HỒNG DIỆU- NHÀ PHÊ BÌNH VIẾT VỀ NHÀ PHÊ BÌNH

Hồng Diệu là nhà phê bình văn học, ông đã có nhiều tác phẩm đọng lại trong tâm trí bạn đọc với các bài phê bình văn học trong và ngoài nước. Năm 2017, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tác phẩm “Lý luận phê bình văn học chọn lọc” của ông.

Viết bởi: Nhà xuất bản

 Hồng Diệu là nhà phê bình văn học, ông đã có nhiều tác phẩm đọng lại trong tâm trí bạn đọc với các bài phê bình văn học trong và ngoài nước. Năm 2017, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tác phẩm “Lý luận phê bình văn học chọn lọc” của ông. Sachvan.vn xin đăng chùm bài ông viết về các nhà phê bình văn học của chúng ta.

Trân trọng!

 

CHUYỆN THƠ… CỦA HOÀI THANH

 

Gần bốn chục năm về trước, khi cùng với Hoài Chân viết xong Thi nhân Việt Nam (1932 - 1941) điều Hoài Thanh "ngại nhất" là "sẽ mang tên nhà phê bình". Ấy thế mà... “ghét của nào, trời trao của ấy", sau đó, Hoài Thanh trở thành nhà phê bình thực thụ, và từ Cách mạng tháng Tám đến nay, ông là một nhà phê bình được nhiều nhà văn và người đọc tín nhiệm. Nhà phê bình ấy có một bản sắc vốn được hình thành từ sớm. Chuyện thơ... lại một lần nữa thể hiện bản sắc của ông.

Quyển sách của Hoài Thanh dày trên ba trăm trang, gồm bốn mươi bẩy bài tiểu luận và phê bình, chủ yếu là những bài đã đăng rải rác trên báo chí, hoặc đọc trên đài phát thanh những năm gần đây (có cả một ít bài đã đăng từ lâu chưa được tuyển vào những tập sách trước kia của ông). Điều dễ thấy, ở đây hầu hết là những bài ngắn. Nhiều bài chỉ dài vài ba trang, sáu bảy trăm chữ.

Ngay trong một số bài hiếm hoi dài hai, ba chục trang (Nói chuyện thơ Bác, Một số ý kiến ngắn về thơ Tố Hữu) cũng được móc nối bằng những đoạn ngắn có thể đứng độc lập được viết vào những thời kỳ khác nhau. Có người nói, tuổi tác và sức khoẻ của nhà phê bình chỉ cho ông viết ngắn như vậy (năm nay, tác giả Chuyện thơ... vừa tròn bẩy mươi tuổi). Điều đó nếu đúng chỉ đúng một phần. Phần đúng hơn, có lẽ là ở chỗ nhà phê bình chủ trương viết ngắn. Chắc ông cũng thấy như người đọc, lâu nay có những khi người ta kéo dài những trang viết mà lẽ ra nó không cần thiết phải dài như thế. Vả lại, trong lý luận phê bình, viết ngắn cũng có những cái lợi: về phía người đọc thì đỡ chán với lối văn nhiều khi đụng chạm đến lý luận khô khan, còn người viết thì có nhiều thì giờ đề cập nhiều chuyện, và với Hoài Thanh, có những chuyện tưởng như không thành chuyện. Có điều, dù viết ngắn hay dài, phong cách của Hoài Thanh, bản sắc của Hoài Thanh vẫn hiện ra rất rõ.

Bao trùm suốt cả quyển sách là tấm lòng mến yêu, trân trọng của Hoài Thanh đối với vốn văn hoá của dân tộc, chủ yếu là với thơ - thơ xưa và thơ nay. Với Truyện Kiều, với một bài như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã đành. Với thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ Sóng Hồng, thơ Tố Hữu đã đành. Với một truyện thơ độc đáo như Sống trong mồ đã đành. Với thơ được giải thưởng trong các cuộc thi thơ đã đành. Ông còn nhiệt tình phát hiện và biểu dương những tác giả từ lúc mới có dăm ba bài thơ hay như Nguyễn Duy, hoặc chỉ có một bài thơ khá chưa mấy ai biết đến như Lương Xuân Đoàn, thậm chí có người chỉ có một vài câu thơ hay... Tấm lòng ấy thật đáng quý.

Hầu như suốt ba trăm trang sách, nhà phê bình đều giữ được giọng chân tình, đôn hậu, chứng tỏ đối với thơ, đối với đời, ông có một lòng yêu tha thiết. Ông có đủ lý tình để chứng minh, để lý giải những điều ông muốn nói, cho nên cần thiết lắm ông mới trích dẫn ý kiến người khác. Lý luận ở văn ông không còn là "màu xám" nữa mà đã được thống nhất với tình cảm để trở thành lá của "cây đời luôn luôn xanh tươi". Có thể nói, Hoài Thanh là một trong số không nhiều những nhà phê bình kết hợp được một cách nhuần nhuyễn giữa tư duy lô-gích và tư duy hình tượng. Đọc ông, nhiều khi người ta không thấy lý luận đâu cả, chỉ thấy tình cảm, hay nói đúng hơn, lý luận đã hoà trong tình cảm để đi vào trái tim trước khi đi đến khối óc người đọc.

Văn phê bình của Hoài Thanh tự nhiên, gần với phong vị tuỳ bút như trước kia có người đã nhận xét. Ông lại có một bút pháp rất đa dạng. Từ bố cục, kết cấu, đến cách viết đều không công thức, dễ thu hút được cảm tình của nhiều người. Các bài viết không theo một khuôn mẫu nào nhất định mà biến hoá linh hoạt. Có nhiều khi, ông ôn lại một kỷ niệm. Có những khi ông giãi bầy một tâm sự riêng để nói về những cái chung. Có khi ông tóm tắt nội dung trước khi bình thơ. Có khi ông dẫn thơ rồi mới bình. Có khi ông dẫn thơ mà không cần bình để thơ trực tiếp đến với người đọc. Khi bình thơ ông thường mực thước, không sa đà vào việc "tán" quá rộng, đi quá xa như một số người thường mắc. Từ chuyện thơ, ông nghĩ chuyện đời. Từ chuyện đời, ông nghĩ chuyện thơ. Đọc thơ người này ông nghĩ đến thơ người khác và so sánh, liên hệ. Nhiều khi thấp thoáng sau những nhận xét của ông là một nụ cười ý nhị. Ông có những lối nói vừa vui, vừa thâm thuý. Không ít người giới thiệu thơ tẻ nhạt, còn ông thì sinh động v.v...

Đó là những biểu hiện của một người có nhiều kinh nghiệm trong nghề.

Chuyện thơ... cho thấy Hoài Thanh có vốn hiểu biết sâu rộng. Ông lại có con mắt tinh đời. Cho nên, ông nhìn được những cái mà nhiều người không nhìn ra. Với Truyện Kiều chẳng hạn. Người ta viết về nó đã lắm. Ông viết về nó cũng đã nhiều. Thế mà qua "cảnh trao duyên trong Truyện Kiều" (tức là đoạn Kiều nhờ em thay mình trả nghĩa Kim Trọng), ông cũng nêu được một thủ pháp nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du, không chỉ riêng trong đoạn ấy mà trong cả truyện. Ông viết: "Nguyễn Du rất biết nhập vai. Nguyễn Du từng hoà với Kiều làm một và hoà làm một đến một mức rất sâu. Nhưng hoà làm một với Kiều mà vẫn là Nguyễn Du, người sáng tạo ra cả thế giới Truyện Kiều, vẫn nhìn Kiều và nhìn mọi người với cái nhìn của Nguyễn Du" (tr.8). Lắm khi, Hoài Thanh có những nhận xét thật bất ngờ. Chẳng hạn, trong đoạn thơ này của Phan Thị Thanh Nhàn ở một bài thơ được giải thưởng một cuộc thi thơ:

Chúng tôi lắng nghe tên mẹ tên cha

Thấm thía nửa phần buồn của xóm

Nước mắt ông già mù nhỏ xuống

Đã tràn sang mi mắt chúng tôi

Không phải vì chuyện cũ ngậm ngùi

Chúng tôi khóc nửa phần vui đang sống

Chắc là tác giả đang để cho dòng thơ trôi theo cảm xúc chân thực của mình, còn người đọc thì mải theo dõi luồng tình cảm rất đúng của tác giả bài thơ, ai nấy đều quên bẵng đi cái nghĩa đen ít nhiều thô thiển ở câu thứ ba và câu thứ tư. Hoài Thanh đánh một cái dấu vào cuối câu thứ tư rồi chú thích: "Tình cảm đúng, chỉ tiếc hình ảnh quá tuỳ tiện về mặt vệ sinh" (tr.249). Chắc cả tác giả và người đọc đều giật mình trước nhận xét tinh như vậy. Những nhận xét tương tự ở Hoài Thanh khá nhiều. Chỉ có ít trường hợp ông còn sơ ý. Khi dẫn đoạn thơ này trong một bài thơ của Kim Đính mà Hoài Thanh cho rằng "đã nói lên một cách ý nhị" một nét mới trong cuộc sống chúng ta (tr.296):

Đêm nay

Quả đất đi chưa trọn vẹn một vòng

Kế hoạch đã tròn đầy một tuổi

Bàn tay thợ sức tin yêu phơi phới

Vật ngã cả thời gian

Đào chưa về nhà máy đã sang xuân

Ông đã không phê phán câu Vật ngã cả thời gian. Tôi tin chắc rằng những người thợ sẽ không hài lòng với cái nhìn thiếu tình cảm như vậy, và chắc người đọc không đồng tình với tác giả bài thơ. (Cách nói của nhà văn Xô-viết I. Êrenbua: Thời gian ủng hộ chúng ta mới đúng, hay và có tình làm sao!)

