NHÀ VĂN ĐỖ BẢO CHÂU

Truyện ngắn của Đỗ Bảo Châu

Viết bởi: Nhà xuất bản

 NHÀ VĂN ĐỖ BẢO CHÂU

 Tiểu sử:

Tên thật: Đỗ Bảo Châu

Sinh năm: 1946

Nơi sinh: Hoài Đức - Hà Tây

Bút danh: Đỗ Bảo Châu

Thể loại: Truyện ngắn

Các tác phẩm:

·            Ngày đầu bỡ ngỡ (1971)

·            Dòng sông (1973)

·            Khúc quanh đường bằng (1986)

·            Trái tim nông nổi (1994)

 

   DÒNG SÔNG

 - Phản ứng kết tủa? Phản ứng phân tích...? Kìa! Dân nói đi.

Dân cạy một cái vỏ trên súc gỗ nhẵn bóng đang ngồi, ném vụt xuống nước. Dòng nước vẫn âm thầm chảy, khiến những vòng tròn bị bóp méo mó, oằn lên, giãn ra.

Dân nghe thấy Vang nhắc lại câu nói ấy rụt rè, khó khăn. Dân biết Vang đang chờ đợi Dân trả lời. Và Dân biết bao giờ Vang cũng khó tính bắt bẻ. Dân nghe thấy hết, nhưng vẫn yên lặng.

Có lẽ đã đến sáu giờ. Buổi chiều mùa hè thường tan đi chậm chạp. Ánh nắng đỏ như tờ giấy bóng kính hồng, loang loáng chạy trên mặt nước. Ánh nắng chĩa ra như dẻ quạt, in hằn vào nền mây xốp nhẹ, trắng mềm mại và sạch sẽ. Ánh nắng bắt vào mớ tóc rễ tre vàng như râu ngô của Dân, ánh lên đôi mắt long lanh, có hàng mi dài mảnh của Vang.

Dòng sông vẫn êm ả trôi, bí mật giấu trong lòng nó những con cá béo ngậy, tung tăng và liều lĩnh như đàn trẻ, cố sức bơi ngược dòng.

Có một chiếc xuồng máy lướt vùn vụt trên mặt sông. Nước bị rẽ sang hai bên, ngầu bọt sủi. Xuồng chao nghiêng như một mũi tên, lao đi. Những đợt sóng dây chuyền lấn dần vào bờ, vỗ ì oàm vào những tảng đá màu xám mốc, nằm yên lặng và hiền lành. Nước mài giũa một cách kiên nhẫn. Doi cát mịn màng bò dài xuống lòng sông.

Bụi đất ở chiếc vỏ dính đầy vào tay Dân. Dân ngồi hơi cúi xuống, lơ đãng bẻ quăn quyển sách giáo khoa trên tay. Từng công thức, từng hàng chữ nhảy nhót, cuộn xoáy như một con sóng.

- Kìa! Dân... Trả lời đi. Cả buổi chiều...

Dân bỗng ngẩng phắt đầu dậy, nhìn xoáy vào mặt Vang, khiến Vang hơi sửng sốt. Nhưng rồi ánh mắt ấy dịu đi, lộ rõ vẻ tinh nghịch. Vang lúng túng lật vội mấy trang sách.

- Hôm nay học được gì nhỉ? - Giọng Dân ồ ồ. - Mấy công thức oái oăm này, làm mình nhức đầu quá. Chà! Giá mình giỏi hóa được như Vang.

- Sao Dân lại nói thế? Về môn hóa, mình cũng như Dân thôi. Chẳng qua những lần kiểm tra vừa rồi, mình gặp may. Nhưng hình như Dân cứ để đầu óc đi đâu đâu ấy, chả tập trung vào học tý nào cả. Chỉ còn có hơn một tuần nữa là thi.

Dân bứt một ngọn cỏ, đưa lên miệng, nhìn xa xôi:

- Ừ! Mình cứ nghĩ đi đâu đâu ấy thật. Không! Môn hóa đối với mình quả là khó. Mình chẳng hiểu gì cả. Ồ! Nếu cứ đưa cho mình một quả bóng đá, hoặc một cái “la-két”... Nhưng thôi! Ngày mai hai đứa mình nên học ở nhà thì hơn. Ra đây mình không thể nào tập trung tư tưởng được. Ô kìa! Vang xem! Mặt nước như có một màu tím biếc óng ánh. Trông tuyệt quá.

- Đâu nào?

- Kia thôi! Vang để ý nhé: nền trời xanh thẫm, in xuống dòng nước và mặt nước bị hắt ánh mặt trời đỏ ối. Hai màu ấy như trộn vào nhau, tạo thành một màu tím óng. Nó cựa quậy đấy.

- Vang chịu! Chả thấy gì cả. Nhưng... - Vang hơi lúng túng - Nhưng cứ học ở đây thoải mái hơn. Ở nhà, trẻ con nghịch lắm, chẳng yên với chúng nó đâu. Vang cảm thấy học ở đây... cũng tốt chứ sao?

- Không! Với mình, thế nào ấy. Thì đấy, Vang xem, từ chiều đến giờ chưa học được gì cả. Mà mình lại làm ảnh hưởng đến cả Vang. Cứ nhìn đến dòng sông, là mình không chịu nổi. Mình cảm thấy nó thay đổi màu nhanh chóng một cách kỳ lạ. Nó thay đổi như một ông hoàng ngày xưa mỗi giờ lại thay một chiếc áo mới. Không! Phải nói là từng giây, từng phút.

- Lạ nhỉ? Sao Vang chả thấy gì cả. À có lẽ do Vang không biết vẽ như Dân. Vang chả biết pha màu.

