúc Hóa vào mua kem, Lê gỡ chiếc khăn vuông trùm đầu ra rũ bụi rồi chít lại gọn gàng trên đầu. Bộ quần áo cô mặc lấm lem tương phản với gương mặt trắng hồng được bảo vệ bởi chiếc khăn trùm kín mặt suốt ngày làm việc, trông cô vừa lạ vừa đẹp. Mua được kem, Hóa kéo Lê ra đứng dưới tán một cây xà cừ trên hè phố, vừa ăn kem vừa chuyện trò.

Bất ngờ một chiếc xe đạp từ đâu vọt lên vỉa hè, phóng tới phanh kít trước mặt hai người. Bánh trước chiếc xe chen vào giữa Hóa và Lê. Ngồi trên xe là hai gã đàn ông. Gã thấp đậm có nước da bánh mật tụt từ gác-ba-ga xe xuống, co chân đạp vào đầu gối chân phải Hóa, giọng bặm trợn:

- Mày muốn chết hả?

Hóa bất ngờ, nhưng anh phản ứng rất nhanh, khi cái chân của gã phóng tới gần chạm chân phải Hóa, Hóa co chân đạp thẳng vào đầu gối gã lúc ấy đang duỗi thẳng. Cú phản đòn của Hóa làm đầu gối gã to mập bị trật bánh chè. Gã người cao sửng sốt thấy bạn mình bị đả thương, vội vất xe xuống hè đường xông vào Hóa. Đã loại được một tên khỏi vòng chiến, Hóa không sợ nữa. Anh bình tĩnh mở chiếc khóa dây xe đạp cầm ở tay. Nhìn gã người cao, mặt Hóa rắn đanh:

- Mày xông vào ông quật chết tươi.

Biết Hóa không nói đùa, gã người cao đứng ngay tại chỗ, sau đó quay lại dựng xe đạp dậy, nâng gã thấp đậm lên đặt gã này trở lại gác-ba-ga xe. Khi gã làm xong những việc ấy, nhìn sang thì Hóa và Lê đã biến đâu mất.

Sau lần đụng độ ấy, sợ mình bị hai gã trả thù Hóa ít đi đêm, tránh những chỗ tối, trong người lúc nào cũng thủ sẵn một thứ vũ khí để phòng thân. Cách phòng thủ tiêu cực ấy đưa Hóa vào tình trạng của một con thú bị săn đuổi, càng dễ khiến anh bị hại. Khi nhận ra điều đó, Hóa quyết định phóng mình cho tự nhiên, trở lại nếp sinh hoạt bình thường, nhưng sẵn sàng liều thân đánh trả bất cứ một kẻ địch nào. Hóa không hỏi Lê về hành tung của hai gã, nhưng anh biết hai gã cùng ở phường Tam Hợp. Vì sao hai gã bỗng dưng gây sự với anh? Hóa không biết, còn rất nhiều điều anh không biết.

Bẵng một thời gian dài không giáp mặt nhau, hôm nay anh bỗng bất ngờ gặp lại hai cựu thù trên xe. Nhìn những đôi tay bị còng, anh có một mối thương cảm nhất định đối với chúng. Mặc dù đã bị Hóa đạp trật bánh chè, nhưng hơn một năm qua Hóa không bị hai gã trả thù. Lý giải điều này, Hóa cho rằng cách hành xử của hai gã là hệ quả của những tâm hồn ba trợn nhưng tào lao. Anh không ảo tưởng sau cuộc đụng độ, hai gã đã kiêng dè anh. Nhưng nỗi lòng trắc ẩn của anh vụt tan biến khi trong tiếng ồn ào xe chạy, ai đó gọi anh, xướng lên bên tai anh tên người bị hại. Ôi Lê! Người anh yêu, người bấy lâu anh giữ gìn thờ phụng. Người mà suốt những đêm dài tình tự anh hầu như mới chỉ dám đụng đến khuôn ngực, lại bị hai gã giày vò. Người nóng bừng, tim đập mạnh, Hóa vịn vào thành xe, vịn vào bờ vai những người đứng trước len tới chỗ ba gã tội phạm đứng. Anh nâng cằm gã thấp đậm lên, gằn giọng:

- Lại chúng mày!