Như trên đã nói, Hoài Thanh rất quý mến, trân trọng thơ hay. Từ sự quý mến, trân trọng này, đã lâu, chúng ta thấy dẫn đến một chủ trương của Hoài Thanh: ông thường chỉ muốn tìm thơ hay để khen, ít tìm thơ dở để chê, hay là không muốn chê thơ dở; những khi không đừng được ông mới chê, mà có chê cũng rất nhẹ nhàng, tình cảm, và chỉ cốt làm nổi lên cái hay. Cho nên, nếu như những năm trước đây, có những người có ấn tượng là Hoài Thanh ít đề cập những chuyện gay go, rắc rối; có người còn cho ông ít xông xáo và thiếu tính chiến đấu kể cũng không phải không có lý. Phải chăng, như thế mới "hợp với cái tạng của ngòi bút" ông, như một cách nói của Hoài Thanh? Ở một mức độ nhất định, người đọc có thể "thể tất nhân tình", nhưng tôi vẫn đồng ý với nhiều người, muốn tác giả Chuyện thơ... phê phán nhiều hơn, mạnh hơn những chỗ dở trong thơ, mà những chỗ dở trong thơ thì rất nhiều, như chính ông đã nhiều lần khẳng định. Chúng tôi nghĩ, một ngòi bút được tín nhiệm và có nhiều sức thuyết phục như Hoài Thanh mà vạch ra được những chỗ dở và phê phán nó một cách thẳng thắn, thấm thía, chân tình, để người làm thơ không lặp lại những cái dở ấy nữa, chắc sẽ là một biện pháp tốt để trong đời sống tinh thần của chúng ta, thơ dở giảm đi và có thể có nhiều thơ hay hơn. Chứ sao!

Thơ mà Hoài Thanh trích để bình, thường là những thí dụ tiêu biểu chứng minh cho những nhận xét của ông. Hiếm hoi lắm, mới có những câu cho thấy, nếu đọc nhiều, thuộc nhiều hơn nữa, chắc ông còn dẫn được những thí dụ đắt hơn nữa. Chẳng hạn, khi ông trích mấy câu này của Thanh Hải:

Ôi mơ ước bốn nghìn năm

Dầu ước mơ rất đẹp

Mẹ hỡi, chắt chiu đâu biết có ngày nay

Ta đánh quân thù trên cả chín tầng mây

Như Đại Thánh đằng vân diệt bầy quỷ dữ

và cho là "rõ ràng... cách nói ấy phảng phất cách nói của người xưa" (tr.21) thì thật ra, có những câu "phảng phất cách nói của người xưa" hơn những câu ấy nhiều, có những câu học tập được cách nói của người xưa một cách sinh động hơn nhiều.

Lập luận của Hoài Thanh cũng thường chặt chẽ, với những nhận định, những kết luận chính xác. Cũng hiếm thấy có những điểm phải bàn lại, như khi ông nói dù chỉ là trong một dịp tạt qua: “giọng thơ dân gian rất hồn nhiên, nó vốn là một ưu thế riêng của Mỹ Dạ" (tr.223), chắc là người đọc khó đồng tình.

Có người còn muốn biết những nhận định tổng quát, những đánh giá chung của một người am hiểu thơ như Hoài Thanh đối với thơ một thời kỳ, một giai đoạn, từ sau kháng chiến chống Pháp đến nay, như trước kia ông đã từng làm (với Thi nhân Việt Nam và Nói chuyện thơ kháng chiến). Điều này, rất tiếc là Hoài Thanh chưa làm được, vì những lý do nào đấy.

Trong Chuyện thơ... có một số chuyện không phải là “chuyện thơ", có một số chuyện rất ít liên quan đến “chuyện thơ" - dù chúng là những chuyện hay và rất có ích. Bài Cần tôn trọng và phát huy hơn nữa quyền làm chủ của người đọc và mấy bài khác không viết riêng về thơ, nhưng ít nhiều có quan hệ đến thơ, để trong sách này cũng được đi. Nhưng Nhớ lại lần đầu gặp bác Hoàng Ngọc Phách (tác giả tiểu thuyết Tố Tâm), hoặc Vấn đề tên xã, thôn, xóm ở nông thôn là bản tham luận đọc trước Quốc hội chẳng hạn, thì không hiểu ý kiến người khác thế nào, chứ theo thiển ý chúng tôi, hoặc là chúng phải nằm ở một quyển sách nào khác, hoặc là nếu muốn để ở quyển sách này thì cái tên Chuyện thơ... ở đầu sách phải được thay bằng một cái tên khác. Những chuyện tập hợp trong Chuyện thơ... có những bài viết để đáp ứng nhu cầu phục vụ những nhiệm vụ của một thời điểm, bây giờ đọc lại, người đọc không khỏi có ít nhiều ấn tượng khống đều về chất lượng. Nhưng do tác giả có khả năng nhìn nhận một cách tinh tế, sâu sắc các vấn đề ở cả những khía cạnh nhỏ, lại có nghệ thuật già dặn của một ngòi bút phê bình lâu năm, nên những trang viết của Hoài Thanh đã để lại một ấn tượng tốt. Đọc Chuyện thơ... của Hoài Thanh, người ta lại có dịp thấy rõ bản sắc của một nhà phê bình thơ. Bản sắc ấy đưa tác giả vào một diện không nhiều những nhà phê bình mà nếu bài viết có che tên tác giả đi người ta vẫn nhận ra văn ấy "đúng là của con người ấy". Và đáp lại lòng mến yêu, trân trọng của Hoài Thanh đối với thơ là lòng mến yêu, trân trọng của người đọc đối với Hoài Thanh. Dù người ta còn mong muốn ở ông điều này, điều khác.

3-1979

 

ĐỌC 24 GIỜ TRONG ĐỜI MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ

 

Nhà văn người áo Xtê-phan Xvai (1881-1942) được coi là cây bút cự phách của thế kỷ XX. Trong Xtê-phan Xvai - Mác-xim Gô-rơ-ki viết - có sự kết hợp rất hiếm và do đó rất quý: sự kết hợp giữa tài năng của một nhà tư tưởng với tài năng của một nghệ sĩ bậc nhất. Ông còn nói cụ thể hơn: "Tôi có cảm giác trước Xtê-phan Xvai, chưa ai viết về tình yêu sâu sắc, thấm thía với một sự quý mến con người tuyệt vời đến thế!”

Ta sẽ thấy những nhận xét trên đây của M. Gô-rơ-ki là đặc biệt chính xác, khi đọc 24 giờ trong đời một người đàn bà của Xtê-phan Xvai (Nhà xuất bản Văn học, 1986).

Tập sách gồm hai truyện. Một truyện lấy tên làm tên chung cho cả tập do Lê Phát dịch, và một truyện khác: - Bức thư của người đàn bà không quen, Dương Tường dịch.

Ở cả hai truyện, X. Xvai đều đẩy bước phát triển của sự việc đến mức độ căng thẳng, và đều đặt nhân vật chính của mình vào những tình huống cực kỳ éo le để bộc lộ hết tính cách của họ, và bằng một cách kín đáo, làm người đọc xúc động trước những tấm lòng vị tha, những tâm hồn trong sạch, thanh cao, đồng thời lên án thói ích kỷ, và căm ghét những tội ác đẩy con người tới bước đường cùng.

Nhà văn R. trong Bức thư của người đàn bà không quen trẻ tuổi đẹp trai, hào hoa phong nhã, nhưng quen sống buông thả, đi lại với bao nhiêu người đàn bà rồi sẵn sàng quên ngay họ, không hề biết rằng đã có một cô gái nghèo và xinh đẹp yêu mình một cách đặc biệt chân thành, sâu sắc. Ông cũng không hề biết rằng để đạt được tình yêu đơn phương ấy, cô gái đã âm thầm hy sinh tất cả, đến mức cuối cùng có với ông một đứa con; và để nuôi con, cô lại chịu đựng bao nhiêu nỗi khổ khác, kể cả việc phải bán mình cho những người đàn ông giàu có. Cả truyện, trừ mấy dòng đầu và mấy dòng cuối, là những bức thư tuyệt mệnh cô gái "không quen" ấy viết cho nhà văn R, viết trong căn phòng bên cạnh đứa con của hai người vừa chết sau một căn bệnh trầm trọng. Thư không ghi địa chỉ người gửi, không ký tên người viết. Với năm đoạn, mỗi đoạn lại mở đầu bằng câu: "Con em chết hôm qua" hoặc "Con chúng ta chết rồi", bức thư đưa người đọc từ hiện tại trở về quá khứ, rồi trở lại hiện tại để chứng kiến một mối tình ngang trái, mà một người thì dửng dưng, một người thì đầy bi kịch dù có những khi cảm thấy mình tuyệt vời hạnh phúc. Dĩ nhiên, chuyện trong Bức thư của người đàn bà không quen không phải là chuyện có tính phổ biến, có khi còn quá hiếm nữa. Nhưng sức thuyết phục của nó là ở chỗ, qua một trường hợp cá biệt, nó nói được những cái chung, nó thể hiện đúng tính cách của một trí thức quen hưởng lạc, cầu an, và một cô gái ngây thơ, trong sạch, biết yêu, dám hy sinh cho tình yêu - một tình yêu có phần cuồng tín.

Hãy đọc mấy dòng cuối cùng, tác giả viết về tâm trạng nhà văn R. sau khi xem xong bức thư: "Ông rùng mình sợ hãi. Ông thấy như đột nhiên một cái cửa vô hình mở ra và một luồng gió lạnh giá từ thế giới bên kia lùa vào cái yên tĩnh của phòng ông. Ông có cảm giác là một người vừa chết và trong đó có một tình yêu bất tử; tận đáy sâu của tâm hồn ông, một cái gì mở ra, và ông nghĩ đến người yêu vô hình ấy một cách cũng hư linh và say đắm như nghĩ tới một tiếng nhạc xa vời (tr.147). Rõ ràng, bức thư đã có tác động tới nhà văn. Nhưng đối với ông, nó cũng chỉ là một tác động yếu ớt. Ông không thấy day dứt, không thấy bức bối, không thấy ân hận đúng với mức độ tội lỗi vô tình ông đã gây ra đối với một người con gái lương thiện, mặc dù với tình yêu sâu sắc của mình, cô gái không hề có ý oán trách ông. Những dòng cuối cùng này của truyện lại làm người ta thấy truyện của X. Xvai mang sức tố cáo kín nhưng mạnh.

 Xưa nay, người ta chỉ chép những bài thơ mà người ta thích, ít thấy ai chép truyện. Mà với một truyện dài gần sáu chục trang sách in như Bức thư của người đàn bà không quen chép được đâu phải nhanh? Thế mà cách đây đã khá lâu, người viết những dòng này đã từng thấy những cô gái chuyền tay nhau những trang chép tay Bức thư của người đàn bà không quen (bản dịch của một người nào đó). Xem thế thì thấy, có những người đọc đồng cảm với tác giả thiên truyện này đến thế nào, thích văn X. Xvai đến thế nào!