- Mình cũng không hiểu tại sao mình nhìn thấy như thế. Đúng hơn là mình cảm thấy. Trước kia, khi còn nhỏ, cũng những buổi chiều như thế này, mình và các bạn hay ngồi trên một phiến đá to như cái nong để nhìn xuống lòng sông. Con sông ấy khác với con sông Hồng này nhiều lắm. Nước nó xanh ngăn ngắt, phẳng lặng. Những ngọn núi màu lam lộ ra phía trên đỉnh từng tảng đá vôi trắng mốc, soi bóng xuống dòng nước. Mình thường nhìn xuống mặt nước như nhìn vào một đáy gương. Và thấy tất cả cây cối chen chúc trên sườn mốc xám, rậm rì của những quả núi dốc ngược, lung linh. Mùa hè, khi nước cạn, lòng sông thu hẹp hẳn lại. Từng cột đá tròn, bị mài bóng nhẵn, như mọc lên từ mặt nước, xung quanh nước cuộn lên, tạo thành những hút xoáy, xoay xoay tít mãi ra xa... Chao ôi! Cái bài hóa khổ sở này.

Hai người đều im lặng. Vang có vẻ hơi bối rối. Dân vẫn rứt rứt sợi cỏ ngậm ở miệng. Cuốn sách buông thõng xuống phiến gỗ.

Mỗi người đang theo đuổi một ý nghĩ riêng.

Dân hơn Vang hai tuổi. Nhưng chưa bao giờ Vang gọi Dân là anh. Đúng hơn, chưa bao giờ Vang dám gọi thế. Do sự tình cờ hai người cùng học một trường, cùng ngồi một lớp. Dân học với Vang suốt từ năm lớp bốn đến nay. Nhưng có điều lạ là bao giờ Vang cũng học giỏi hơn Dân, nhất là khoa học tự nhiên. Phải chăng tính cần cù chịu khó đã giúp Vang học khá? Và ngược lại, Dân cứ càng học càng sút mãi, vì tính ham chơi và lơ đãng của mình.

Nhưng chính vì vậy, Vang cảm thấy áy náy, như người có lỗi. Ừ! Giá như Dân học giỏi hơn Vang. Giá như trong những buổi học với nhau, Dân giảng cho Vang bài toán khó, Dân chép bài cho Vang, chứ không phải là Vang.

Những lần kiểm tra, Vang đâu có “sáng dạ” gì hơn Dân? Chỉ vì Vang chịu khó. Vang kiên nhẫn làm bằng được. Về nhà, Vang tranh thủ nhẩm bài cả khi thổi cơm. Còn Dân, lúc đó Dân đang hò hét ở sân bóng...

... Nên bao giờ Vang cũng làm ra toán. Còn Dân, gãi đầu gãi tai một cách kinh khủng. Và hỏi bài. Đôi khi Dân cũng chẳng cần xem bài tập hỏi gì nữa, cứ thế chép vào vở của mình.

Vang định nói với Dân nhiều lần. Đã định khuyên Dân nhiều lần. Nhưng suốt hai năm trời cùng học, Vang chưa bao giờ nói được điều đó. Bởi lẽ Vang nhút nhát. Cũng còn do hai gia đình gần nhau nữa. “Ừ! Giá như Dân học giỏi hơn Vang”. Đã nhiều lần Vang lẩm nhẩm câu ấy. Vang ước ao như thế. Nhưng kỳ nào tổng kết, số điểm của Vang cũng trội hơn của Dân. Vang thường được lĩnh phần thưởng. Và những lần ấy, Dân tránh cặp mắt của Vang. Dân lảng đi, và chả bao giờ về cùng hôm đó.

Nhưng không phải Dân hoàn toàn kém cả. Dân rất giỏi văn. Dân còn có hoa tay và biết vẽ nữa. Tất cả điểm thể dục, bao giờ Dân cũng đạt loại ưu tú.

Mặc dù vậy, điểm văn của Dân rất thất thường. Dân ít khi soạn bài cho đến nơi đến chốn. Và chính vì thế, Dân hay bị điểm xấu. Môn họa thì lên lớp bảy không học nữa. Dân chỉ còn giúp ích cho tờ báo tường.

Vang và Dân hay ngồi trên những súc gỗ xếp ven sông. Ở đấy, thường bốc lên mùi mùn gỗ mục, mùi mộc nhĩ thoang thoảng như mùi hương rừng, rất quen thuộc. Những súc gỗ ấy bị mưa gió bào mòn, nhẵn nhụi và sạch sẽ. Vang chọn một súc mảnh và mịn. Dân chọn một súc to, khúc khuỷu. Hai người ôn bài và hỏi nhau, đố nhau. Bao giờ Dân cũng “phá đám” trước. Và bao giờ Vang cũng phải nhượng bộ. Tuy vậy, khi học bài, Vang rất kiên quyết. Dân hay tỏ ra khó chịu với những câu hỏi “bắt bí” của Vang. Nhưng không bao giờ Dân bỏ những buổi truy bài tự giác ấy. Và thành cái lệ, cứ cơm chiều xong là hai người ra ngồi trên súc gỗ thân thuộc này.

Vang nhận thấy ở Dân có những điều mà cô thèm khát. Đó là con mắt nhìn xa xôi của Dân. Những buổi chiều như thế, đôi mắt Dân mơ màng ngắm từng con sóng, cánh buồm. Dân phát hiện ra những điều rất lạ mà Vang không bao giờ thấy cả. Hoặc cô chỉ thấy mơ hồ khi Dân nói cho biết. Phải chăng dòng sông có những điều lạ lùng như thế thật. Vang chưa hiểu hết?

