CHÙM TIỂU LUẬN CỦA NHÀ VĂN ANH CHI

Anh Chi đã thực sự tạo cho mình một trường lực văn chương dồi dào với những bài thơ lạ và hay, cùng những công trình nghiên cứu văn học đầy tâm huyết...

Viết bởi: Nhà xuất bản

 …Vậy là, cũng được học hành các trường lớp bài bản về văn chương, lại có chí tự học qua sách vở và trường đời, cặm cụi đọc và viết không biết mệt mỏi. Đến nay, Anh Chi có ba đầu sách Thơ và bảy đầu sách Nghiên cứu văn học, trong đó có bộ sách gần hai ngàn trang... Anh Chi đã thực sự tạo cho mình một trường lực văn chương dồi dào với những bài thơ lạ và hay, cùng những công trình nghiên cứu văn học đầy tâm huyết, bổ sung vào tiến trình Văn học Việt Nam hiện đại những tác gia và văn phẩm như những trầm tích quý giá còn bị khuất lấp trong dòng chảy của lịch sử!

   SACHVAN. VN xin giới thiệu 3 trong 9 tiểu luận đã in của nhà văn Anh Chi

  TẢN ĐÀ, NGƯỜI KHAI MỞ NỀN THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

 Ông tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 29 tháng Tư năm Mậu Tý 1888 (Wikipedia mở cho rằng ông sinh ngày 19/5/1889), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây xưa, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Tổ phụ ông là Nguyễn Công Thái (1674-1748) người làng Kim Lũ, Thanh Trì xưa, nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Tiến sĩ khoa Ất Mùi 1715, sau làm quan đến Quốc Tử Giám Tế tửu. Người con thứ sáu của Nguyễn Công Thái là Nguyễn Huy Túc đã chuyển cư lên Khê Thượng, khởi lên họ Nguyễn ở đây, và đến đời thứ năm thì có anh em Nguyễn Tái Tích, đỗ Phó bảng năm 1895, và Nguyễn Khắc Hiếu, sau thành nhà thơ Tản Đà tài danh bậc nhất nền văn chương Việt Nam thế kỷ XX.

Thân phụ Tản Đà là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân thời Tự Đức, làm quan đến Án sát Ninh Bình và từng giữ chức Ngự sử trong Kinh. Ông có người vợ bé là Nhữ Thị Nhiêm, một đào hát ở phố Hàng Thao, Nam Định, nổi tiếng tài sắc, lại giỏi cả thơ Nôm, đã sinh được Tản Đà. Năm Tản Đà lên ba tuổi thì người bố qua đời, một năm sau người mẹ bỏ nhà ra đi, trở lại nghề ca nương. Tản Đà được người anh khác mẹ là Nguyễn Tái Tích chăm nuôi và dạy dỗ theo chương trình cử nghiệp, nên từ niên thiếu đã thạo các lối từ chương, thơ phú. Do sống với anh trai, nên Tản Đà cứ phải di chuyển tới những nơi người anh nhậm chức, khi ở Nam Định, lúc ở Quảng Oai, rồi lên Vĩnh Yên… Năm 1907, theo anh ra Hà Nội, Tản Đà học trường Quy Thức ở phố Gia Ngư. Đang là học sinh mà Tản Đà đã viết tác phẩm đầu tay Âu, Á nhị châu hiện thế luận, được đăng trên một tờ báo bên Hồng Kông. Trong quãng thời gian này, Tản Đà đã có mối tình đầu say đắm với một thiếu nữ họ Đỗ ở phố Hàng Bồ. Năm Kỷ Dậu 1909, ông đi thi Hương ở Nam Định, nhưng không đỗ. Lại đi thi khoa Nhâm Tý 1912, cũng trượt, Tản Đà trở về Hà Nội thì chứng kiến cảnh người yêu đi lấy chồng.

Buồn chán, Tản Đà bỏ Hà Thành, về Hoà Bình tìm khuây lãng, rồi cùng người bạn thân là nhà tư sản Bạch Thái Bưởi vào dãy núi Hương Sơn, lên chùa Tiên uống rượu, thưởng trăng và làm thơ. Khi đó, Bạch Thái Bưởi đang rất phát đạt trong nghề kinh doanh vận tải đường thuỷ, được người đời được mệnh danh là “Ông vua đường sông Bắc Kỳ”. Sau thời gian chơi ở chùa Tiên Sơn, Tản Đà lại cùng Bạch Thái Bưởi về Nam Định. Chính những ngày này, nhờ người bạn giàu có mà Tản Đà được đọc nhiều sách tân thư của các tác gia cấp tiến, sách của các tác gia Âu - Tây dịch sang Hán văn, và một số báo chí mới của Trung Quốc. Vài tháng sau, ông lên ấp Cổ Đằng ở Sơn Tây sống theo lối “tịch cốc”, rồi trở lại quê nhà, và viết khá nhiều thơ, trong đó có bài Tự trào, đã bộc lộ cái ngông của một con người có bản lĩnh lớn:

Vùng đất Sơn Tây nảy một ông

Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng

Sông Đà núi Tản nước Nam Việt

Bút thánh câu thần sớm vãi vung

Lúc này ông đã lấy tên ngọn núi Tản và dòng sông Đà quê mình làm bút hiệu. Những bài thơ viết thời kỳ này, sau được Tản Đà cho in trong các tập Khối tình con. Trong thơ ông, hình ảnh con sông, ngọn núi quê nhà luôn là một nguồn mạch xúc cảm thật lớn:

Mạch nước sông Đà, tim róc rách

Ngàn mây non Tản, mắt lơ mơ…

Năm 1915, Tản Đà xây dựng gia đình, và cũng bắt đầu cho đăng những bài văn đầu tiên trên Đông Dương tạp chí. Đến năm 1916, người anh qua đời, gia đình trở nên túng thiếu, Tản Đà chọn cách kiếm sống bằng nghề văn bút, đó là một quyết định vô cùng đặc biệt. Bởi, trong tiến trình văn chương Việt Nam ta từ khi có văn học viết, thế kỷ X, chưa một ai mưu sinh bằng nghề văn. Có thể nói, Tản Đà là nhà văn chuyên nghiệp đầu tiên của nước Việt ta. Và, đó là một gợi ý lớn cho hôm nay chúng ta ngẫm nghĩ xem, sau ông, trăm năm qua, Việt Nam có thêm được mấy ai là một nhà văn chuyên nghiệp? Vậy mà, ông tự trào, Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng. Viết để kiếm sống, thế rồi các tập Khối tình con I, Khối tình con II lần lượt ra đời, ông trở thành một hiện tượng thơ ca mới lạ chưa từng thấy. Tuy vậy, chính tiếng vang của những bài văn xuôi Tản Đà cho đăng trên Đông Dương tạp chí lại khiến Giám đốc trường Hậu bổ đặc cách mời ông vào học tại trường chuyên đào tạo các quan lại này. Nhưng, đã quyết sống bằng nghề văn, nên Tản Đà từ chối, và ông xuống Hải Phòng viết kịch bản tuồng cho rạp hát Nguyễn Đình Kao. Tiếp đó, ông về Hà Nội, viết kịch bản cho các rạp Thắng Ý và Sán Nhiên Đài. Những vở Tây Thi, Người cá, Thiên thai được viết trong thời kỳ này. Sống tại Hà Nội, đọc thêm nhiều tác phẩm của các tác gia Âu - Tây, tư tưởng tản Đà có những biến chuyển rất mạnh mẽ. Trong vòng ba năm, từ 1917 đến 1919, ông cho xuất bản nhiều tập văn xuôi: Tiểu thuyết Giấc mộng con, tập I (1917), sách nghị luận Khối tình, bản chính, bản phụ (1918), sách luân lý đạo đức Đài gương kinh (1918), dịch Đài gương truyện, tức Đàn bà Tàu (1919). Trong những tập sách đó, rất đặc biệt, là tiểu thuyết giả tưởng Giấc mộng con, tập I, kể câu chuyện đi chu du khắp năm châu; và, đến năm 1932 ông mới viết xong Giấc mộng con tập II, kể về cuộc viễn du lên thiên đình. Qua tiểu thuyết này, ta thấy lối tư duy hết sức mới lạ và trí tưởng tượng vô cùng phóng túng của Tản Đà trong sáng tạo văn chương. Năm 1920, sau chuyến đi thăm thú Huế, Đà Nẵng, ông viết thiên truyện Thề non nước, trong đó có bài thơ Thề non nước rất nổi tiếng. Ẩn trong tình yêu đôi lứa là một mối tình đất nước, những câu thơ lục bát đẹp đẽ lạ thường mà mang tính khái quát thật lớn:

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non…

Núi cao những ngóng cùng trông,

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

Xương mai một nắm hao gầy

Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương…

Dù cho sông cạn đá mòn

Còn non còn nước hãy còn thề xưa.

* * *

Đã dấn thân kiếm sống bằng văn bút, Tản Đà cũng nhập cuộc luôn với nghề làm báo. Năm 1921, ông làm chủ bút tờ Hữu thanh tạp chí. Ông còn phải đi diễn thuyết về Đời đáng chán hay không đáng chán, nhằm giải thích với công chúng về việc nhập cuộc văn chương của mình. Cũng năm này, Tản Đà cho xuất bản một tác phẩm giàu tính hiện thực là tiểu thuyết Thần tiền, và cho in các tập thơ dạy trẻ Lên sáu và Lên tám. Làm chủ bút Hữu thanh tạp chí được sáu tháng, Tản Đà từ chức, về quê, ấy là thơ nó kéo tuột ông về đó để…làm thơ. Một năm sau, ông lại ra Hà Nội, lập Tản Đà thư điếm, sau hợp với Nghiêm Hàm ấn quán thành Tản Đà thư cục. Ông lần lượt cho xuất bản: Tập thơ - văn Tản Đà tùng văn, trong đó có truyện Thề non nước (1922), tập thơ - văn Còn chơi (1923), tập Quốc sử huấn mông (1924), tập Trần ai tri kỷ (1924). Năm 1924, ông cùng Nghiêm Thượng Văn và Đặng Đức Tô đã dịch và cho xuất bản những tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, như Kinh thi, Đại học… Quãng thời gian này, Tản Đà thực sự là một nhà văn chuyên nghiệp, viết rất khoẻ, đặc biệt hơn, ông là tác gia có năng lực sáng tạo hết sức dồi dào và có khuynh hướng học thuật thật cao là điều rất hiếm thấy trong đời sống văn chương vài chục năm đầu thế kỷ XX!