Tuy nhiên, Bức thư của người đàn bà không quen cũng chỉ là một trong nhiều truyện xuất sắc nhất của X. Xvai. Cái độc đáo ở truyện 24 giờ trong đời một người đàn bà lại biểu hiện ở những sắc thái khác. Cũng là lời kể, nhưng không phải với hình thức một bức thư, mà là một cuộc trò chuyện. Ở đây, nhà văn cũng đẩy sự việc đến những bước phát triển đầy tính kịch, nhưng dồn nén lại chỉ trong vòng 24 giờ, làm diễn biến câu chuyện trở nên cực nhanh (tuy nhiên, người đọc không thấy mệt vì được nghỉ ở những chỗ ngừng của người kể). Nhà văn cũng viết về tình yêu, nhưng ở đây tình yêu đã lùi xuống hàng sau, để những vấn đề khác được đưa lên vị trí chủ yếu: lòng nhân ái, tính bao dung của một người phụ nữ nhân hậu, và sức cám dỗ đến mức cực kỳ ghê gớm của một tệ nạn và một tội ác xã hội: tệ cờ bạc.

Cũng với một ngòi bút sâu sắc và cái nhìn tinh tế, X. Xvai gây được những ấn tượng rất mạnh. Qua lời nhân vật chính của truyện, nhà văn đưa ra một lối quan sát con bạc thật độc đáo: muốn biết đúng tâm trạng từng người trong sòng bạc, không phải nhìn vào mặt, mà trước hết phải nhìn vào bàn tay họ. Trong bốn trang liền, và rải rác ở những chỗ khác, nhà văn đặc tả những nét riêng biệt ở bàn tay những con bạc với đủ dáng vẻ của chúng - mà người đọc sẽ thấy đó là những biểu hiện của tính đam mê, thói lừa đảo, sự cay cú, niềm vui và nỗi khổ... Qua cách quan sát đặc biệt ấy, bà mệnh phụ người Anh, nhân vật chính của truyện, đặc biệt quan tâm đến một thanh niên trong suốt hai giờ của một canh bạc, từ lúc được khá nhiều đến khi thua sạch, cuối cùng thì tuyệt vọng và đang đi vào chỗ chết. Đó là chàng trai con một gia đình quý tộc lâu đời của Ba Lan học trường ngoại giao, vừa tốt nghiệp một kỳ thi với kết quả đặc biệt rực rỡ. Mang món tiền bằng một tháng lương do người bố thưởng, anh ta đến trường đua ngựa, đánh cá, và được cược với số tiền nhiều gấp ba. Từ đó anh đâm say mê cờ bạc, cứ thua rồi được, nhưng được rồi thua, đến nỗi phải bán tất cả những gì có thể bán, kể cả kỷ vật có tính chất thiêng liêng, rồi xin xỏ, rồi vay mượn, cho đến lúc phải ăn cắp món đồ trang sức quý của người bác, đến một sòng bạc lớn nước Pháp lao vào cuộc đỏ đen cho tới bước đường cùng... Bà mệnh phụ bị kích động rất mạnh trước tình trạng tuyệt vọng của chàng trai, để cứu anh ta, đã đưa anh ta vào nhà trọ, cùng ở với anh qua đêm trong một căn buồng, sáng hôm sau đưa tiền, buộc anh ta lên tàu hoả về nhà chuộc đồ trang sức cho người bác, trở lại cuộc sống yên lành... Nhưng sau đó, sự việc bà mong mỏi sẽ diễn ra không giản đơn như bà nghĩ...

Đọc X. Xvai, nếu để ý một chút sẽ thấy, một trong những đặc điểm chính của văn ông là hay tạo những tình huống bất ngờ mà cả nhân vật trong truyện lẫn người đọc khó có thể hình dung trước. Ở những truyện khác cũng như hai truyện này. Riêng 24 giờ trong đời một người đàn bà vào loại truyện tập trung nhiều yếu tố bất ngờ nhất, trong đó có hai lần đặc biệt. Bà mệnh phụ hơn bốn chục tuổi, sau khi chồng chết, thấy mình không còn ham muốn gì, thấy đời mình không còn mục đích gì, coi mình hoàn toàn vô ích, chỉ giải buồn bằng cách đi du lịch thật nhiều cho đến bao giờ hai con trai xây dựng gia đình. Cứu vớt chàng trai thua bạc, bà xuất phát hoàn toàn từ tấm lòng từ thiện đầy tính vị tha, bởi căm phẫn cực độ trước một tệ nạn làm cho con người cực khổ. Thấy chàng trai hối hận một cách đặc biệt chân thành, và biết ơn mình với một tấm lòng kính trọng sâu sắc, bà coi như đã làm được một việc lớn, và bỗng dưng - thật bất ngờ - một tình cảm đối với người chỉ đáng tuổi con bà nẩy sinh: tình yêu. Hai mươi bốn năm sau, nhớ lại tình cảm của mình bấy giờ, bà sẽ kể lại: “Nếu lúc đó, người đàn ông ấy ôm lấy tôi, nếu anh ta yêu cầu tôi đi theo anh, tôi sẽ đi với anh tới cùng trời cuối đất, tôi sẽ làm nhục tên tuổi của tôi và của các con tôi. Tôi sẽ bỏ ngoài tai những lời thuyết phục của mọi người và của lý trí trong tôi, tôi sẽ trọn đời với anh ta... Tôi sẽ không hỏi là đi đâu, đi bao nhiêu lâu, tôi sẽ không đoái nhìn lấy một lần về phía sau, về cuộc đời đã qua của tôi, tôi sẽ hy sinh cho người đàn ông này tiền bạc, tên tuổi, tài sản, danh dự của tôi. Tôi có thể đi ăn xin và chắc chắn không có điều gì hèn hạ ở trên đời này mà tôi không dám chấp nhận; vì anh, tôi có thể vứt bỏ tất cả những gì mà người ta gọi là liêm sỉ và giữ gìn; nếu anh ta chỉ tiến thêm một bước về phía tôi và nói một lời, nếu anh ta tìm cách chiếm lấy tôi, trong giây phút ấy tôi sẽ sa ngã và tôi sẽ ràng buộc mãi mãi với anh ta" (tr. 72-73).

Theo lời hẹn với anh ta, bà định ra ga tiễn, nhưng rồi tình yêu bảo bà không tiễn mà làm một việc kỳ lạ: “Tôi mường tượng... tôi sẽ theo anh ta ra ga tàu như thế nào và tới phút cuối cùng, phút chót, khi anh ta đưa tay ra cho tôi chào vĩnh biệt lần cuối, tôi bỗng theo chàng trai còn ngạc nhiên này lên tàu ra sao, để ở bên anh ta đêm nay, đêm mai, đến bao giờ tuỳ ở anh” (tr.74-75). Đến ga chậm một chút, tàu đã chạy, trong nỗi thất vọng cao độ, bà "cố tìm ít nhất một cái nhìn từ cửa sổ toa tàu, ít nhất một cử chỉ, một cái chào", nhưng tàu chạy quá nhanh, phút chốc, chỉ còn một đám mây đen u buồn trước đôi mắt đã mờ của bà... Nếu truyện chỉ dừng ở đây thì với tài kể chuyện và nghệ thuật sử dụng tình tiết của nhà văn, truyện cũng đã là hay. Nhưng giá trị của nó được nâng cao hơn rất nhiều, sau khi điều bất ngờ ấy vừa xẩy ra thì đã lại có một bất ngờ nữa, mà lần này mới cay đắng làm sao! Yêu chàng trai mà không có cách nào gặp được nữa, bà muốn trở lại ngay những nơi vừa diễn ra những kỷ niệm lạ lùng và tốt đẹp giữa anh ta và bà; và nơi trở lại đầu tiên là nơi bà gặp anh ta lần đầu: sòng bạc. Thật hết sức lạ lùng, chàng trai vừa mới tỏ ra hết sức ăn năn hối hận, vừa mới thề thốt một cách đặc biệt trang nghiêm, thành kính trong nhà thờ, vừa mới tỏ lòng vô cùng biết ơn người đã cứu mình, vừa mới hứa lời hứa danh dự sẵn sàng nghe lời bà lên tàu về quê, cái chàng trai ấy đã lại đang ngồi đúng chỗ cũ, và đang lao vào cuộc đỏ đen, bằng những đồng tiền bà đưa, với mức độ còn đam mê điên cuồng hơn trước. Không thể nào kéo anh ta ra khỏi sòng bạc, lại bị anh ta chửi mắng thậm tệ, bà chỉ còn cách buông mình xuống chiếc ghế ngoài phố mà hôm trước anh ta đã ngồi, cùng với một tâm trạng tuyệt vọng gần giống tâm trạng anh ta lúc đó...

Cuối cùng rồi bà cũng lên được tàu; qua hết ga nọ đến ga kia, "48 giờ liền không ngủ, không nói, không ăn", trở về nhà với các con. Còn chàng trai, sau cơn bi thảm cuối cùng ấy ở sòng bạc, đã tự tử. Tưởng khó có truyện nào tố cáo sức cám dỗ của tệ cờ bạc nói riêng và của tội ác xã hội nói chung mạnh và sâu như truyện này. (Có điều, hai chục trang đầu truyện, theo tôi, khá tản mạn, và phải chăng không thật cần thiết lắm?)

Có thể nói Bức thư của người đàn bà không quen và 24 giờ trong đời một người đàn bà là hai truyện vào loại hay nhất của X. Xvai. Nó có thể sánh với bất cứ truyện ngắn xuất sắc nào của ông, như Bộ sưu tập vô hình hay Men-đen, người bán sách cũ hoặc Một trái tim tan nát, v.v… Chúng thể hiện một chủ nghĩa nhân đạo cao cả, một sự cảm thông đặc biệt với nỗi khổ của con người, qua sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý, với một nghệ thuật thể hiện tuyệt diệu.

Đọc những truyện như vậy của X. Xvai, tôi cứ tự hỏi:  không biết đã có bao nhiêu giọt nước mắt rơi trên những trang sách của ông, không biết có bao nhiêu lầm lạc, bao nhiêu sa ngã và bao nhiêu tội ác đã phải dừng lại trước những trang sách của ông. Sung sướng biết bao nhiêu, khi trên đời này có được những nhà văn như vậy, viết được những trang sách như vậy.

6-1986

 

  ĐỜI VĂN VŨ NGỌC PHAN

 I

Sinh thời nhà văn Vũ Ngọc Phan, tôi chỉ được gặp ông hai lần, vào mấy năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Lần đầu, tại một cuộc hội thảo khoa học, hình như do ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, nhiều người đọc tham luận; Vũ Ngọc Phan nói về tình hình phê bình văn học nước ta trước Cách mạng Tháng Tám 1945, và giải thích tại sao bộ sách Nhà văn hiện đại của ông bốn quyển mà lại in thành năm tập. (Những chuyện này, về sau, Vũ Ngọc Phan đã ghi lại kỹ hơn trong hồi ký Những năm tháng ấy, Nhà xuất bản Văn học in năm 1987, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 2000).