Thời gian thấm thoắt trôi qua, Vang và Dân đều lớn vồng lên. Vang đã thôi không gọi Dân là “đằng ấy” nữa. Vang thường gọi tên, xưng tên hoặc mình. Vẫn có một cái gì hơi rụt rè, ngượng ngập...

Vang nhìn Dân, lo ngại: “Anh ta cứ nghĩ đi đâu đâu ấy. Bài vở không ra làm sao... Thế này, thi rồi đến hỏng mất”.

Dân vẫn ngồi yên lặng. Thỉnh thoảng Dân mở cuốn sách và chăm chú nhìn vào từng dòng chữ đen kịt. Nhưng Dân cảm thấy nó đang nhảy múa và la hét. Dân chỉ còn đọc được loáng thoáng vài công thức. Sao thế nhỉ? Chà! Tính chất hóa học của muối... của a-xít... a-xít đậm đặc... Hát hai ét sì ô bốn...

Dân ngẩng lên, định hỏi Vang một điều gì, nhưng lại thôi. Dân học hơi kém. Điều đó làm Dân buồn. Có lẽ trước kia Dân học không kém thế. Dân còn nhớ khi Vang chỉ là một cô bé nhỏ nhắn có mớ tóc cũn cỡn ngang vai, thường cứ phải đi sát vào Dân để bọn trẻ con ở phố khỏi bắt nạt. Lúc đó, Dân gần như một người anh. Bao giờ Dân cũng thủ sẵn một khẩu súng cao su. Khi đi học về cùng Vang, Dân lại đeo nó lủng lẳng ở cổ. Chả còn cậu nhóc con nào nho nhoe đến giật cái cặp tóc của con bé nữa.

Phải! Có lẽ hồi đó Dân học khá. Nhưng sao thế nhỉ? Giờ đây... Dân vê mạnh mép sách, làm nó quăn lên như chiếc vỏ bào.

Dân nhớ những lần đi kiếm mộc nhĩ. Cũng trên những súc gỗ ngổn ngang này, sau trận mưa rào mùa hạ, mộc nhĩ mọc lên, ngon lành như một miếng sụn, ẩn náu trong những chỗ ẩm ướt, kín đáo. Dân sục tìm. Và bao giờ thấy chùm mộc nhĩ tươi, ngon nhất, Dân cũng dành cho Vang.

Khi buổi chiều rừng rực nắng đã nhạt hẳn đi, hai cái bóng loắt choắt ấy mới nhảy nhót trên những phiến gỗ ra về, lủng lẳng bên sườn một sâu mộc nhĩ dài quết đất...

- Cái mố cầu!... Kinh khủng thật.

Dân giật mình.

- Gì cơ?

- Cái mố cầu ấy, Dân ạ. Vang không hiểu ngày xưa, họ đã xây như thế nào, ở chỗ nước xoáy thế.

- À!... Mình nghe nói cái hồi bắt đầu xây chân cầu Long Biên, ông mình mới hăm bốn tuổi. Ông mình kể, chết mất cơ man là người. Xuống xây xong một tảng đá, phải lên ngay lập tức. Thế mà người còn tím lại.

- Làm sao có thể xây khi nước chảy thế?

- Không! Họ quây kín và hút hết nước ra. Nhưng ở dưới sâu thì buốt như ngồi trong thùng nước đá ấy. Khối người không chịu nổi, lên đến nơi thì chết.

- Họ không có áo lặn à?

- Vang tính, cái thời đó, bọn chủ thầu có bao giờ nghĩ đến tính mạng của những người phu? Nó cần gì?

- Chà! Cái mố cầu! Vang nhắc lại, tiếng nói lắng hẳn xuống như thì thầm.

Vang đang nghĩ gì thế? Có lẽ cô ta cũng nghĩ đến dòng sông như mình. Nhưng mình chú ý đến doi cát kia nhiều hơn. Ở đấy, khi mùa cạn, có những cây ngô đã chớm ngả vàng, phơi ra dưới nắng, những cái bắp trắng nõn, giấu nửa mình trong chiếc bẹ áo màu xanh nâu. Ấy là lúc bọn Dân mặc áo may-ô bơi sang. Và nhanh như chớp, bẻ trộm những bắp ngô ấy, giắt vào trong áo, rồi vội vã bơi về... Ở đấy, có những luống khoai ùn lên như cái gò con giấu giếm một cách hớ hênh những củ khoai đỏ sẫm, bở tung và đầy những mật dính đáy nồi. Ở đấy có những đoàn người bắp thịt cuồn cuộn, da như màu mật ong, gò lưng kéo lưới. Đến khi mắt lưới cuối cùng phơi trên mặt cát, là những con cá óng ánh thi nhau nhảy tanh tách lên bờ... Ở đấy in dấu những cánh buồm nâu thấp thoáng trên lạch nước bên kia doi...

“Cái mố cầu? Ồ! Có gì là lạ. Đối với Dân, nó đã quá quen thuộc. Nó là một cái trụ cầu. Cái trụ đỡ con rồng doãi mình trên mặt nước. Sao Vang lại băn khoăn về nó nhỉ? Nhưng thôi, cô ta đang nghĩ gì? Có trời mà biết. Còn mình! Ồ! Mình cũng không hiểu đang nghĩ gì nữa. Nghĩ về Vang chăng? Ừ! Có lẽ thế”. Dân mỉm cười và ném mạnh một cái vỏ cây nữa xuống dòng nước. Có những buổi tối học nhóm ở nhà, ông bố Dân tình cờ giở “sổ liên lạc” của hai đứa ra xem và phát hiện ra điểm của Dân sút hẳn so với điểm của Vang. Thế là tối hôm đó, Dân đến khổ vì những lời đe mắng của bố. Mẹ Dân - một người mẹ lúc nào cũng bênh con - lại phải “đỡ đòn” cho, bằng cách nói lảng ra những chuyện không đâu, để làm dịu nỗi bực tức của ông.