Năm 1925, nhân sự kiện Phan Bội Châu bị bắt và Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn, phong trào yêu nước dấy lên và lan rộng nhiều nơi trong nước, Tản Đà nhập thế tích cực hơn. Năm 1926, ông rất cố gắng để cho ra mắt An Nam tạp chí, được 10 số, đến tháng 3 năm 1927 thì bị đình bản. Ông tiến hành một chuyến đi vào Nam, ghé thăm nhiều danh lam thắng cảnh, gặp gỡ Phan Bội Châu ở Huế, được nhà báo Diệp Văn Kỳ giúp những ngày ở Sài Gòn. Tình cảm yêu nước cùng những tâm sự u hoài càng nặng trĩu lòng Tản Đà trong chuyến đi. Trở về Hà Nội, ông được Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Quốc dân đảng tìm gặp để bàn ra lại An Nam tạp chí, nhưng việc không thành. Cuối năm 1927, Tản Đà cùng Ngô Tất Tố vào Sài Gòn giúp Diệp Văn Kỳ làm Đông Pháp thời báo. Ông thực sự không phải con người làm báo, dù ông chỉ trợ giúp Diệp Văn Kỳ về phần thơ. Theo hồi ức của nhà văn Thiếu Sơn thì, có lần báo chờ bài của Tản Đà để lên khuôn, toà soạn cho người tới nhà ông ở Xóm Gà để lấy, đúng lúc ông đang ngất ngưởng trước ly rượu, và đã cất lời quát mắng: “Làm thơ đâu phải bổ củi mà có ngay được!” Vậy nên tháng 2 năm 1928, ông từ chức, trở ra Bắc. Trên đường về, Tản Đà có ghé thăm khu mộ anh hùng Nguyễn Huệ ở Phú Phong và đã làm náo động bọn quan lại ở đấy, khiến công sứ Pháp phải gọi ông lên chất vấn. Kỳ này, ông trở lại Khê Thượng quê nhà, được ít lâu, lại lên Vĩnh Yên sống một thời gian thì bị quan lại địa phương gây khó dễ nên phải xuống Hải Phòng, rồi lại lên Hà Nội. Năm 1930, ông làm tục bản An Nam tạp chí, nhưng chỉ được hai số, lại ngừng; rồi năm 1931 xuống Nam Định làm tục bản An Nam tạp chí lần thứ hai. Đến 1933 ông làm trợ bút cho Văn học tạp chí được ít lâu thì lại về quê, như ông viết, Công danh sự nghiệp mặc đời/ Bên thời chai rượu bên thời bài thơ…Cuối năm 1937, Tản Đà về sống tại làng Hà Trì, Hà Đông, dịch thơ Đường đăng đều trên báo Ngày nay. Tài thơ của Tản Đà bộc lộ cả trong thơ dịch, như hai câu trong bài Tuyệt cú của Đỗ Phủ (phiên âm): Lưỡng cá hoàng ly minh thuý liễu/ Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên; ông dịch hay xuất thần: Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc/ Một đàn cò trắng vút trời xanh.

Thời gian ở làng Hà Trì, Tản Đà còn dịch hơn bốn mươi truyện trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, in làm hai tập, soạn Vương Thuý Kiều chú giải tân truyện, giữ mục “Thi đàn” cho Tiểu thuyết tuần san, và viết giúp cho tạp chí Phật học Tiếng chuông sớm. Sau, do bị viên Tổng đốc Hà Đông thù ghét, ông phải chuyển ra Hà Nội, sống rất túng quẫn, đến mức không đủ ăn và lại thiếu tiền thuê nhà nên bị chủ nhà tịch thu đồ đạc, đuổi đi. Tản Đà cùng gia đình dọn về nhà 71 phố Cầu Mới, một thời gian ngắn sau, ông nhuốm bệnh và qua đời hồi 1 giờ chiều ngày 7 tháng 6 năm 1939. Sự ra đi của ông là một cái tang lớn của làng văn chương, báo chí nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung. Hầu hết báo chí trong Nam, ngoài Bắc ra số đặc biệt về Tản Đà. Tờ tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm số 35 đã đứng ra tổ chức lạc quyên để giúp đỡ vợ, con nhà thơ Tản Đà, như lời kêu gọi của chủ bút Lê Tràng Kiều: “Trong dịp buồn rầu này, bổn phận chúng ta là phải giúp đỡ bà Hiếu và tám người con còn thơ dại kia…” Trên Tiểu thuyết Thứ năm số 36, có bài tiểu luận Nhân cái chết của một thi sĩ nghèo, Lê Tràng Kiều viết những dòng mở đầu: “Nghệ thuật đã nhân danh Tổ quốc mà chịu cái tang chung đau đớn này…”; và, khép lại bài tiểu luận: “Vương Khải, Thạch Sùng kiếp sau không còn trông thấy tiền bạc của mình nữa. Nhưng một Lý Bạch một Tản Đà, tái sinh vẫn còn được nghe người đời đọc những câu thơ bất hủ của mình làm tự kiếp trước”

* * *

Trên văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ XX, Tản Đà nổi lên thành một hiện tượng độc đáo, mới lạ với một sức sáng tạo phong phú, mạnh mẽ phi thường. Do tính cách và số phận, Tản Đà chọn văn chương làm phương tiện sống, chính vì vậy, đời sống văn chương Việt Nam mới thực sự có nghề văn. Ông viết cả kịch bản, văn chính luận, thời đàm, viết tiểu thuyết giả tưởng (Giấc mộng con), viết cả tiểu thuyết giầu tính hiện thực (Thần tiền), cả bút ký triết học (Nhàn tưởng), lại dịch cả những tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, cả khảo cứu văn - sử…tất cả đều bằng một bút pháp đại gia!

Ở phương Tây, cái tôi trữ tình buồn mơ màng và đa cảm của chủ nghĩa Lãng mạn, xuất hiện đầu tiên ở nước pháp thời hiện đại (moderne), cuối thế kỷ XVIII. Thập niên thứ hai của thế kỷ XX, với Tản Đà, chủ nghĩa Lãng mạn có ở Việt Nam ta. Tiếp đó, chủ nghĩa Hiện thực, xuất hiện ở châu Âu giữa thế kỷ XIX, cũng vào Việt Nam. Đặc biệt quan trọng, thời gian này, chữ Quốc ngữ đã là một thành công lớn của văn hóa Việt Nam. Văn chương Việt Nam hiện đại đã bắt nhịp ngay được văn học hiện đại Âu - Tây. Do có chữ Quốc ngữ, việc sáng tác và đọc văn chương trở nên vô cùng thuận lợi, nên Thơ mới bừng khai mở và nhanh chóng gây ảnh hưởng sôi động trong đời sống xã hội. Theo bước Tản Đà, những năm 1932 đến 1935 nở rộ nhiều tài năng thi ca, có tri thức sâu rộng và cái tôi cá nhân được hoàn toàn giải phóng, đó là Lưu Trọng Lư, Thái Can, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Vỹ, Thế Lữ… Rồi chủ nghĩa Tượng trưng, chủ nghĩa Siêu thực cũng nhập sâu vào đời sống văn thơ Việt Nam, những thi sĩ xuất sắc của Thơ mới đã tiếp cận được ngay. Với tài năng, biết chọn lọc cái đẹp văn hóa của Tây - Âu và tâm hồn Việt Nam chan chứa tình cảm nhân bản, Phạm Huy Thông, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu; rồi Yến Lan, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Bính... đã khiến thơ Việt trở nên tươi mới, đẹp đẽ lạ thường. Điều đáng nói là, tác phẩm của các tài danh Thơ mới nhanh chóng chiếm được tình yêu của độc giả, và đến nay, đã hơn tám mươi năm trời, vẫn là thơ hay của Việt Nam ta. Hiện tượng này là một bài học lớn về việc tiếp thu thành tựu thi ca nhân loại một cách tài giỏi, để nâng nghệ thuật thơ Việt Nam hiện đại lên một tầm mức mới!