Lần thứ hai, tại cuộc họp cộng tác viên lý luận, phê bình rất hẹp của báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), cả chủ và khách có hơn mười người, tôi cũng được mời dự, nhiều người phát biểu ý kiến; Vũ Ngọc Phan thì nói về việc nên viết ngắn trong nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học...

Cả hai lần, nhà văn Vũ Ngọc Phan đều chỉ nói trong mươi, mười lăm phút. Cũng cả hai lần, tôi không có dịp nói với ông một lời - dù tôi đã “quen” với Vũ Ngọc Phan và văn ông từ những ngày còn rất nhỏ.

Hai lần nghe Vũ Ngọc Phan nói, tôi có đôi chút cơ sở để đoán - hay là nhận ra - những đặc điểm của nhà văn này: hiền từ, nhân hậu, nghiêm cẩn, tỉ mỉ, ít nói, và làm việc không biết mệt mỏi với công việc mà ông say mê, ưa thích.

Nhận xét ấy, sau này tôi biết là khá chính xác, khi nhìn chồng sách viết trong cả đời văn Vũ Ngọc Phan chất cao đến mức không một nhà nghiên cứu, lý luận phê bình nào của chúng ta từ trước đến nay có được; và cả khi đọc những dòng mà các nhà văn, các nhà nghiên cứu, cũng như con cháu nhà văn viết về Vũ Ngọc Phan sau khi ông qua đời. Chẳng hạn, họa sĩ Vũ Giáng Hương nói về “thời gian biểu”, của cha mình, những ngày trước Cách mạng: “Cha tôi suốt ngày làm báo ở nhà in, buổi tối có khi tám chín giờ mới về đến nhà. Về nhà lại viết tiếp, lại đọc sách. Người lúc nào cũng gầy, đau dạ dày liên miên”.

Chị cũng viết:

“Ông là người hiền hòa nhưng rất nghiêm, ít nói nhưng các con sợ lắm”.1

Giáo sư - tiến sĩ Vũ Triệu Mân thì viết về cha mình những ngày ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, sau lần mổ dạ dày:

“Mặc dù sức yếu, người vẫn không rời cây bút, ngày ngày người mải mê viết dưới ánh sáng qua chiếc cửa sổ đan bằng liếp"(1).

Giáo sư - viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng nói về ấn tượng đối với mình từ rất lâu tới những ngày cuối đời của nhà văn:

“Đến bây giờ, mỗi khi nhớ đến cha chúng tôi, tôi lại thấy hình ảnh cha cần mẫn ngồi bên bàn viết, viết mải mê sớm chiều”…(2)

Không chỉ là các con, mà các cháu của nhà văn Vũ Ngọc Phan cũng cùng một cảm nhận. Vũ Phương Nga nhớ lại:

“… Sáng nào cũng vậy, ông tôi mải miết viết đến tận gần bữa cơm trưa mới đứng dậy nghỉ... Có hôm vì mải hái dây leo quá, tôi bị nhựa cây dính đầy áo, tôi rất sợ, chạy lên gác nói với ông, chỉ sợ ông mắng, nhưng ông chỉ cười với tôi rất hiền, bảo tôi đi thay áo và ngâm áo cho sạch".(3)

Còn Vũ Hoàng Hoa thì xưng con với ông một cách thật thân thiết và cảm động:

“Ông như cây đại thụ vẫn tỏa sáng xuống đời con...

Giờ đây, ông hiện lên trong tâm trí con toàn vẹn hơn, gần gũi hơn. Con thấy ông đang viết viết, xóa xóa, và suy nghĩ, có lúc lại mỉm cười trìu mến…” (1)

Phải nói, những điều thốt lên tự đáy lòng những người thân trong gia đình nhà văn Vũ Ngọc Phan về ông qua những thời kỳ khác nhau - vừa dẫn một ít ở trên đây - chỉ có thể có được khi tính tình và tác phong ấy của nhà văn đã thành chuyện hết sức bình thường, và lặp đi lặp lại hàng ngày, và in đậm trong tâm trí họ, không bao giờ phai nhạt.

 II

Sự nghiệp của Vũ Ngọc Phan được hình thành từ hai lĩnh vực chủ yếu: viết báo và viết văn, mà viết văn là chính, đặc biệt là văn phê bình, nghiên cứu. (Tôi không quên thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Vũ Ngọc Phan đã từng là tổng thư ký Ủy ban vận động văn hóa toàn quốc, và chủ tịch ủy ban kháng chiến khu Đống Đa; đến những năm sau này là tổng thư ký và phó chủ tịch hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, v.v... Nhưng đó là những công việc hoặc "bất đắc dĩ”, hoặc theo yêu cầu của tổ chức, hoặc chỉ chiếm một thời gian không dài trong cuộc đời ông).

Hoạt động báo chí của Vũ Ngọc Phan thể hiện ở hai phương diện. Ông tích cực và thường xuyên viết bài cho nhiều báo, báo tiếng Việt và báo tiếng Pháp; ông cũng trực tiếp làm báo, khi thì trợ bút, khi thì thư ký tòa soạn, khi thì chủ bút.

Thời kỳ đầu viết báo, Vũ Ngọc Phan quan tâm đến nhiều chuyện trong đời sống xã hội, nhất là đời sống của những người lao động. Chỉ nói riêng một vấn đề dân số và lương thực, năm 1935, Vũ Ngọc Phan đã viết đến năm bài báo, trong đó việc hạn chế sinh đẻ (mà ngày nay ta thường nói là sinh đẻ có kế hoạch) là chuyện ông đặc biệt quan tâm. Nếu chúng ta nhớ rằng chuyện lương thực ở Việt Nam mới được giải quyết tương đối ổn định trong vài chục năm gần đây, còn việc sinh đẻ có kế hoạch hiện nay vẫn là chuyện khó khăn, và nhiều nơi trên thế gian này còn rất nan giải với vấn đề dân số và lương thực, ta sẽ thấy ý nghĩa thời sự với ngày nay của ngòi bút Vũ Ngọc Phan cách đây đã bẩy thập kỷ.

Những năm về sau, việc làm báo của Vũ Ngọc Phan thiên về văn học hơn. Cái việc nhà văn đồng thời là nhà báo thì hay hay dở, và chuyện giống nhau, khác nhau giữa người viết văn với người làm báo đã từng là đề tài cho người trong nghề bàn luận. Hãy nghe tiếng nói của những người viết văn và cũng làm báo đồng thời với Vũ Ngọc Phan. Chẳng hạn, Hoài Thanh (1909-1982) tán thành sự phân biệt giữa nhà văn và nhà báo:

“… Ở các nước, nhà văn và nhà báo là hai hạng người khác nhau hẳn. Nhà báo chỉ mong thay đổi một thời, nhà văn có cái hy vọng ảnh hưởng đến lòng người mãi mãi; nhà văn muốn trao mỹ cảm cho người xem, nhà báo nếu cũng có ước muốn ấy sẽ thành nhố nhăng, rồ dại”.1

Thiếu Sơn (1908-1978) thì nhấn mạnh sự cần thiết của nghề báo đối với nghề văn:

“Roland Dorgelès, Henri Duvernois và biết bao nhiêu danh sĩ Pháp đã nhờ có làm báo mà kết cấu nên những sự nghiệp văn chương bất hủ. Chính ông Duvernois đã nói: [Trường học của chính nhà viết tiểu thuyết, cái trường mà họ học trực tiếp với đời, cũng như ông thầy thuốc đã học thuốc ở đầu giường bệnh nhân, ấy là nghề làm báo]”(2). Còn với Vũ Ngọc Phan, ông cũng thấy ích lợi của việc làm báo khi viết văn - ở đây là văn phê bình, nghiên cứu: “… Tôi đang viết bộ sách phê bình Nhà văn hiện đại, tôi cần thường trực một báo nào đó thì mới nắm được tình hình văn học đương thời, mới biết được nhiều dư luận về tác phẩm văn học"(1).

Quả như vậy. Chính do làm báo, Vũ Ngọc Phan mới bao quát được gần nửa thế kỷ văn học, và có điều kiện để theo dõi, đọc và nghiên cứu, phê bình nhiều tác phẩm, tác giả một cách cụ thể, tỉ mỉ đến thế trong bộ sách Nhà văn hiện đại.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Vũ Ngọc Phan vẫn viết báo. Những bài báo của ông trước sau có đến hàng trăm, tiếc rằng đến nay chưa sưu tầm đầy đủ. Có điều, chính Vũ Ngọc Phan đã sưu tầm và tuyển chọn một phần để in trong một số quyển sách của ông, trước Cách mạng Tháng Tám như Nhìn sang láng giềng (Nhà xuất bản Minh Phương, 1941), Chuyện Hà Nội (Nhà xuất bản Bách Việt, 1944), Những trận đánh Pháp (Nhà xuất bản Đại La, 1946) và sau này như Qua những trang văn (Nhà xuất bản Văn học, 1976)...

Viết về Vũ Ngọc Phan, các nhà nghiên cứu trước nay chưa có dịp đề cập mấy tác phẩm trước cách mạng vừa dẫn của ông vì đó không phải là tác phẩm văn học. Nhưng, hơn ở đâu hết, chính những tác phẩm ấy thể hiện cụ thể, trực tiếp lòng yêu nước của một trí thức và trách nhiệm một công dân đối với xã hội. Nhìn sang láng giềng bằng con mắt khách quan, xuất phát từ yêu cầu “Muốn hiểu tình thế Đông Dương trong lúc này, không thể nào không biết đến các nước ở gần Đông Dương”, Vũ Ngọc Phan giới thiệu với người đọc những gì ông biết được (chắc phần lớn qua sách báo nước ngoài) về Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin (trước kia thường gọi là Phi Luật Tân), Ấn Độ, Thái Lan, Xingapo (trước kia thường gọi là Tân Gia Ba) và Inđônêxia (trước kia thường gọi là Nam Dương). Những tư liệu nhiều khi rất tỉ mỉ trong quyển sách này đến nay phần lớn đều lạc hậu (tất nhiên!) nhưng vẫn còn không ít chứng cứ của những thời kỳ lịch sử, và quyển sách chắc chắn có ích, mà có ích nhiều hơn đối với người đương thời cách đây già nửa thế kỷ, khi các phương tiện thông tin đại chúng còn rất thô sơ và hạn chế.