Lúc đó, Vang lúng túng vô cùng. Cô cảm thấy sự có mặt của mình ở nhà Dân thật là hết sức bất lợi cho bạn. Rồi làm như quên một quyển sách hay cái thước kẻ ở nhà, Vang vội lảng ra ngoài.

Đến sáng hôm sau, thế nào Vang cũng rụt rè an ủi Dân. Nhưng Dân cảm thấy mình bị thương hại. Và anh lảng tránh. Dân không muốn để ai phải thương hại mình. Nhất là người đó lại là nữ, là Vang. Không! Dân không phải là người học dốt. Có lẽ do anh bỏ quá nhiều thời gian vào những trò chơi theo ý thích của mình. Dân chểnh mảng với sách vở. Và cũng còn do anh hơi mơ mộng nữa.

Dân chỉ cười thầm, lắm lúc còn phát bực nữa khi thấy trong những buổi tối ngồi thủ thỉ tâm sự với mẹ Dân, Vang cứ bênh Dân chằm chặp, và ra sức “bào chữa” cho Dân. Không! Vang là một người bạn tốt. Nhưng Vang chưa hiểu Dân.

Dân tự giằn vặt mình. Đã nhiều lúc Dân chém tay vào không khí lia lịa như giận dỗi với ai. Phải học thật khá, không có công việc cao quý nào, ước mơ đẹp đẽ nào dành cho người lười cả. Mà lười chính là nguồn gốc của dốt nát. “Đúng! Muốn làm gì thì làm, phải học giỏi cái đã”.

Dân vắng mặt thường xuyên trên bãi bóng. Anh lao vào học. Nhưng kết quả chưa thể nâng lên ngay được. Dân đã bị “hổng” quá nhiều chỗ. Giờ đây, phải chật vật lắm, anh mới có thể bù đắp lại được...

Nhưng khổ thế đấy. Cứ buổi chiều như buổi chiều hôm nay làm anh không thể nào tập trung tư tưởng.

- Có lẽ về thôi! Trời sắp tối.

Dân giật mình thấy mặt nước đã ngả màu tím sẫm. Và phía xa xa vắt lên mặt nước lung linh, cầu Long Biên đã lên đèn, như dòng sông trang điểm trên cổ nó một chuỗi ngọc vậy. Bóng Vang chao xuống đống gỗ. Dân uể oải đứng dậy. Trời tím ngắt. Sao hôm rực rỡ đã mọc lên.

*

*     *

Thế là đã gần năm năm. Thời gian đi chóng thật. Dân dướn người dậy, kéo tấm rèm che cửa sổ, nhìn ra ngoài. Trời đã sáng rõ. Có lẽ cô ta không biết mình về đâu nhỉ. “Chà! Kể từ những buổi cùng học ấy đã gần năm năm”. Dân nhắc thầm lại, nhưng vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Anh đưa tay lên gối đầu, lơ đãng nhìn lên mái nhà. Kìa! Vẫn những sợi tơ chằng chịt. Và hình như vẫn cái con nhện vàng to kềnh ấy, buông tấm lưới rất rộng, mỏng tang để đánh bẫy những con ruồi, con muỗi ngờ nghệch. Phải! Vẫn con nhện ấy đấy.

Dân ngửi thấy mùi khói cay cay, quen thuộc. Có lẽ mẹ đang làm gì dưới bếp. Từ ngày bố đi theo đoàn xe phục vụ vận tải, mẹ phải quán xuyến mọi công việc ở nhà. Mẹ gầy và già đi. Nhưng mẹ vẫn giữ cái tính cũ, chiều con. Dân càng thấy thương mẹ. Và anh tưởng như mình vẫn còn bé bỏng trong cặp mắt già nua của mẹ. Trở lại với cái thời tuổi thơ nghịch ngợm, anh mỉm cười, lẩm bẩm:

- Một... hai... ba... mười bốn... Nào, đúng năm mươi đếm thì dậy... Bao nhiêu rồi... Hăm sáu... Hăm bảy...

- Dân ơi! Dậy đi con. Gớm! Bộ đội gì mà ngủ non trưa nửa ngày... - Bà mẹ định vào lay con dậy, nhưng chợt nhớ ra mãi khuya hôm qua, đứa con mới về đến nhà, lại thôi. Bà dịu giọng: - Có nồi chè đậu đen dưới bếp, tao ninh dừ rồi đấy. Liệu mà dậy. À! Con Vang nó cũng vừa về mấy hôm nay. Để tao gọi nó sang chơi.

- Thôi! Chốc nữa con sang bên ấy.

Mẹ đi rồi, Dân lại nằm xuống. Anh không buồn ngủ nữa, nhưng thấy người hơi mệt mỏi. Vả lại, ở nhà, anh muốn được thoải mái tý chút. Dân từ từ nhắm mắt lại, như để cho tất cả thời gian quá khứ trôi qua...

Sau khi tốt nghiệp lớp bảy, Dân không học cùng Vang nữa. Vang chuyển sang Trưng Vương. Còn Dân học ở Phổ thông III. Từ bấy giờ, tuy vẫn ở gần nhà, nhưng hai người chẳng còn dịp nào học bài cùng nhau. Vả lại, khi cả hai cùng lớn lên, nhất là Vang ở cái tuổi dậy thì, học với nhau nó đã... thế nào rồi ấy. Dân tránh gặp Vang nhiều. Vang cũng thế. Giữa hai người, như có cái gì du ra, lại như có cái gì níu lại.