Trước hết và trên hết, người đời coi Tản Đà là một thi nhân kiệt xuất nhất. Ngô Tất Tố nhận định: “Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là người đứng đầu của thời đại này”. Bài thơ Thăm mả cũ bên đường hết sức mới lạ so với thơ ca đầu thế kỷ XX, mà cũng đạt tới phẩm giá thơ ca kinh điển. Chơi lâu, nhớ quê về thăm nhà, gặp ngôi mả cũ bên đường hoang vắng, nhà thơ nghĩ về những phận người: Có thể nằm duới mả đó là kẻ cung đao, hám đạn liều tên, quyết mũi đao, kết cục da ngựa bọc thây vùi ở nơi cửa nhà xa cách, vợ con khuất. Nhà thơ lại nghĩ đến phận của loại người mà ông hiểu nhất:

Hay là thuở trước kẻ văn chương

Chen hội công danh, nhỡ lạc đường

Tài cao, phận thấp, chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương?

Mở đầu mỗi khổ thơ đều bằng hai từ nghi vấn Hay là, nhưng liền đó nhà thơ mô tả một nhân vật khá tiêu biểu trong xã hội: Chẳng hạn, là một Khách phong lưu, giàu có đề huề, nhưng nơi lối nhỏ, chốn quan san xa lạ, ma thiêng nước độc, nên thành nấm mả bên đường này; hoặc là một bậc tài danh, do giận duyên, hờn ân ái, nên Đất khách nhờ chôn một khối tình; và có thể là một khách hồng nhan tài sắc, mà:

Phong trần xui gặp bước lưu lạc

Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn…

Bên nấm mả cũ mưa dầu, nắng dãi ấy, Tản Đà như thấy lại những phận người trong cái xã hội mà ông từng hiểu thấu, cảm khái và viết thành những câu thơ thật buồn. Ông cũng hiểu rõ quy luật trong cõi nhân sinh, nên coi nấm mả hoang như là nơi chốn mà mọi kiếp người phải về đó. Ông khép lại bài thơ bằng hai câu thật trầm tĩnh, chất chứa những ý nghĩa nhân văn sâu sắc:

Có tiếng khóc oa thì có thế

Trăm năm ai lại biết ai mà!

Là bậc thức giả lớn có tri thức rất sâu rộng về thơ ca cổ điển phương Đông và thơ ca dân gian nước ta, cùng với tài năng thiên phú, Tản Đà đã dùng những tri thức đó trong sáng tạo thơ ca một cách tài tình, vô cùng phóng túng. Bởi thế, ông đã tạo cho thơ ca Việt Nam ta một thứ thơ trước đây chưa từng có. Những câu thơ trong bài Tống biệt, vần điệu rất mới, tình thơ sâu lắng:

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi

Đá mòn, rêu nhạt

Nước chảy, hoa trôi

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Con đường cũ

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

Chúng tôi mạnh dạn nêu nhận xét rằng, nhạc điệu của thi sĩ danh tiếng thời Thơ mới Lưu Trọng Lư cũng không hẳn mới hơn nhạc điệu của những câu thơ trên. Và, những câu thơ Tản Đà, Trận gió thu phong rụng lá hồng/ Lá bay từ bắc lá sang đông (bài Gió thu), chúng tôi thấy lối cấu trúc câu thơ của Nguyễn Bính sau này đôi khi cũng phảng phất vậy. Trong bài Thăm mả cũ bên đường, Tản Đà viết: Tài cao phận thấp, chí khí uất/ Giang hồ mê chơi quên quê hương... Những câu thơ có tiết tấu mới, nhanh, đầy khí lực như thế, các nhà Thơ mới (1932 - 1942) không dễ mà viết hay hơn. Do tiếp thu được nhuần nhuyễn vẻ đẹp giản dị của ca dao cùng sức sáng tạo phong phú, thơ lục bát vủa Tản Đà đã đạt đến cái hay mẫu mực... Chính Xuân Diệu, một nhà Thơ mới tiêu biểu, đã coi “Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”.

                                                                                    Long Biên, mùa thu 2015

 

Ý NGHĨA MỘT ĐỜI NGƯỜI

 Thơ mới là một thành công rực rỡ của nền thơ Việt Nam hiện đại, và có thể nói, cũng là một thành công của Văn hoá Việt Nam ta. Trong sự nỗ lực sáng tạo, phấn đấu để khẳng định Thơ mới và khích lệ nó phát triển đến thành tựu đỉnh cao, có một vị trí rất vinh dự dành cho Lê Tràng Kiều.