Kể chuyện nước ngoài rồi, Vũ Ngọc Phan trở lại nước mình, và kể Chuyện Hà Nội chuyện của một thành phố mà Vũ Ngọc Phan quen thuộc từ nhỏ, do chính ông chứng kiến hoặc nghe những người khác kể lại. Trong lời mở đầu quyển sách, tác giả bộc bạch: ông "hơi ngả về những cái xấu nhiều hơn là về những cái đẹp của chốn kinh kỳ, nhưng dù xấu dù đẹp cũng đều theo con mắt vô tư"(1). Vũ Ngọc Phan, một mặt cho rằng: “Phàm những người có cảm tình, có tư tưởng, biết yêu mến những cái cố hữu, biết tôn trọng ký vãng của dân tộc mình, khi đã làm quen với Hà Nội, không mấy khi lại có thể hờ hững với Hà Nội được"(1); một mặt ông thẳng thắn tâm sự: “Hà Nội là một đô thành có cả những cái cũ lẫn cái mới, cả những cái rất đáng ghét và những cái thật đáng yêu, những cái thô lỗ tục tằn và những cái thật thanh cao đài các"(2). Rồi ông kể về đường phố Hà Nội, nhà cổ Hà Nội, người đi lại bằng các phương tiện cũ (võng, cáng, xe tay...) trên đường phố, các cung điện đền chùa Hà Nội, đám cưới ở Hà Nội, trang phục của người Hà Nội - nhất là phụ nữ - những món ăn đặc sản ở Hà Nội, hoạt động báo chí và văn chương ở Hà Nội, v.v... Tất cả, đến nay phần nhiều đã xa lạ, chính vì thế mà giúp các thế hệ sau hiểu biết sâu hơn về quá khứ của cha ông mình, đất nước mình. Nghe Vũ Ngọc Phan kể Chuyện Hà Nội, người ta cũng thích thú như đọc những trang hồi ức của các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài... về Hà Nội vậy.

Với hai tập Những trận đánh Pháp (1858-1884), cũng đã đăng trước trên báo chí, Vũ Ngọc Phan còn hướng sự quan tâm của ông đến cả những vấn đề về lịch sử, về quân sự. Đọc các bộ sử Việt Nam và những sách người Pháp viết về các cuộc chiến tranh Pháp - Việt, Vũ Ngọc Phan "cố so sánh mọi việc cho được thật đúng… cố thu nhặt tài liệu cho được đầy đủ” (Lời nói đầu), và bằng cách viết theo kiểu "ký sự lịch sử”, rất dễ đọc (và hấp dẫn nữa) đối với mọi người, tác giả giới thiệu khá tường tận các trận chiến đấu không cân sức, một bên là "những chiến cụ cổ lỗ” của vua quan nước Việt Nam lúc bấy giờ, một bên là "bọn thực dân có tàu chiến và đại bác”, kết quả là nước ta “sa vào vòng nô lệ" để lại cho các thế hệ "những trang lịch sử đen tối của nước nhà”, nhưng đúng như ông nói “những trang lịch sử đen tối của nước nhà lại là những trang chúng ta cần phải đọc kỹ hơn cả" so với những trang lịch sử hào hùng khác. Để có '”những bài học kinh nghiệm”, nhất là kinh nghiệm bảo vệ đất nước, chống ngoại xâm.

Có điều đáng lưu ý: Các bộ sách tái bản tác phẩm Vũ Ngọc Phan, khi in Những trận đánh Pháp, đều chỉ có tập I. Trong sách báo lưu tại gia đình nhà văn Vũ Ngọc Phan, và trong các thư viện mà chúng tôi đã tìm, cũng không có Những trận đánh Pháp tập II. Có thể tập này đã bị mất hết ngay sau khi xuất bản. Hãy nghe Vũ Ngọc Phan kể:

“Đến khi in xong làm hai quyển, dự định phát hành vào năm 1946 thì tháng 12 năm 1946 bắt đầu toàn quốc kháng chiến. Bọn Tây mũ đỏ ở Đường Thành vào phá nhà in Mai Lĩnh, sách bị tan nát, bản thảo mất, những quyển in rồi, không rõ nhà xuất bản có nhặt nhạnh được quyển nào không. May sao, sau khi tản cư vào Thanh Hóa, năm 1948, Hằng Phương mua được ở chợ Rừng Thông quyển Những trận đánh Pháp tập I, còn tập II vẫn không tìm thấy". (Xem Những năm tháng ấy, sách đã dẫn, tr. 184).

Lại là một vấn đề vừa có ý nghĩa thời sự vừa có ý nghĩa chiến lược - vấn đề thanh niên trong đời sống xã hội - được Vũ Ngọc Phan phát hiện và góp tiếng nói của mình. Ông viết hẳn một quyển sách, quyển Con đường mới của thanh niên, bàn về nhiều chuyện tỉ mỉ, cụ thể, thiết thực mong sao thanh niên có thể phát triển thành người hữu ích cho dân tộc, cho đất nước. Vũ Ngọc Phan tâm sự từ kinh nghiệm của ông một điều bấy giờ chắc là rất mới:

“Cũng như nhiều người thuộc lớp tôi, trong lúc thiếu thời, về đường giáo dục tôi đã được hưởng nhiều cái rất dồi dào, nhưng lại có những cái khuyết điểm khác rất lớn mà đến nay tôi vẫn không sửa chữa được. Đó là cái giáo dục chú trọng về tinh thần quá, không để ý đến thể chất một chút nào. Các cụ ta tưởng như thế sẽ đào tạo cho con cháu trở nên con người hoàn toàn, nhưng có biết đâu một khi thân thể yếu đuối, tinh thần cũng bạc nhược theo".(1)

Rồi qua các nguồn tư liệu, tác giả dẫn lời nhiều học giả nước ngoài và cả "mấy bậc lão thành" trong nước (Huỳnh Thúc Kháng, Lê Đại, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố...) mà nhờ việc làm báo của mình, ông đã phỏng vấn được. Hãy nghe đôi lời từ những năm đầu thế kỷ XX, về riêng một vấn đề: việc học tập, và sẽ thấy chúng có ý nghĩa thời sự như thế nào, khi nhìn vào thanh niên chúng ta ở mấy năm đầu thế kỷ XXI này:

“Thanh niên Việt Nam kể ra có tiếng là chịu khó học, nhưng tiếc thay một số đông chỉ chăm học để có mảnh bằng, rồi một khi có địa vị, không bao giờ sờ đến sách nữa. Nhưng thật ra cái học vô tư, cái học chỉ vì một mục đích là hiểu sâu, biết rộng, mới là cái học đáng quý” (Trần Trọng Kim).

“Tôi nhận thấy rằng ngoài sự học để lấy bằng cấp, cái học của thanh niên ta không có chủ đích gì cả, vì phần đông thanh niên đọc sách không có định kiến" (Nguyễn Văn Tố).

Và chính Vũ Ngọc Phan cũng nhận thấy như vậy:

“Người học trò Việt Nam từ xưa đến nay bao giờ cũng là người học trò rất chăm học; họ học đêm học ngày, học đến thờ thẫn, ốm yếu, nhưng một khi đã đỗ đạt, một khi mảnh bằng đã giựt được, chỗ ngồi trong công sở đã yên, người học trò không còn lưu tâm đến sự học nữa. Nhiều người lấy sự không phải rờ đến quyển sách là một vinh dự, họ cho là đã thoát được cái nợ mà nhiều người còn phải đeo đẳng".

Tác giả tiếp tục phát biểu chính kiến của mình về nhiều vấn đề lớn nhỏ đối với thanh niên, trong đó cũng lại có những vấn đề có tính thời sự đối với thanh niên ngày nay. Chẳng hạn, ông đưa thành những đề mục hẳn hoi để rồi lý giải cặn kẽ: Chúng ta thiếu hẳn loại sách giải trí về địa dư và sử ký Việt Nam, hay Không học được chữ, cần phải học nghề ngay, học đằng nào cũng chỉ có một mục đích là giúp ích cho quốc gia, hoặc Có được một linh hồn trong sạch với một thân thể lành mạnh, mới thật là người hoàn toàn, lại Vệ sinh ăn uống là một thứ vệ sinh rất cần, và Dù học chuyên nghiệp, người thanh niên cũng phải hiểu biết những môn phổ thông, v.v...

Có thể nói, Con đường mới của thanh niên là một quyển sách thiết thực, hay “thực dụng" hiểu theo nghĩa tốt.

Vũ Ngọc Phan còn thích thú với thiên nhiên, loài vật.

Ông viết quyển Nguồn sống ở muôn loài (gồm ba phần:

Những vật li ti, Từ công việc kiến đến trò khỉ, Trong rừng thẳm). Từ nguồn tài liệu ở sách báo nước ngoài mà Vũ Ngọc Phan đọc được là chính, đôi khi từ những gì Vũ Ngọc Phan chứng kiến, tác giả Nguồn sống ở muôn loài giới thiệu cuộc sống kỳ thú của chim muông, cây cỏ. Ngày nay, tài liệu loại này khá nhiều, nhưng cách đây sáu, bẩy chục năm thì rất hiếm. Vũ Ngọc Phan viết về loài sinh vật nhỏ ở Bá Linh (bây giờ gọi là Béclin, nước Đức), mỗi con chỉ nặng một phần triệu miligam, về tổ chức rất quy củ của xã hội loài ong hay loài kiến. Rồi mèo, chuột, khỉ, voi, sư tử, v.v… với đủ thứ chuyện về chúng, vừa lạ lùng vừa cảm động. Ở đây, ta chỉ có thì giờ đọc ngẫu nhiên vài đoạn.

Chẳng hạn:

“Về phương diện xã hội, giống kiến kềnh có nhiều điều rất lạ; chúng nó đời đời chinh phục tính đài các đã quen nên bao giờ cũng để bọn nô lệ hầu hạ, không thể tự nuôi lấy thân. Nằm gần để ăn ngon mà không có bọn tôi tớ nhét cho vào miệng thì chúng cũng đành nhịn ăn cho đến lúc đói lả và chết. Hãy thử bắt mươi mười hai con kiến kềnh và đặt chúng bên cạnh đồ ăn mà chúng thích nhất như mật chẳng hạn, ta sẽ thấy nó co đầu, rụt cổ, liếm láp lẻm nhẻm, đi lại cuống quýt, đói lả đi mà cũng không ăn. Nếu ta bắt cho chúng một con kiến đen là nô lệ của chúng, ta sẽ thấy chỉ một con kiến đen này mà hầu đủ việc: nào rửa mặt cho hơn mười bà khỏi nhem nhọ, nào hút mật cố ép cho các bà đại lãn kia ngửng đầu lên để mớm cho, rồi cứ lần lượt nuôi hết bà này đến bà khác".