Thời gian trôi đi thật là nhanh. Đã có những chàng trai ngấp nghé ở nhà Vang. Những buổi tối, câu chuyện ở nhà Vang thường rôm rả tới khuya khi những cậu con trai lém lỉnh và vô duyên ngồi tán chuyện hão. Dân cảm thấy có cái gì hơi khó chịu. Một sự khó chịu mơ hồ, vô cớ. Nhưng anh vẫn cảm thấy thế. Từ trước đến nay, Vang vẫn là một cô gái tốt. Đối với Dân, Vang còn là một người bạn tốt. Dân cũng hiểu như thế.

Nhưng... dù sao thì... Dân vẫn chỉ là một người bạn. Một người láng giềng. Trước kia thế đấy, thì bây giờ cũng là thế đấy.

Dân bỗng mỉm cười với mình. Thời gian ấy đã qua quá lâu. Dân vẫn còn nhớ rõ, anh nhiều lần lảng tránh không muốn gặp Vang. Cho đến hôm sắp sửa thi tốt nghiệp, không còn cách nào khác, đành phải sang mượn của Vang quyển “Vật lý” tập hai, anh mới lại có dịp nói chuyện với Vang.

Vang niềm nở gần như nũng nịu với Dân. Vang bắt Dân phải “gà” cho Vang viết một bài nghị luận. Bắt Dân giảng cho Vang về những mẫu hành tinh nguyên tử. Dân tự nhiên hơn. Những ý nghĩ sai lệch về Vang tan biến hết. Và chính buổi tối hôm ấy, trên chiếc chõng tre kê ngoài sân, hai người nói chuyện đến khuya.

Những điều băn khoăn lo lắng, những điều hồi hộp khấp khởi chưa bao giờ có, thì nay đã có. Cái băn khoăn và khấp khởi của những học sinh sắp rời ghế nhà trường, bước vào ngưỡng cửa cuộc sống. Cuộc sống bộn bề, phong phú như một bức tranh đa dạng, nhiều màu sắc đang chờ đón họ. Họ không hồi hộp sao được.

- Những mố cầu! Ôi! Kinh khủng thật.

Dân ngạc nhiên khi anh bỗng nghe thấy tiếng Vang nhắc lại mấy câu nói ấy từ mấy năm trước, với một vẻ đăm chiêu, xa xăm. Gần như đạo mạo nữa. Chắc Vang đang có nhiều suy nghĩ về những chiếc cầu. Dân phóng tầm mắt ra xa, nơi ấy dải sáng xanh nhạt đang bò dài trên mặt sông, lấp lánh cháy. Đấy là chiếc cầu Long Biên. Dân biết ánh mắt Vang cũng đang đọng lại ở đó. Đôi mắt anh nhìn như muốn tìm kiếm ánh mắt của Vang.

- Vang thi vào Đại học xây dựng. Vang sẽ đi dựng những chiếc cầu mới cho Tổ quốc. Ở đâu còn bến phà, bến đò ngang, Vang sẽ có mặt ở đấy.

Dân lặng im. Anh hiểu Vang. Quê Vang ở trên một bến sông, dựa lưng vào vách núi. Gần đấy là một bến phà nhỏ, ì ầm suốt đêm những chuyến phà sang sông. Những chuyến phà nặng nề, đi lại khó khăn. Những chiếc xe, đoàn người nối nhau chờ đợi ở hai đầu bến.

“Giá như có một chiếc cầu nhỉ? Hẳn những chiếc xe kia sẽ lao vun vút, đi thêm được biết bao đoạn đường”. Mỗi lần kể về quê hương của mình, Vang thường nói với Dân như vậy. Vang nói gần như xuýt xoa, tiếc nuối một cái gì.

- Mình sẽ thi vào Cao đẳng Mỹ thuật - Dân đột ngột nói.

- Vang biết... Vang tin chắc Dân sẽ đạt được.

Vang rụt rè nhận xét. Vang vẫn giữ được tính rụt rè và tiếng nói rất nhẹ của mình.

Nhưng đúng vào kỳ thi ấy, giặc Mỹ ném bom bắn phá miền Bắc. Những con thiêu thân đầu tiên cũng đã tan xác trên vùng trời xanh trong của Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Bình...

Dân lập tức gác lại chuyện đi “Cao đẳng”. Anh bồn chồn ngồi đứng không yên khi các bạn cùng học đang lần lượt nhập ngũ. Dân viết liên tiếp những lá đơn. Anh ghi ở mục nguyện vọng: “Xin vào Hải quân”...

Dân vùng dậy. Anh nhảy vội xuống đất, đi ra ngoài sân, làm vài động tác thể dục. Theo thói quen, Dân chạy vào nhà, vắt màn, gấp chăn gọn ghẽ. Anh vuốt bộ quân phục cho thẳng nếp: “Hừ! Hồi ấy mình tưởng sẽ vào Hải quân. Mình vốn mơ mộng mà. Thế mà nay lại thành lính cao xạ, được trực tiếp ngồi vào mâm pháo. Kể cũng hay thật”.

Rửa mặt xong, Dân vẫn loanh quanh ở nhà. “Bà cụ” thì cứ giục anh rối rít về chuyện “ăn ngay bát chè cho nó nóng”. Dân húp liền hai bát, như vội vã đi đâu. Nhưng sau đó, anh lại đứng thừ ra, không biết nên làm gì. Đã mấy lần, anh định sang gặp Vang, nhưng... cứ thế nào ấy. Lòng Dân có một cái gì xốn xang. Anh sắp đi xa...