1. NHÀ LÝ LUẬN PHÊ BÌNH TIÊN PHONG

Nhà văn Lê Tràng Kiều tên thật là Lê Tài Phúng, sinh năm 1912 tại quê hương Nam Định, sống thời niên thiếu ở đó và theo học trường Thành Chung vài năm. Năm mười sáu tuổi, Lê Tràng Kiều theo gia đình chuyển cư lên Hà Nội, ngụ tại làng Quan Nhân, một trong bảy làng Mọc của Hà Nội xưa, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Đất kẻ Mọc cũng là quê của nhà văn Nguyễn Tuân, và là quê ngoại của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Vậy nên, từ tuổi mới lớn, Lê Tràng Kiều đã kết bạn với Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Tuân. Họ cùng trang lứa, cùng trở thành những nhà văn tiêu biểu của Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.

Khi mới lên Hà Nội, Lê Tràng Kiều học ở trường Thăng Long, rồi học Cao đẳng Thương mại Đông Dương, và sớm bộc lộ một tài năng văn chương, báo chí. Mười tám đôi mươi tuổi, Lê Tràng Kiều đã viết những bài báo về văn học, về văn hóa xã hội, đăng trên Tạp chí văn học. Ông sớm tỏ rõ một năng lực sắc sảo trong nghiên cứu phê bình văn học, làm báo, có khả năng hòa nhập nhanh vào đời sống văn chương và sớm tạo được nhiều ảnh hưởng tới các nhà văn. Giao du với nhiều nhà văn đương thời, nhưng Lê Tràng Kiều quan hệ mật thiết với những nhà văn cùng chí hướng như Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Vũ Trọng Can, Nguyễn Tuân, Bùi Huy Phồn, Hoài Thanh, Lan Khai, Thâm Tâm, Quỳnh Dao, cùng một số tác giả sân khấu như Vi Huyền Đắc, Chu Ngọc, Bùi Nguyên Cát…

Từ năm 1935, 1936, Lê Tràng Kiều có những đóng góp rất đáng kể cho văn học nước ta. Nhất là khi làm chủ bút Hà Nội báo, ông cùng các bạn thân thiết, đã làm cho phần văn học của báo tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trong đời sống xã hội. Những tiểu thuyết như Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng; những kịch thơ Anh Nga, Tần Ngọc của Phạm Huy Thông… đã được giới thiệu, đăng tải nhiều kỳ trên Hà Nội báo, được độc giả vô cùng tán thưởng. Một nhà thơ trẻ chưa đầy mười sáu tuổi là Nguyễn Xuân Sanh, cũng được Lê Tràng Kiều trân trọng giới thiệu trên Hà Nội báo tác phẩm đầu tay Trường ca lạc loài, đăng liền 12 kỳ báo. Vinh hạnh lớn này suốt đời khích lệ nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Tình bạn văn chương của Lê Tràng Kiều với Vũ Trọng Phụng là mối tình tri kỷ lớn. Đương lúc Vũ Trọng Phụng được độc giả rất hâm mộ bởi một loạt phóng sự đặc sắc như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô…, Lê Tràng Kiều có viết trên Văn học tạp chí số 4, ra ngày 8 - 6 - 1935, về ba nhà văn họ Vũ (Tam Lang Vũ Đình Chí, Tiêu Liêu Vũ Bằng, Thiên Hư Vũ Trọng Phụng), biểu dương tài năng của họ; đồng thời, tâm huyết trao đổi với Vũ Trọng Phụng: “ Ông Phụng cứ viết cho tôi nữa đi những truyện ngắn hay những truyện dài về xã hội, tôi dám chắc sự nghiệp văn chương của ông sẽ rực rỡ vô cùng…”. Lắng nghe lời tâm huyết của người bạn tri kỷ, Vũ Trọng Phụng lập tức dồn tâm sức vào truyện dài về xã hội, và trong năm 1936, ông sáng tạo nên ba tiểu thuyết xuất sắc, làm vinh dự cho nền văn chương nước Việt ta, là Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên, nhà văn đặt tên là Thị Mịch, Lê Tràng Kiều cho đăng tải ngay trên Hà Nội báo. Lập tức nhà đương cục đã can thiệp, đòi cấm. Lê Tràng Kiều và Vũ Trọng Phụng, sau một thời gian ngắn, đã quyết định đổi tên tiểu thuyết thành Giông tố, và đăng tải hết trên Hà Nội báo mà giới chức kiểm duyệt không kịp hiểu đó cũng chỉ là chuyện về Thị Mịch, Nghị Hách… Về sau, khi nhà xuất bản Văn Thanh ấn hành Giông tố, Vũ Trọng Phụng có in lời đề tặng Lê Tràng Kiều trên đầu sách rất trân trọng (1).