Thật là kỳ lạ, tỉ mỉ, lý thú! Và đây nữa:

“Một đôi vẹt ăn ở với nhau đã bốn năm. Một hôm, thốt nhiên con cái ốm... Con đực mớm đồ ăn cho vợ, nuôi nấng vợ như thế trong luôn bốn tháng. Đến tháng thứ tư, bệnh vợ nó càng trầm trọng, con chim cái không thể đứng được nữa, phải nằm phục trong chuồng, nó đã cố hết sức mà không tài nào leo lên được trên cầu. Con vẹt đực lúc nào cũng ở bên vợ hết lòng nâng đỡ. Nó ngoạm lấy mỏ vợ hay cắn vào đầu cánh vợ để cố kéo vợ lên. Cái bộ dạng quả quyết, những cử chỉ và những cách chăm nom của con chim đực tỏ ra nó rất sốt sắng muốn cho vợ nó đỡ đau đớn, nhọc mệt. Lúc con chim cái sắp tắt thở, trông con chim đực lại càng thiểu não. Con chim đực chăm chút gấp hai khi trước, nó tìm cách cậy mỏ vợ ra để mớm cho một ít đồ ăn, nó đi đi lại lại suốt ngày chung quanh vợ mà không biết mệt, nó chạy đến bên vợ rồi lại chạy đi chỗ khác tỏ vẻ bối rối, nhiều lúc con vẹt đực cứ đứng yên, nhìn đăm đăm vào con vẹt cái đang ngắc ngoải, thỉnh thoảng lại kêu lên đôi ba tiếng nghe rất thương tâm, về sau con vẹt cái tắt nghỉ. Từ lúc ấy, con vẹt đực buồn rầu ủ rũ rồi vài tuần lễ sau thì chết...”

Thật là tỉ mỉ và cảm động.

Có thể nói, Nguồn sống của muôn loài viết cho người lớn nhưng cũng hấp dẫn cả trẻ em.

Chúng ta cũng biết, trước Cách mạng Tháng Tám, vào những năm cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX, cùng với hoạt động biên soạn và khảo cứu, sự tiếp xúc với văn học cổ điển Trung Hoa, và đặc biệt là văn học phương Tây đã đem lại một phong trào dịch thuật khá phong phú, sôi nổi. Cũng như các nhà dịch thuật khác: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh... Vũ Ngọc Phan rất hứng thú với việc này, và để lại một khối lượng tác phẩm dịch thuật khá đồ sộ. Hoạt động báo chí cũng giúp ông nhiều trong dịch thuật: trước khi in thành sách, không ít tác phẩm dịch của ông đã đăng nhiều kỳ trên báo. Trước sau, Vũ Ngọc Phan đã dịch (từ tiếng Pháp và tiếng Anh) một loạt tác phẩm: Châu đảo (còn dịch là Đảo kho vàng) của Oantơ Scốt, Anna Kha Lệ Ninh (Anna Karênina) của Lép Tônxtôi, Truyện kỳ lạ của Etga Pô, Lâu đài họ Hạ và Chọn bạn tình của Hopman, Tiểu Nhiên Mỹ Cơ, dịch theo phóng tác của Giô dép Bêđiê quyển Tơrixtăng và Ido. Ở lĩnh vực dịch thuật, Vũ Ngọc Phan đã có công giới thiệu với người đọc Việt Nam - lúc bấy giờ còn ít có điều kiện tiếp xúc với văn học phương Tây - một số tác phẩm nổi tiếng thế giới, trong đó có những tác phẩm mà nhiều năm về sau, các dịch giả khác của chúng ta còn dịch lại...

III

Tuy nhiên, điều tâm đắc nhất của Vũ Ngọc Phan, và cũng là đóng góp quan trọng hơn cả trong sự nghiệp của ông vẫn là nghiên cứu văn học - văn học hiện đại và văn học dân gian.

Khởi đầu lĩnh vực này là hai quyển sách: Trên đường nghệ thuật (văn học bình luận, Nhà xuất bản Nguyễn Du - 1940; Nhà xuất bản Hà Nội tái bản - 1943) và Thi sĩ Trung Nam (biên khảo, Nhà xuất bản Tân Dân - 1942).

Trên đường nghệ thuật giới thiệu với người đọc - chủ yếu là những người muốn đi vào con đường viết văn - một ít kiến thức về văn học (và văn hóa). Tác giả phân tích sơ bộ đặc tính của văn chương các nước Trung Hoa, Pháp, Anh và Việt Nam; bàn luận về thơ, tiểu thuyết và dịch thuật, cùng một số vấn đề của nghệ thuật viết văn, viết báo...

Ở Thi sĩ Trung Nam là tiểu sử và một ít bài thơ của những nhà thơ có tiếng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ: Phan Thanh Giản, Tùng Thiện, Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Trương Vĩnh Ký, v.v...

Có thể coi hai quyển sách này như một sự tích lũy và chuẩn bị cho bộ sách đồ sộ Nhà văn hiện đại sẽ in ngay sau đó. Và bộ sách này là tác phẩm quan trọng nhất trong đời văn Vũ Ngọc Phan.

Nhà văn hiện đại, sau khi xuất bản, đã được tái bản nhiều lần. Lần xuất bản đầu tiên phải in từ năm 1942 đến năm 1945 mới xong trọn bộ, có bốn tập (năm quyển). Theo chính nhà văn Vũ Ngọc Phan kể lại, thì Nhà văn hiện đại được khởi thảo từ tháng 12-1938 đến tháng 1-1940 xong lần đầu; dòng chữ Viết xong ngày 12 tháng Chạp năm 1942 ghi ở cuối bộ sách là thời điểm kết thúc lần viết thứ hai, có sửa chữa và bổ sung. So với bản thảo của tác giả, bộ sách in ra đã bị cắt khoảng 200 trang, một phần do kiểm duyệt của Pháp - Nhật lúc bấy giờ, một phần do Nhà xuất bản lược bớt - cũng như tách tập bốn làm hai quyển (gọi là quyển thượng và quyển hạ) - cho sách đỡ dày, dễ phát hành.

Có thể thấy, Nhà văn hiện đại đã vừa bao quát về diện vừa đi sâu về điểm của một quá trình văn học, từ “những nhà văn hồi mới có chữ Quốc ngữ" mà tác phẩm của họ xuất hiện trong khoảng mười năm đầu của thế kỷ XX đến những nhà văn còn sung sức, còn đang sáng tác cùng thời với tác giả.

Trước hết, người đọc thấy hiện ra rất rõ trong bộ sách một nhà nghiên cứu với tác phong cụ thể, tỉ mỉ, với một lối suy nghĩ độc lập đầy những chính kiến - cho dù không phải lúc nào những chính kiến ấy cũng đúng, cũng không còn chỗ sai hay bất cập.

Sức hấp dẫn lớn của Nhà văn hiện đại là ở chỗ, ngay từ khi tập đầu của bộ sách ra đời (1942) cho đến khi tập cuối được xuất bản (1945), và suốt những năm sau đó - thậm chí cho đến những năm gần đây - một mặt, bộ sách luôn luôn được những người quan tâm đến văn học tìm đọc; một mặt, nó cũng luôn luôn được các nhà nghiên cứu phê bình bàn luận, đánh giá, khen và chê.

Những người khen thường dễ nhất trí với nhau, cho rằng tác giả Nhà văn hiện đại, qua bộ sách, đã chứng tỏ ông là người say mê, thiết tha với sự nghiệp văn học của đất nước; bộ sách được viết một cách tỉ mỉ, công phu với chứng cứ rõ ràng, tư liệu chính xác, lời lẽ bình tĩnh, thẳng thắn…

Những người chê thì cho Nhà văn hiện đại tản mạn, nhiều chỗ trích dẫn quá dài; một số nhà văn không đáng có trong bộ sách, và lại có những nhà văn đáng lẽ phải có trong bộ sách; có những nhận định không đúng về nhà văn này, không thỏa đáng về tác phẩm kia; cách phân chia nhà văn theo nhóm và loại không chính xác; có người còn cho rằng "ngòi bút phê bình của Vũ Ngọc Phan luôn tỏ ra khe khắt, khắc nghiệt khi ông viết về các nhà phê bình văn học. Ông không dành cho họ một mối thiện cảm và thái độ ủng hộ, cổ vũ nào"(1).

Lại có những ý kiến khen chê khác nhau ở những chỗ cơ bản. Chẳng hạn, có người cho tác giả Nhà văn hiện đại là “một nhà phê bình khách quan và khoa học"; có người lại cho tác giả Nhà văn hiện đại "là một nhà phê bình giáo điều trăm phần trăm" và “phê bình đối với Vũ Ngọc Phan là dựa vào mấy nguyên tắc thẩm mỹ cổ điển để khen và chê một tác phẩm"(1). Nếu có người thấy trong Nhà văn hiện đại "lối phê bình của Vũ Ngọc Phan là khoa học, khách quan"(2), thì có người lại khăng định trong Nhà văn hiện đại, "thái độ phê bình của ông Vũ Ngọc Phan rất lộn xộn, lúc thì ông dựa trên phương pháp của trường phái phê bình cổ điển, lúc thì ông dựa trên phương pháp phê bình khách quan khoa học. Dù vậy, trong toàn bộ cuốn Nhà văn hiện đại, ông vẫn trung thành với lối phê bình chủ quan, cổ điển”(3) …

Lẽ tất nhiên, với một bộ sách lớn như Nhà văn hiện đại những sơ suất, những khuyết điểm, thậm chí những sai lầm là không thể tránh khỏi. Chính Vũ Ngọc Phan cũng đã “tự phê bình" (có khi quá nghiêm khắc) về một số điểm mà ông cho là mình đã "không thấy được”, “không thể thấy được”, “không nhận thức được” khi viết bộ sách(4).

Nhà thơ Trần Ninh Hồ thì cho tôi biết: sinh thời nhà văn Vũ Ngọc Phan, chính anh đã nghe thấy tác giả Nhà văn hiện đại nói với nhà văn Nguyễn Tuân rằng, trong bộ sách của mình, ông có sơ suất là đã bỏ qua hai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và Nam Cao….

Những ý kiến khen chê Nhà văn hiện đại có thể có những chỗ còn phải bàn, và chắc là không dễ thuyết phục được mọi người. Có điều, dù khen dù chê, không ai phủ nhận công lao của Vũ Ngọc Phan. Với Nhà văn hiện đại, ông đã để lại một kho tư liệu quý, trong đó có những nhận định đúng, giúp ích rất nhiều cho người đương thời, và đặc biệt là cho các thế hệ sau - khi họ muốn tìm hiểu một thời kỳ non trẻ nhưng rất sôi động của văn học Việt Nam hiện đại.