Anh sắp phải xa ngôi nhà nhỏ bé, ấm cúng này. Xa cái bờ sông quen thuộc, xa dòng sông, xa xóm nhỏ, và sắp xa cả Vang nữa. Tầm mắt anh sẽ mở rộng bởi những chân trời mới. Anh sẽ được thử thách và lớn lên trong đạn lửa. Nhưng trong ký ức thẳm sâu của anh, lại hơn lúc nào hết, in hằn cái xóm nhỏ thân yêu này. Bởi vì, đã từ đấy, anh ra đi.

Dân với chiếc khăn mặt bông lau qua mặt một lần nữa. Anh rũ mạnh cho nó phẳng phiu, nhẹ nhàng vắt lên sợi dây thép đầu hè. Dân thắt lại chiếc dây lưng và kéo cho gọn ghẽ chiếc áo bộ đội mới, giắt trong quần. Trông Dân lớn hẳn lên. Dân đứng trên bục cửa, nhướn người sang nhà bên. Sau hàng rào giâm bụt lòa xòa, anh thấy thấp thoáng bóng một người con gái. Anh khoát tay như để tự trấn tĩnh lại mình. Rồi như sợ mình sẽ do dự, anh vội vã đi sang nhà người hàng xóm.

*

*     *

 

“Anh Dân!

Anh có biết không? Hôm nay vừa về đến nhà, chân ướt chân ráo, em đã đến ngay phòng triển lãm tranh “Bộ đội phòng không không quân”. Và chỉ một lúc sau, em đã thấy bức tranh của anh. Anh có một số ký họa về bộ đội cao xạ, phải không? Nhưng em nhớ nhất anh vẽ bức tranh to khổ bằng bột màu ấy, bức tranh vẽ một dòng sông. Dòng sông mà khoảng trời có rất nhiều mây. Soi bóng trên dòng sông cuộn xoáy ấy là một chiếc cầu. Nhiều thanh sắt đã bị oằn lên và xám đi vì bom giội. Phải không anh?... Chỉ mười phút nữa thôi, em sẽ viết thư trả lời anh. Thư của anh, em nhận được hôm qua, lúc đang chuẩn bị xuôi về Hà Nội. Thật may mắn quá. Anh Dân ạ, em...”.

Viết vào nhật ký mà y như Vang đang viết thư cho Dân ấy. Vang cắn mãi cái đuôi bút nhựa, vẫn không viết thêm được chữ nào nữa trên trang giấy khổ nhỏ. Dân viết thư cho cô, và cho biết sau lần gặp nhau ở gia đình hôm ấy, Dân đã đi sâu vào phía trong. Đại đội anh có nhiệm vụ bảo vệ một chiếc cầu quan trọng nhất ở khu bốn. Dân kể trong thư, xen kẽ vào giữa hai trận chiến đấu ác liệt là những giờ vui chơi rất thân mật của tiểu đội. Có lần quần nhau với chúng liên tục suốt từ sáng đến tối. Nhưng thỉnh thoảng, khoảng cách giữa hai trận chiến đấu rất xa nhau. Ấy thế là hàng loạt chiếc lượt và nhẫn xinh xắn làm bằng xác máy bay Mỹ do tiểu đội bắn rơi tại chỗ, ra đời. Dân thường tranh thủ từng giây từng phút ấy để lấy “ký họa” và vẽ những bức tranh bố cục khổ nhỏ... Sau một thời gian ngắn làm việc liên tục, được anh em khuyến khích, Dân đã hoàn thành bức tranh về một dòng sông. Dòng sông ấy, tiểu đội Dân bảo vệ nó suốt hai tháng nay. Nó cũng có một chiếc cầu sắt bắc qua như dòng sông “của chúng mình” ấy. Thật là kỳ lạ. Biết bao lần bom rơi đạn réo xung quanh, khoét hàng trăm cái hố trên sườn núi, bờ sông, chân cầu, khói vàng mờ mịt, thế mà nó vẫn đứng sừng sững. Nó đứng như một vị tướng quả cảm, chỉ huy một trận đánh, biết chắc phần thắng về mình... Dân đã gửi số tranh ấy về dự cuộc triển lãm sắp tới. Nếu Vang có dịp về Hà Nội, Vang nhớ đến xem, và góp ý cho Dân.. Cũng thật tình cờ đến lạ lùng, Vang nhỉ? Vang thì thiết kế và xây dựng cầu. Còn Dân, lại đang cầm súng để bảo vệ những chiếc cầu ấy. Những chiếc cầu và những dòng sông... Lúc này, Dân nhớ hơn bao giờ hết những kỷ niệm trẻ thơ của chúng mình. Ấy là lúc hai đứa ngồi trên những súc gỗ, và mắt mơ màng nhìn ra dòng sông Hồng, ngắm mãi cho đến khi trời tím sẫm, những ánh điện lung linh đeo vào “cổ” con sông hiện lên, mới chịu ra về. Biết bao mơ ước nảy ra? Dân không nhớ hết nữa. Nhưng rõ ràng những kỷ niệm nhỏ xíu ấy, gắn chặt với công việc hiện tại, phải không Vang? Vang có nhận ra điều kỳ lạ đó không?...”.