Đầu năm 1936, khi cuộc tranh luận về thơ mới, thơ cũ trở nên sôi động, Lê Tràng Kiều có bài viết khá quan trọng, Thơ mới, đăng trên Hà Nội báo số 14, khẳng định giá trị của phong trào Thơ mới và chúc mừng chiến thắng toàn vẹn của nó. Ông viết: “Ba năm qua… Với thi ca, văn học ta đã bước một bước dài. Một sự may mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong dĩ vãng rất phẳng lặng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái…”. Và, ngay thời điểm đầu năm 1936 đó, Lê Tràng Kiều đã có tầm nhìn sâu rộng và khả năng tư duy rất chín chắn về thơ ca dân tộc, không sa vào sự thái quá có mới nới cũ: “Từ bây giờ, lịch sử chỉ còn ghi lại những áng thơ hay mà thôi, chứ không chia ra mới, cũ nữa!...”. Ngay sau đó, nhiều bài viết bảo vệ thơ cũ đã đả kích Hà Nội báo và bài Thơ mới của Lê Tràng Kiều. Trong đó, đáng kể nhất là bài viết bừng bừng nộ khí của ông Thái Phỉ, in trên báo Tin văn; tờ Văn học tuần san ở Sài Gòn cũng đồng quan điểm với Tin văn, công kích Lê Tràng Kiều và Thơ mới. Cuộc bút chiến trở nên quyết liệt hơn. Lê Tràng Kiều lại công bố trên Hà Nội báo số 18 bài Thơ mới nữa, với sự khẳng định: “Những bài thơ như Tiếng thu, Bao la sầu, Một chiều thu không phải là di sản của một gia đình nào, của một phe phái nào, của một thời gian nào, nó đáng cho mọi người trong nước ngâm nga, đáng dịch ra tiếng ngoại quốc cho người ta thấy rằng dân tộc ta không phải là không có người hiểu cái hay, cái đẹp ở đời…”. Thế rồi, quy mô hơn, sâu sắc hơn, Lê Tràng Kiều cho đăng một loạt bài tiếp theo trên Hà Nội báo, lần lượt khẳng định giá trị Thơ mới và những tài năng trong phong trào Thơ mới; khẳng định tính sâu sắc, tính đa dạng, tính phổ quát, tính cội nguồn, tính cách tân đều có trong các nhà Thơ mới; và khẳng định Thơ mới đã làm trẻ lại, làm sung sức tâm hồn dân tộc. Bài viết về nhà thơ Thái Can đăng Hà Nội báo số 20, Lê Tràng Kiều chứng minh rằng, thơ Thái Can mới mà rất gần với thơ cổ điển phương Đông. Ông viết: “Nếu trong các thi sĩ mới, có một thi sĩ gần với Nguyễn Khắc Hiếu, Chu Mạnh Trinh, Bà Huyện Thanh Quan hơn hết, thì là Thái Can”. Đến bài về thơ Nguyễn Nhược Pháp trên Hà Nội báo số 21, Lê Tràng Kiều nêu bật phẩm chất thơ Nguyễn Nhược Pháp là sự bình dị, hồn nhiên, trong sáng. Ông đánh giá rằng, nhà thơ mới này đã dựng lại một thế giới: ngày xưa. Ông thật uyên thâm khi nhận xét rằng, văn thơ nước ta đã già đi với đạo Khổng, nhưng với Thơ mới, nó đã bắt đầu trẻ lại. Trên Hà Nội báo số 22, Lê Tràng Kiều viết về Thơ mới có ngay trong thơ Đông Hồ, khen Đông Hồ thoát xác từ một thi sĩ cũ trở thành một nhà thơ có khuynh hướng mới: “Đông Hồ ngày trước là một ông cụ non lụ khụ… Nay thì Đông Hồ, với cái tuổi sắp đứng, còn biết yêu như yêu lần đầu tiên, nồng nàn, tha thiết”. Tới bài viết về thơ Nguyễn Vỹ, Hà Nội báo số 23, Lê Tràng Kiều nhận xét nhà thơ này quá mới, và cho rằng, Thơ mới ngoài hàm chứa cái hay kinh điển còn phải vô cùng mới về hình thức biểu hiện. Ông nhấn mạnh thành công của Nguyễn Vỹ qua bài Sương rơi: “Đó là nhạc điệu thiên nhiên của những vật hữu hình và vô hình trong vũ trụ lúc đêm khuya, những vật ấy nối tiếp nhau mà tan vỡ thành giọt… Từng giọt/ Thánh thót/ Từng giọt/ Điêu tàn…”. Và ông nhận xét về sự đóng góp của Nguyễn Vỹ cho thơ ca Việt Nam: “Làm được một bài như Sương rơi cũng là nhiều lắm rồi”. Bài viết về thơ Thế Lữ, Hà Nội báo số 24, Lê Tràng Kiều chứng minh thơ mới Thế Lữ phần nào đã đạt tới cái hay cổ điển. Ông thật tinh tế khi nhận xét rằng, Thế Lữ “có tâm hồn của một người tiên chưa hề có một quá khứ đau khổ ở trần gian”. Bài viết về thơ Vũ Đình Liên trên Hà Nội báo số 26, Lê Tràng Kiều nhận định, thơ mới Vũ Đình Liên đã làm sống lại dĩ vãng, sống lại những gì vô cùng thân yêu trong quá khứ. Ông còn lưu tâm đến một phẩm chất khá đặc biệt trong thơ Vũ Đình Liên, khi nêu dư luận rằng, có người đánh giá: “Vũ Đình Liên là một nhà thơ lao động, vì hơn nửa số tác phẩm của ông dành cho anh em lao khổ”. Hà Nội báo số 30, Lê Tràng Kiều viết về Lưu Trọng Lư, “người đầu tiên gieo hạt giống Thơ mới vào đất Bắc”. Ông so sánh Lưu Trọng Lư với Thế Lữ và Phạm Huy Thông, chỉ vài dòng mà thật đắc cách: “Thế Lữ và Huy Thông thường ngẩng đầu lên nhìn trời, nhìn núi sông to rộng mà ca những bài ca hùng tráng… Lưu Trọng Lư thì cúi đầu xuống bước từng bước sợ sệt ngại ngùng như bao giờ cũng lo đạp phải những cái linh thiêng của trời đất rải xuống”. Ông khẳng định phẩm chất của thơ Lưu Trọng Lư là rất giàu nhạc điệu, và khẳng định, đó cũng là phẩm chất tiêu biểu của Thơ mới…