Tác phẩm quan trọng thứ hai của Vũ Ngọc Phan sau Nhà văn hiện đại là Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam in năm 1956; tính đến lần in ở Vũ Ngọc Phan toàn tập là đã tái bản tới 14 lần! Những lần đầu, sách mang tên Tục ngữ và ca dao Việt Nam. Từ lần in thứ bảy (năm 1971) trở đi, tên sách được đổi thành Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam. Theo giáo sư - viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng (1938-2008), con trai nhà văn Vũ Ngọc Phan, thì tác giả có ý định viết bộ sách này từ khi còn ở Thanh Hóa, khoảng những năm 1947-1948. Chỉ đến năm 1951, khi được điều lên Việt Bắc làm ủy viên ban nghiên cứu Văn Sử Địa, và sau đó công tác ở ban Văn Sử Địa, Vũ Ngọc Phan mới có điều kiện để chuyên tâm nghiên cứu văn học dân gian và hoàn thành bộ sách này(1).

Khác với Nhà văn hiện đại, ở Tục ngữ ca dao... ngoài phần nghiên cứu, còn có phần sưu tầm, biên soạn. Về nghiên cứu, tác giả khẳng định có cơ sở khoa học giá trị của văn học dân gian, bàn về quan hệ giữa văn học dân gian và văn học thành văn, phân biệt tục ngữ, ca dao, dân ca... Về sưu tầm, ông dựa một phần vào trí nhớ, một phần vào sách báo thời trước, một phần vào kết quả của những chuyến “đi thực tế”... Về biên soạn, sắp xếp, ông cố gắng tìm ra những cách mới so với những người đi trước để thuận tiện cho người đọc khi cần tra cứu... Tất cả làm nên một bộ sách dày dặn, trải dài từ thời kỳ xa xưa đến thời ông đang sống.

Không phải những nhận định của Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao... đều chính xác từ đầu. Nhưng vì bộ sách được in nhiều lần, ông có nhiều dịp sửa chữa những chỗ sai lầm hay bất cập của mình - hoặc do ông phát hiện, hoặc do ông tiếp thu từ giới nghiên cứu, phê bình và người đọc, nên càng ở những lần in sau, Tục ngữ ca dao... càng hoàn thiện. Bộ sách như còn có ý nghĩa mở đầu, nếu ta nhớ, những năm sau đó, hàng loạt sách nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tục ngữ ca dao... nối tiếp nhau ra đời.

Đọc Tục ngữ ca dao... của Vũ Ngọc Phan, người ta thường nhớ đến Tục ngữ phong dao của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) do nhà in Lê Văn Tân xuất bản năm 1928. Đó cũng là một bộ sách đồ sộ và rất có ích, dù còn có những hạn chế so với Tục ngữ ca dao... Như về lý luận, có những điều cần thiết mà chưa được đề cập, bàn luận; về cách sắp xếp và phân loại chưa được khoa học…

 Đó là chưa nói chuyện vì biên soạn từ những năm hai mươi của thế kỷ trước, tất nhiên Tục ngữ phong dao không có phần tục ngữ, ca dao... những năm về sau như Tục ngữ ca dao... của Vũ Ngọc Phan.

Cũng về văn học dân gian, ngoài Tục ngữ ca dao..., Vũ Ngọc Phan còn dành nhiều công sức nghiên cứu, biên soạn, giới thiệu truyện cổ. Quyển sách đầu tiên của ông về loại này là Truyện cổ tích Việt Nam. Theo tác giả cho biết, quyển sách được viết vào cuối năm 1953 ở Việt Bắc; gồm có Lời giới thiệu và mười truyện, nhà xuất bản Văn Sử Địa in đầu năm 1955. Đây là loại sách nghiên cứu, biên soạn và giới thiệu truyện cổ tích được viết và xuất bản sớm nhất sau cuộc kháng chiến chống Pháp, gần như cùng thời với Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam, hai tập, của Trần Thanh Mại (xuất bản năm 1955) và sau đó một ít là Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, năm tập, của Nguyễn Đổng Chi (xuất bản trong các năm 1957-1982).

Chưa đầy nửa năm sau lần in thứ nhất, tháng 5-1955, Truyện cổ tích Việt Nam của Vũ Ngọc Phan được tái bản, cũng ở nhà xuất bản Văn Sử Địa. Đến năm 1957, sách lại được nhà xuất bản Văn Sử Địa in lần thứ ba với cái tên mới: Truyện cổ Việt Nam và ghi dưới tên sách: có bổ sung và sửa lại (bổ sung mười lăm truyện và sửa ở nhiều chỗ).

Ngay sau khi Truyện cổ tích Việt Nam in lần thứ hai (8-1955), nhà nghiên cứu và phê bình văn học Trần Thanh Mại (1908-1965) đã viết hẳn một quyển sách có cái tên rất dài, bác lại nhiều luận điểm quan trọng của Vũ Ngọc Phan trong quyển sách này, đối với truyện cổ tích.(1)

Kể ra, nhà phê bình cũng có chỗ quá lời và khe khắt nữa, nhưng nhìn chung, Trần Thanh Mại đã đúng.

Và ở chỗ này, người ta lại thấy tính khiêm nhường, cầu thị ở một nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan. Trong một dịp tâm sự với một bạn đồng nghiệp, ông thoải mái nói về Truyện cổ tích Việt Nam của mình: “Đây là một tập truyện viết rất máy móc, bây giờ đọc lại vẫn thấy đỏ tai"(1).

Sau đó, Vũ Ngọc Phan không thảo luận, tranh luận; ông lặng lẽ điều chỉnh một số nhận định "máy móc" của mình, và cho in quyển sách lần thứ ba với cái tên mới như đã nói.

Người đọc không quên Vũ Ngọc Phan còn dùng thuật ngữ văn học dân gian sớm nhất, và còn chủ biên nhiều công trình văn học dân gian, hoặc viết lịch sử văn học, nhất là ở các phần tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ... Rõ ràng, trong lĩnh vực này, ông là một chuyên gia cao cấp, một học giả.

*

Có một vấn đề đặt ra là vì sao, từ kháng chiến chống Pháp cho đến những năm về sau, hầu như Vũ Ngọc Phan chỉ chuyên tâm và hứng thú với việc nghiên cứu văn học dân gian, mà rất ít viết phê bình hay nghiên cứu văn học hiện đại?

Có thể giải thích hiện tượng này bằng mấy lý do. Một là, không phải đến lúc này, mà từ lâu, Vũ Ngọc Phan đã say mê văn học dân gian; đọc Nhà văn hiện đại thấy rất rõ. Hai là, Vũ Ngọc Phan được về làm việc ở ban Văn Sử Địa mà việc sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, giới thiệu là chủ yếu; sau đó ông lại được tín nhiệm giữ những chức vụ đứng đầu của hội Văn nghệ dân gian; việc phê bình - vốn quan hệ mật thiết với văn học hiện đại - đối với ông chỉ còn là thứ yếu, và ông cũng không có nhiều thì giờ dành cho nó. Ba là, kinh nghiệm cho thấy, làm nghiên cứu và phê bình văn học đã lâu năm, người ta thường muốn chuyển sang nghiên cứu (...) Ba nguyên nhân ấy đứng riêng ra thì thấy bình thường, nhưng tập trung lại ở Vũ Ngọc Phan thì có một sức thuyết phục rất mạnh trước vấn đề vừa nêu.

Ở đây, có chuyện liên quan đến một bài viết của nhà nghiên cứu Đặng Tiến về Vũ Ngọc Phan mà chúng tôi đã dẫn ở trên. Trong bài này, có đoạn, ông Đặng Tiến viết:

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (1946), "Vũ Ngọc Phan, nhà phê bình văn nghệ chuyên nghiệp, người có nhiều thẩm quyền nhất trong việc phê bình văn nghệ, con người liêm khiết đó không còn viết phê bình nữa. Có người hiểu tại sao". (Chúng tôi nhấn mạnh - HD).

Hình như ở đây, nhà nghiên cứu Đặng Tiến muốn ám chỉ đến một nguyên nhân gì đó - hay ít ra là muốn đặt ra một nghi vấn nào đó - mà ông thấy không tiện nói rõ. Thật ra, Vũ Ngọc Phan vẫn viết phê bình, dù ít. Có điều, Đặng Tiến chưa đọc đó thôi. Hãy xem hai quyển sách đã dẫn: Qua những trang văn, Những năm tháng ấy và một số sách báo khác, sẽ thấy không chỉ vài ba bài mà hàng chục bài phê bình của Vũ Ngọc Phan (có in trong Toàn tập này). Kể cũng dễ hiểu, và dễ thể tất; vì nhiều năm nay, nhà nghiên cứu Đặng Tiến sống và làm việc ở nước ngoài, ông không có điều kiện theo dõi hết sách báo trong nước (chưa kể những bài còn là bản thảo trong di cảo của nhà văn Vũ Ngọc Phan).

Nhà văn Tô Hoài có lẽ cũng nghĩ đến nhận định trên kia của Đặng Tiến, trong đoạn văn này: "... Có một bài viết về nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trên một tờ báo Việt kiều ở Paris (Pháp) có nêu nhận xét: Vào kháng chiến chống Pháp cho tới sau này, Vũ Ngọc Phan không viết phê bình. Đó cũng là một phần nào sự thực. Nhưng tác giả bài báo trên còn muốn nêu hiện tượng đi đến ngụ ý: phê bình văn học là cây bút tay phải của Vũ Ngọc Phan, thế mà Vũ Ngọc Phan không viết phê bình nữa, e có vấn đề u uẩn gì bên trong. Đây cũng lại là một cách nhìn sự việc theo lối của hôm nay và thiếu cứ liệu... Thật ra anh Vũ Ngọc Phan cũng vẫn viết phê bình, nhưng không chuyên...”(1) (chúng tôi nhấn mạnh - HD).

Nói dài dòng như thế là để bác bỏ một nghi ngờ - đúng hơn là một nhận định - không có cơ sở, một nhận định không đúng. Và một người như Vũ Ngọc Phan, nếu biết, chắc ông cũng rất đồng tình - chúng tôi nghĩ thế.