Rất nhanh, Hóa dang tay tát mạnh.

- Ấy! - Anh công an kêu to.

Tiếng một phụ nữ:

- Nhưng chúng hiếp người yêu anh ấy.

- Cô Lê là người yêu của anh à? - Anh công an hỏi Hóa. Sau khi nhận ra vẻ đau đớn trên gương mặt Hóa, anh hạ giọng - Tôi khuyên anh bình tĩnh xem xét lại. Người yêu anh sao đêm khuya lại ngồi với anh Đức ở đập nước?

Câu nói của anh công an dội một gáo nước lạnh vào con tim đang nóng rực của Hóa. Hóa lặng người muốn khụy xuống. Gã thấp đậm thù hận nhìn anh.

Hóa ân hận thấy như mình có lỗi với gã, nhưng anh không thể xin lỗi gã. Anh trở lại cuối xe nhìn sang một bên đường, lúc này anh chỉ muốn áp mặt vào một bờ vai nào đó mà khóc cho vơi bớt nỗi niềm cay đắng.

Xe dừng lại ở bến 52, Hóa lầm lũi bước về khu tập thể.

Mặt trời đã lên cao trên đỉnh núi Trọc. Trận mưa rào đêm qua còn để lại những vũng nước bên đường. Cây cỏ được mưa rửa sạch bụi than trông xanh mơn mởn. Hàng dâu da bên bậc dốc từ bến 52 dẫn về khu tập thể công nhân mỏ lấm tấm nở hoa. Hoa dâu da ít thơm với người mà thơm nhiều với ong, nên những con ong hút mật suốt ngày không chán. Những bụi lau bên đường ngậm nhiều nước, lá xanh, sắc cọ vào ủng của Hóa nghe roàn roạt. Đến đỉnh dốc Hóa dừng lại buồn bã ngoái nhìn ngọn núi Trọc. Sườn núi trồng nhiều thông, dưới những gốc thông là những ngôi nhà xóm thợ. Theo sườn núi từ thấp lên cao, mái nhà nọ chạm vào nền nhà kia. Những ngôi nhà lưng tựa vào vách núi, mặt ngoảnh ra biển khơi. Một con đường dốc len lách giữa những ngôi nhà, chạy từ khu 52 lên tầng 110. Tình yêu giữa anh và Lê khởi đầu từ con đường dốc cheo leo ấy.

 

  ([1]) Nhân vật có thật ở Cẩm Phả, hình dung xấu xí, sống không chồng, không nhà cửa, lang thang nơi đầu đường xó chợ, có nhiều con. Mỗi lần sinh con ra, Tố Là lại đem cho hoặc bán con cho người khác.

 
(1) Nhân vật trong truyện Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung (Trung Quốc).

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 22/01/2019

Tin khác

BÔNG HỒNG KHÔNG GAIBÔNG HỒNG KHÔNG GAI
CHÙM TIỂU LUẬN CỦA NHÀ VĂN ANH CHICHÙM TIỂU LUẬN CỦA NHÀ VĂN ANH CHI
THƠ NGÔ KHATHƠ NGÔ KHA

Tin mới nhất

NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA
NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA

Độc giả phương Tây và cả độc giả Việt Nam tìm gì và tìm thấy gì ở Diêm Liên Khoa, qua những tác phẩm phơi bày hiện thực ở trạng thái nguyên thô nhất? Ông đã tự kiểm duyệt và nói gì về những tác phẩm văn chương bị kiểm duyệt của mình?

Sách mới

Vết nhơ của người

viết bởi: Nhà xuất bản

Vết nhơ của người
Từng nốt nhạc ngân

viết bởi: Nhà xuất bản

Từng nốt nhạc ngân
Sự cứu rỗi của thánh nữ

viết bởi: Nhà xuất bản

Sự cứu rỗi của thánh nữ