Không! Anh Dân ạ. Chả có gì lạ lùng cả. Đành rằng mơ ước của em được toại nguyện. Em được đi xây dựng những chiếc cầu. Cả anh nữa. Điều mong muốn của anh đã thành sự thực. Nhưng em biết, dẫu cho không có sự may mắn này, thì mỗi chúng ta, dù ít dù nhiều, ai chả có lúc sẽ phải ràng buộc với một chiếc cầu, một con sông? Có ai mà trong đời không từng bồi hồi nghe sóng vỗ ì oàm trên mạn thuyền nan nhỏ? Không im lặng đi trên chiếc cầu, để lắng nghe tiếng sóng, tiếng mái chèo quẫy nước dưới lòng sông? Và cả tiếng bước chân mình nện xuống ván cầu nữa, trong một đêm hè đầy sao, hay một đêm đông tẻ lạnh, những thanh sắt lầm lì?... Chính những hoạt động của cuộc sống đã tạo cho người ta gắn bó với những dòng sông, những chiếc cầu. Và chính vì thế, ai cũng mang trong tâm hồn mình hình ảnh một con sông. Dòng sông có chiếc cầu bắc qua.

“Dân sẽ vẽ bức tranh về một dòng sông. Nhất định thế, Vang ạ! Còn Vang?...” Anh ấy đã nói với mình hôm chia tay như thế. Lúc bấy giờ mình trả lời anh ấy ra sao nhỉ? “Anh Dân có biết không? Em sẽ đi xây dựng những chiếc cầu. Những mố cầu... Ồ! Có lẽ trước kia nghe em thốt lên câu ấy, anh lạ lùng lắm nhỉ? Nhưng đấy là ước mơ của riêng em. Anh không được cười đấy”. Ừ! Mình định nói thế, nói thật tự nhiên như thế. Nhưng chẳng hiểu sao, mình cứ cuộn tung đuôi tóc lên, không nói được câu gì. Ngay cả buổi tối hôm ấy nữa. Lạ thật, cứ ngồi xuống cây gỗ cũ, là anh ấy lại mơ màng nhìn ra sông, tuy rằng chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ rì rầm nho nhỏ. Đấy là buổi tối cuối cùng, mình ngồi với anh ấy trên súc gỗ quen thuộc. Mình đã run bắn lên khi anh ấy nhè nhẹ nắm lấy bàn tay mình. Có lẽ mình hồi hộp. Và mình chờ đợi. Nhưng... anh ấy chả nói gì cả.

Không! Anh ấy đã nói như thế này: “Tay Vang lạnh lắm”. “Vang cũng cảm thấy hơi rét”. Mình trả lời như vậy. “Không! Những cô gái có bàn tay lạnh thì tâm hồn sẽ ấm nóng, phải không Vang?” Mình không trả lời được vì mình không hiểu ý anh ấy nói gì. Thế rồi im lặng cho đến khi chia tay. Anh ấy bảo mình: “Chúc Vang đạt được nguyện vọng. Dân sẽ đi xa (anh ấy vẫn xưng tên với mình) nhưng cái xóm nhỏ này, cái dòng sông rất nhiều kỷ niệm này, Dân không thể nào quên được. Chắc Vang cũng như Dân chứ?” “Vâng”. Chao ôi! Lần đầu tiên mình “vâng” với anh ấy. Sau đó mình ngượng chín người đi. May mà trời tối, anh ấy không trông thấy...

... Vang khép tờ giấy mỏng mảnh còn đầy hơi thuốc súng và hương cỏ ấy lại. Giống như hồi nhỏ, ngày còn ngồi cùng với Dân, tự nhiên những hình ảnh về con sông với dãy dài cát trắng, những ụ khoai xanh mướt mắt, những cánh buồm no gió... tất cả hiện lên rõ ràng trong tâm trí Vang.

Vang lại nhớ đến lúc đứng ngắm bức tranh của Dân. Vang ngây người ra vì một niềm xúc động xốn xang không ghìm được.

Vang chăm chú nhìn bức tranh. Tâm hồn mơ mộng và sôi nổi của tác giả như bộc lộ hết trong những màu sắc nhuần nhuyễn và rất bạo tay của anh. Những màu sắc ấy, anh đã phát hiện được từ lâu rồi, giờ đây mới có dịp biểu lộ. Phải chăng anh đã gửi gắm vào đó cả những màu sắc của dòng sông quê hương anh, dòng sông thời thơ ấu của anh? Vang có cảm giác như tất cả những người xem tranh ở đấy, chỉ có mình cô mới linh cảm thấy điều đó. Và Vang đứng ngây ra vì những xúc động đột ngột.

... “Nó cũng có một chiếc cầu nhịp sắt bắc qua như dòng sông “của chúng mình” ấy...”.

Vang đã thấy trên bức tranh, những thanh coócnhe bị oằn cong lên, nham nhở. Hầu như không có một thanh sắt nào nguyên vẹn. Nhưng thật kỳ lạ như Dân nói: “Nó vẫn đứng sừng sững như một vị tướng quả cảm”. Vang không ngờ rằng hôm nay cô lại được về tham gia vào việc sửa chữa cái trụ cầu ngày xưa cô với Dân thường hay ngồi ngắm. “Anh Dân ạ! Chiếc cầu “của chúng mình” sau biết bao đợt bắn phá man rợ của bọn giặc lái Mỹ, thế mà nó vẫn “đứng sừng sững”. Lạ không?” Mình sẽ viết như thế.