 Sẽ là không thỏa đáng, nếu quên nói ở đây một điều: đời văn Vũ Ngọc Phan sở dĩ thành tựu được đến thế là nhờ có rất nhiều công sức của nhà thơ Hằng Phương (1908- 1983) - người bạn đời của ông. Ông có giúp đỡ bà trong công việc sáng tác (làm thơ và cả nghiên cứu văn học nữa) nhưng bà còn giúp đỡ ông nhiều hơn. Phục tài ông từ khi còn chưa kết hôn, bà chủ động giành lấy việc chăm lo cho cả một gia đình. Trong những tháng năm khó khăn nhất, hầu như một mình bà nuôi dạy tám người con và hai người cháu. Bà “hy sinh" nhiều thời gian của mình trong công việc văn chương, để chồng yên tâm theo đuổi sự nghiệp. Những khi cần, bà còn giúp ông sưu tầm nghiên cứu tục ngữ, ca dao, truyện cổ… Tôi đã được đọc khá nhiều bài báo của ông do chính tay bà chép lại. Trong trường hợp Vũ Ngọc Phan, thật đúng là “của chồng, công vợ”. Bất giác, nhớ mấy câu thơ đùa rất hóm của cụ Nguyễn Công Hoan (1903-1977) - người bạn rất thân của vợ chồng ông:

… Vốn tôi biết từ lâu:

“Của anh ấy của chị…"(1)

*

Nhìn bao quát cả đời văn Vũ Ngọc Phan sẽ thấy ngoài những việc khác, ông có làm lý luận, phê bình, nhưng nghiên cứu thì nhiều hơn, rõ hơn, và có những đóng góp lớn hơn. Gọi ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học có lẽ đúng hơn cả. Và cũng có thể thấy, suốt đời mình, Vũ Ngọc Phan đã dành hết tâm sức cho công việc ông ưa thích. Ông làm được một khối lượng công việc khổng lồ, ít nhà văn, nhà nghiên cứu nào có được. Ông để lại cho đời nhiều trang sách giá trị. Ông có rất đông bạn đọc. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Tên ông được đặt cho một đường ở Đà Nẵng, một đường ở thành phố Hồ Chí Minh và một đường ở thủ đô Hà Nội... Ông đã được tưởng thưởng một cách vẻ vang, xứng đáng.

 2009

   MỘT NHẬN ĐỊNH SAI 

VỀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

 

Để vấn đề lý luận mà chúng tôi đề cập trong bài này thêm một chút xanh tươi, bớt một chút màu xám - những chữ người ta hay nhắc từ một câu của Gớt (1749-1832) - nhà thi hào người Đức - và cũng là để "nói có sách, mách có chứng", chúng ta hãy cùng đọc lại bài thơ này:

HAI NỬA VẦNG TRĂNG

Tình cờ anh gặp lại vầng trăng

một nửa vầng trăng thôi, một nửa

trăng vẫn đấy mà em xa quá

nơi cuối trời em có ngóng trăng lên?

 

Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm

trăng đầu tháng có lần em ví

chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa

tên anh như nửa trăng mờ tỏ

ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời.

Ôi vầng trăng theo con nước đầy vơi

trăng say đắm dào trên cỏ ướt

trăng đầu tháng như đời anh

chẳng thể nào khác được

trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết em đã khóc

trăng từng giọt tan vào anh mặn chát em đã khóc

nhưng làm sao tới được

bến bờ anh tim dội sóng không cùng.

 

Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh

cứ một nửa, như đời anh, một nửa

nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ...

 

Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ

Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau.

                                                    8-1981

                                                Hoàng Hữu

Đây là một bài thơ tình hay, mặc dù khó có thể giải thích tường tận từng câu, từng chữ (nó là loại thơ “khả giải bất khả giải chi gian"). Ta chỉ cảm thấy bài thơ buồn, một nỗi buồn cô đơn của một tình yêu đầy trắc trở. Và cho dù cuối bài, nhà thơ có tỏ ra tin tưởng và hy vọng, anh vẫn không quên nỗi buồn xưa… Bài thơ được giải nhì cuộc thi thơ 1981-1982 của báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.

Chúng tôi sực nhớ đến bài thơ này, ngay sau khi đọc một câu trong bài "Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam” của giáo sư Phong Lê, viện trưởng viện Văn học Việt Nam, tổng biên tập Tạp chí Văn học, đăng trên Tạp chí Văn học số 3 (tháng 5 và 6- 1992). Bài nói trên của giáo sư Phong Lê vốn là bài phát biểu đề dẫn tại cuộc hội thảo kỷ niệm mười năm ngày mất của nhà văn Hoài Thanh, và năm mươi năm xuất bản Thi nhân Việt Nam, do viện Văn học phối hợp với một số cơ quan tổ chức ngày 27-3-1992 tại Hà Nội. Câu ấy của giáo sư Phong Lê, ít nhất cũng là một sự phàn nàn, có ý chê trách thơ Việt Nam hiện đại nghèo nàn, đơn điệu, như sau "suốt gần 40 năm qua nền thơ ca chính thống của ta không có lấy một bài buồn!” Một câu tưởng đơn giản mà đã đụng đến một vấn đề lớn: vấn đề đánh giá thơ Việt Nam hiện đại!

Cách diễn đạt của giáo sư Phong Lê trong bài mình hơi tối nghĩa, làm người đọc phân vân không biết "gần 40 năm qua" là tính từ bao giờ đến bao giờ? Từ 1954, năm kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp đến nay (1992) là 38 năm chăng? Hay từ 1945, năm Cách mạng tháng Tám thành công đến 1982 (năm Hoài Thanh mất) là 37 năm? Có điều, dù tính từ năm nào đến năm nào thì "gần 40 năm qua" của giáo sư Phong Lê cũng là khoảng thời gian nằm gọn trong phạm vi từ Cách mạng tháng Tám đến nay. Còn “nền thơ ca chính thống của ta", theo Phong Lê, chắc là nền thơ được hình thành bởi những bài thơ in công khai trên sách báo, được cả giới lãnh đạo lẫn công chúng chấp nhận.

Vậy, xin giáo sư Phong Lê hãy chứng minh nhận định của anh ("suốt gần 40 năm qua nền thơ ca chính thống của ta không có lấy một bài thơ buồn!") đối với trường hợp bài Hai nửa vầng trăng trên kia của Hoàng Hữu. Đó có phải là bài thơ nằm trong khoảng thời gian “gần 40 năm qua"? Đó có phải bài thơ thuộc "nền thơ ca chính thống của ta"? Đó có phải là một bài thơ buồn - dù là buồn nhiều hay buồn ít? (Chúng tôi còn nhớ nhiều bài thơ tương tự, nhưng thấy chưa cần phải dẫn thêm).

Xem ra, chứng minh và bảo vệ được nhận định trên khó lắm thay! Mà thật ra, làm sao có thể chứng minh được, bảo vệ được!

8-1992


  

1 Xem Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội - 2002, tr.180, 183.
1 Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr. 244.
2 Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr. 207.
3 Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.271.
1 Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.269.
1 Hoài Thanh: Nhà báo và nhà văn, trong Văn chương và hành động - Nhà xuất bản Phương Đông, Hà Nội, 1936 hoặc Hoài Thanh toàn tập - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1999, tập I, tr. 192.
2 Thiếu Sơn: Nhà viết báo, trong Đời sống tinh thần - Nhà xuất bản Đời Mới, Hà Nội, 1945 hoặc Thiếu Sơn toàn tập, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003, tập I, tr. 450.
1 Vũ Ngọc Phan: Nghề viết văn và người bạn đời trong Những năm tháng ấy - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1987, tr.163.
1 Chuyện Hà Nội, Nhà xuất bản Bách Việt, Hà Nội - 1944, tr.11.
1 Chuyện Hà Nội, sách đã dẫn, tr.15.
2 Chuyện Hà Nội, sách đã dẫn, tr.15-16.
1 Con đường mới của thanh niên, Nhà xuất bản Hà Nội, 1944, tr.9.
1 Trần Thị Việt Trung: Nhà văn hiện đại - một thành tựu lớn của phê bình văn học Việt Nam trước 1945 - Tạp chí Văn học số 5 - 1994.
1 Thanh Lãng: Phê bình văn học - thế hệ 1932, tập 2, Phong trào văn hóa (Sài Gòn) xuất bản - 1973, tr.301.
2 Đặng Tiến: Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan, tạp chí Đoàn kết (Paris) số 1-1998. Dẫn theo bản in trong quyển Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Mai Hương - Phong Lê biên soạn - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995, tr.129
3 Mộng Bình Sơn - Đào Đức Chương: Nhà văn phê bình - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996, tr.200.
4 Xem Vũ Ngọc Phan: Những năm tháng ấy - sách đã dẫn, tr.236.
1 Ban Văn Sử Địa là tên gọi tắt của ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học được chính thức thành lập ngày 2-12-1953 ở Việt Bắc, trực thuộc ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, là tiền thân của Viện Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay.
1 Xem: Trần Thanh Mại - Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích - (Phê bình Truyện cổ tích Việt Nam của ông Vũ Ngọc Phan) - Nhà xuất bản Sông Lô, Hà Nội, 1955.
1 Xem: Phan Đăng Nhật - Từ "Nhà văn hiện đại" đến “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" trong quyển Nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.105. Vũ Ngọc Phan cũng từng nhắc lại chuyện này. Xem Những năm tháng ấy sách đã dẫn, tr.413.
1 Xem: Tô Hoài - Nhà văn Vũ Ngọc Phan viết bộ Nhà văn hiện đại - báo Văn nghệ số 28, 11-7-1987.
1 Xem: Vũ Ngọc Phan - Những năm tháng ấy - sách đã dẫn, tr.274.

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 28/01/2019

Tin khác

NHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶTNHÀ VĂN NGÔ XUÂN HỘI VỚI ĐẤT LUÔN GIẤU MẶT
BÔNG HỒNG KHÔNG GAIBÔNG HỒNG KHÔNG GAI
CHÙM TIỂU LUẬN CỦA NHÀ VĂN ANH CHICHÙM TIỂU LUẬN CỦA NHÀ VĂN ANH CHI

Tin mới nhất

CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA LÒNG QUẢ CẢM
CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA LÒNG QUẢ CẢM

"Bây giờ em là dâu của một gia đình Trung Quốc và mang quốc tịch Trung Quốc, nhưng anh hãy tin rằng em mãi mãi là người Việt Nam và sẽ tranh đấu bằng cách của mình cho sự thật."

Sách mới

Phan nhân 1972

viết bởi: Nhà xuất bản

Phan nhân 1972
Không thể sống mà không viết

viết bởi: Nhà xuất bản

Không thể sống mà không viết
Mối tình của ông Hire

viết bởi: Nhà xuất bản

Mối tình của ông Hire