Nay nhìn nhận lại trào lưu Thơ mới, chúng tôi thấy, giai đoạn từ 1934 đến 1936, trên văn đàn Việt Nam diễn ra một cuộc tranh luận có lúc rất quyết liệt giữa những nhà văn không tán thành Thơ mới với những nhà văn cổ võ, khích lệ cho Thơ mới phát triển. Là bạn của Lê Tràng Kiều, Hoài Thanh cũng chỉ viết có một bài Thơ mới, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy số 31, ngày 29-12-1934. Trong bài này có đoạn: “Vậy bây giờ Thơ mới có quy tắc gì chưa? Hiển nhiên là chưa có. Không theo phép tắc khuôn khổ xưa thì người ta gọi là mới, hai chữ Thơ mới hiện nay chỉ có thể định nghĩa một cách tiêu cực như vậy mà thôi…”. Nhìn lại việc này, chúng tôi không có mục đích gì ngoài việc muốn lưu ý với bạn đọc về tầm nhìn sâu rộng, tư duy lý luận sắc bén và phẩm chất tiên phong của nhà lý luận phê bình văn học Lê Tràng Kiều. Với một loạt bài viết, ông đã trình bày được tất cả sự đa dạng, phong phú muôn màu muôn vẻ của nghệ thuật Thơ mới, có sức thuyết phục rất lớn trong đời sống văn chương đương thời. Mãi đến năm 1942, các tác giả Thi nhân Việt Nam mới đánh giá sự thắng lợi trọn vẹn của Thơ mới. Nhưng, ngay từ năm 1936, với loạt bài viết của mình, Lê Tràng Kiều đã khiến độc giả thấy được sự ưu việt tuyệt đối của Thơ mới. Có thể nói phong trào Thơ mới là một thành công rực rỡ của văn chương dân tộc, và trong cuộc phấn đấu để khẳng định nó, khích lệ nó phát triển đến đỉnh cao, có một vị trí rất vinh dự dành cho nhà văn Lê Tràng Kiều!

2. TRỞ THÀNH MỘT KÝ GIẢ KHÁNG CHIẾN

Những năm giữa và cuối thập kỷ ba mươi của thế kỷ XX, nhà văn Lê Tràng Kiều đã cống hiến không mệt mỏi cho văn học và báo chí. Đồng thời, ông cũng gặp phải những khó khăn rất lớn. Thời gian này, trong đời sống văn chương, một số người đã nêu vấn đề về Truyện Kiều của Nguyễn Du, coi đó là sách dâm ô có thể làm bại hoại đến thuần phong mỹ tục của bình dân. Lê Tràng Kiều đã phải viết bài Nghệ thuật, đăng trên Hà Nội báo số 2 năm 1936, để bênh vực Truyện Kiều. Ông khẳng định Truyện Kiều là tác phẩm có thể an ủi người dân “sau những giờ cần lao hay trong những giờ cần lao, họ ngâm lên những câu như Lơ thơ tơ liễu buông mành/ Con oanh học học hót trên cành mỉa mai, để họ hả hê lòng, để cho quên đi mệt nhọc…”. Tháng 5 năm 1936, tác phẩm Văn chương và hành động mà Lê Tràng Kiều đồng tác giả với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư đã bị nhà đương cục thu tất cả và ra lệnh cấm lưu hành. Lê Tràng Kiều bị chính quyền đương thời coi là kẻ đứng đầu nhóm Văn chương và hành động, nên ông bị gọi ra tòa. Chúng tôi, khi tìm hiểu về nhà văn Lê Tràng Kiều, có được gặp và nghe những người bạn của ông, như nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát, người cùng ông lập ra Ban kịch Hà Nội; nhà văn Phạm Văn Kỳ, thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyêt Thứ năm; nhà văn Ngọc Giao, thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy, kể cho biết việc đó. Nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát còn nói: “Anh Kiều bị chính quyền thực dân coi là cầm đầu nhóm Văn chương và hành động, còn ta thì coi là chủ soái Nghệ thuật vị nghệ thuật, thực khổ!”. Cho đến năm 1999. Nhà xuất bản Hội Nhà văn in lại cuốn Văn chương và hành động, thì Lời bạt cho cuốn sách lại viết rằng, Hoài Thanh là tác giả chủ yếu. Một lần đến thăm nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát, chúng tôi nói về việc đó, ông đã bức bối: “Sao họ cứ làm khổ anh Lê Tràng Kiều mãi thế!”. Chuyện trò với ông buổi hôm đó chúng tôi mới hiểu ra, tên các tác giả trên bìa sách là xếp theo vần A,B,C. Và, hồi 1931 đến 1936 nhà văn Hoài Thanh còn ở Huế, “làm thợ sửa mo-rát cho nhà in Đắc Lập…” (Theo Bước khởi nghiệp của nhà văn Hoài Thanh của Từ Sơn, báo Văn nghệ Công an 20/4/2009, và Wikipedia tiếng Việt). Do vậy, mọi việc biên tập, xuất bản Văn chương và hành động đều do nhà văn Lê Tràng Kiều cùng nhà thơ Lưu Trọng Lư làm tại Hà Nội. Đương thời, làm báo chí và xuất bản là sở trường của nhà văn Lê Tràng Kiều…

Với Lê Tràng Kiều năm 1936, đúng là họa vô đơn chí, chưa qua khỏi tai ương về Văn chương và hành động, thì Hà Nội báo bị đình bản. Dù vậy, ông và các bạn văn cùng chí hướng vẫn kiên định và tâm huyết với văn chương. Lê Tràng Kiều gây dựng một tờ báo mới, là tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm (TTTN). Ngay từ những số đầu, TTTN đã đăng các tác phẩm của Đồ Phồn, Nguyễn Đình Lạp, Lưu Trọng Lư, Vũ Trọng Can, Phạm Huy Thông… Rồi bắt đầu đăng tiểu thuyết Quý phái của Vũ Trọng Phụng. Báo đăng các tác phẩm như truyện ngắn Nghỉ mát Chapa của Bùi Huy Phồn, mô tả sự thối nát của quan chức đương thời; đăng phóng sự Gặp một ông nghị lôi thôi của Vũ Trọng Phụng, nói về sự tệ hại của các nghị viên… Do vậy, mới ra được 13 số thì TTTN lại bị đình bản. Lê Tràng Kiều và các bạn văn lại lao đao, vất vả. Mãi đến tháng 10 năm 1938, tờ TTTN mới được xuất bản trở lại. Để có thể ra báo, Lê Tràng Kiều phải chấp nhận với chủ báo Lê Cường là, lương cho anh em trong tòa soạn và nhuận bút cho tác giả thì tòa soạn phải lo, còn tiền bán báo thì chủ báo thu. Vừa làm chủ bút, vừa lo chạy quảng cáo để có tiền nuôi anh em trong tòa báo, Lê Tràng Kiều vẫn viết nhiều. Cả đời viết, ông ký nhiều bút danh khác nữa, như Lê Tùng, Phan Hữu, Trường Thiên… Riêng hai bút danh Lê Tràng Kiều và Nàng Lê, ông dùng nhiều nhất trong thời kỳ làm báo TTTN. Qua những số báo TTTN mà chúng tôi có trong tay, ông viết tới hơn hai mươi bài phê bình, tiểu luận văn học, tản văn, ngoài ra còn có các bài bình luận xã hội và cả ký sự điều tra. Đó là chưa kể một số truyện ngắn của Tình Thiên mà chúng tôi ngờ là một bút danh khác của ông.