Vang gượng nhẹ lật trang giấy mỏng mà mùi thuốc súng và hương cỏ cứ quấn quýt lấy. “... Khi Dân đằm mình xuống dòng sông trong một đêm êm ả, để cho nước phù sa mát lạnh ôm ấp lấy cơ thể mình, Dân mới thấy hết được, hiểu hết được điều huyền bí của những dòng sông. Dòng sông Lô quê hương mình. Dòng sông Hồng chở theo thời thơ ấu của mình. Và giờ đây, dòng sông này nữa. Có lúc nó êm ả, mơ màng chở những đám mây trôi ra biển, y như hồi nhỏ chúng mình ngồi ngắm sông ấy. Nhưng có lúc nó bỗng gầm lên dữ dội với những con sóng cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa như máu. Dòng sông sủi, xoáy những cái xoáy sâu hút, réo ầm ầm. Ấy là khi nước lũ tràn về... Đấy! Cái dòng sông này với dòng sông “của chúng mình” giống nhau làm sao. Có điều là Dân cảm thấy bây giờ nó lớn hơn, dài hơn. Phải chăng vẫn mùi phù sa quen thuộc? Hay nó cùng soi bóng những chiếc cầu hùng vĩ, quả cảm? Có lẽ tất cả. Và điều này nữa, Dân cảm thấy rất rõ, mỗi dòng sông đều có cuộc sống riêng, tâm hồn riêng, như con người ta vậy”.

Vang gấp hẳn mảnh giấy lại. Mùi thuốc súng và hương cỏ như bị bọc kín vào bên trong. Mình phải viết thư ngay cho anh ấy. Mình sẽ kể hết. Cả công việc của mình. Nhưng... kể ra thì cũng chả có gì đáng nói. Mình lại không nói được như anh ấy đã nói với mình... Nhưng thôi! Mình cứ kể những việt lặt vặt trong cuộc sống của mình vậy. Chẳng hạn, mình sẽ nói mình đã suy nghĩ như thế nào khi từ chối không ở lại giảng dạy ở trường, mình xin đi thực tế, đi sửa lại cái cầu Long Biên này... Anh ấy sẽ thông cảm với lối diễn đạt vụng về của mình. Mình sẽ viết: “Anh Dân thương nhớ!” Không! Nói thế nào nhỉ? Nói thế nào cho anh ấy hiểu nỗi lòng của mình? Hay là... Ôi, thế thì mình ngượng chín người mất. Thôi! Cứ viết là “Anh!”... Thế rồi anh ấy muốn hiểu thế nào thì hiểu. Mình sẽ nhắc đến chiếc trụ cầu mình làm. Nhắc đến dòng sông Hồng với những doi cát bờ bên kia, nơi trước đây anh ấy hay sang bẻ ngô ấy. Phải rồi. “Anh Dân ạ, giờ đây em đã hiểu, mỗi một công việc làm của chúng ta ngày nay, dẫu đó là một công trình hay sự tích anh hùng, lại đều bắt nguồn sâu xa từ những kỷ niệm nhỏ bé của tuổi thơ. Cũng giống như mỗi dòng sông rộng, đều bắt nguồn từ những dòng suối nhỏ. Đôi khi chỉ là một mạch nước ngầm. Phải không anh?” Đúng! Mình sẽ viết thế. Ồ! Còn một chi tiết này nữa, suýt nữa thì quên, nhưng có nên viết ra không nhỉ? Cái hồi ở nhà, anh ấy kém toán lắm. Bây giờ liệu có học thêm không? Chắc “anh chàng” sẽ phải bấn lên vì những công thức lượng giác đấy nhé. Cho chết! Lính pháo bây giờ cần lượng giác lắm mà...

Vang đứng bật dậy, đi ra ngoài sân. Trăng tròn vành vạnh, lóng lánh trải xuống lớp cỏ mịn màng. Vang ngẩn ra vì những cảm xúc mới mẻ. “Ồ! Mình trở thành mơ mộng mất rồi”. Cô quay vào buồng, xoay xoay chiếc nắp bút trong tay. “Hỏng quá! Đáng nhẽ khi viết thư cho anh ấy, ngay từ những bức thư đầu, mày phải xưng hô như thế, Vang ạ”... Vang trách thầm mình và tự nhiên đỏ mặt. Cô bước lại bên bàn, se sẽ ngồi xuống ghế. Và không hiểu sao, khi vuốt phẳng phiu tờ giấy pơluya trên mặt bàn, cô lại nắn nót viết hàng chữ: “Gửi Dân, người bạn từ thuở thơ ấu của Vang!”

Trong đêm khuya, bỗng vẳng lại một tiếng sóng đột ngột. Rồi cũng đột ngột chìm đi, xa thẳm, như thể dòng sông muốn báo cho biết rằng, nó vẫn đang còn thức đấy.

                                                                                                                                         1968 - 1972


 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 18/04/2019

Tin khác

NHÀ VĂN NGỌC TRAINHÀ VĂN NGỌC TRAI
HỒNG DIỆU- NHÀ PHÊ BÌNH VIẾT VỀ NHÀ PHÊ BÌNHHỒNG DIỆU- NHÀ PHÊ BÌNH VIẾT VỀ NHÀ PHÊ BÌNH
NHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶTNHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶT

Tin mới nhất

NHÀ VĂN TRẦN VĂN TUẤN: GIỮA THẬT GIẢ, CŨ MỚI
NHÀ VĂN TRẦN VĂN TUẤN: GIỮA THẬT GIẢ, CŨ MỚI

Ở tuổi 70, nhà văn Trần Văn Tuấn vẫn miệt mài viết. Dáng vẻ gầy gò và khuôn mặt khắc khổ của ông hoàn toàn đối lập với những trang văn sinh động và hấp dẫn.

Sách mới

Bài toán khó tâp 1, 2

viết bởi: CAO NGỌC THẮNG

Bài toán khó tâp 1, 2
Về miền thinh không

viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Về miền thinh không
Người truyền ký ức

viết bởi: Nhà xuất bản

Người truyền ký ức