Có thể thấy rõ, giai đoạn 1936 - 1939 Lê Tràng Kiều viết được khá nhiều. Năm 1936, Nhà xuất bản Phương Đông giới thiệu sách sắp in trên trang 8 cuốn Văn chương và hành động, có thiên tiểu thuyết Ngoài vườn trăng giãi do Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư đồng tác giả. Rất tiếc, đến nay chúng tôi chưa có trong tay ấn bản hay bản thảo tiểu thuyết này. Lê Tràng Kiều sống rất tận tâm với văn nghệ nước nhà. Cũng thời kỳ này, ông đã cùng các kịch tác gia Chu Ngọc, Bùi Nguyên Cát, Trần Huyền Trân, Vũ trọng Can lập nên Ban kịch Hà Nội, được khán giả đương thời rất yêu chuộng. Với một tài năng và tâm huyết như vậy thì không khó khăn nào có thể khiến ông ngừng hoạt động, ngừng cống hiến cho văn nghệ. Ngay sau khi báo TTTN ngừng bản, đầu năm 1940 Lê Tràng Kiều vào Nam. Và rồi ông lại chủ trương một tờ báo khác, là báo Lá lúa. Những năm này đất nước ta trải qua nhiều đau thương, biến động khôn lường, nghề văn chương báo chí vô cùng khó khăn. Rồi Cách mạng Tháng Tám. Rồi toàn quốc kháng chiến chống xâm lược Pháp. Ngay thời điểm cuối năm 1946, Lê Tràng Kiều lại tập hợp được một nhóm bạn văn cùng chí hướng gồm Thiết Can, Lý Hải Châu, Thê Húc Phạm Văn Hạnh, Mai Văn Bộ, Vũ Tùng… Ông cùng các bạn xuất bản tờ báo Dân quyền với khẩu hiệu in ngay bên tên báo: Một dân tộc - Việt Nam, một lực lượng - đoàn kết, một phương pháp - đấu tranh, một tinh thần - dân chủ, một mục đích - độc lập. Báo Dân quyền theo đường hướng chống đế quốc, thực dân và chính thể bù nhìn, nên lại bị cấm. Nhưng, nhóm các ông lại ra tờ báo khác. Lại bị cấm. Rồi lại có tờ báo khác thay thế. Thực chất, tòa soạn các báo Ngày nay, Việt báo, rồi Lẽ sống, và rồi Phụ nữ…đều do nhóm Lê Tràng Kiều làm. Vậy là, từ khi vào Nam, Lê Tràng Kiều hoạt động chuyên sâu hơn trong lĩnh vực báo chí chính trị xã hội. Cả đời ông đã viết thật nhiều, nhưng có lẽ chỉ có một tác phẩm xuất bản thành sách, là cuốn Văn chương và hành động đồng tác giả với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư. Tác phẩm này, ngay dưới tên sách, tác giả ghi: “Thay lời tuyên ngôn của văn phái Phương Đông”. Nội dung chính của sách gồm những tiểu luận văn chương mang tính mỹ học. Sau Lời nói đầu là tiểu luận Ý nghĩa đời người. Trong tiểu luận này, nhà văn có luận về tín ngưỡng, rằng: “Phải tin ở cuộc sống, phải hăng hái sống, phải làm thế nào cho đời ta và đời của mọi người chung quanh ta ngày một đầy đủ thêm, dồi dào thêm - đó là một tín ngưỡng căn bản…”. Thế rồi, hầu như cuộc đời Lê Tràng Kiều đã được dẫn dắt bởi lý tưởng tin ở cuộc sống và hết mình vì cuộc sống đó. Ông đã hành động, luôn luôn hành động, viết văn, làm báo và viết báo, viết rất nhiều những bài vun đắp cho tinh thần chiến đấu của nhân dân, vì độc lập, hạnh phúc, tự do và thống nhất… Suốt thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước, bà con Nam bộ đã thân mật gọi Lê Tràng Kiều và các bạn ông là Nhóm ký giả kháng chiến.

3. VẪN CÒN MÃI Ý NGHĨA MỘT ĐỜI NGƯỜI

Sau năm 1975, đất nước hòa bình, thống nhất. Trong một buổi làm việc của đại diện văn nghệ ngoài Bắc với đại diện văn nghệ Giải Phóng, tại trụ sở Hội văn nghệ Giải phóng ở Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Tràng Kiều gặp lại Nguyễn Xuân Sanh, mới từ Hà Nội vào. Hai ông ôm riết lấy nhau hồi lâu, cùng ứa nước mắt. Sau gần bốn mươi năm xa cách, trong câu chuyện hàn huyên, Lê Tràng Kiều chỉ muốn nghe Nguyễn Xuân Sanh kể về những tiến triển của văn chương ngoài Bắc. Ông nhớ quê hương trong nỗi nhớ văn chương thật sâu thẳm, diết da. Đó là những khắc giờ bừng dậy trong Lê Tràng Kiều một sức sống văn chương to lớn tiềm ẩn nơi đáy lòng mấy chục năm trường… Khi đi tìm hiểu về cuộc đời nhà văn Lê Tràng Kiều, chúng tôi gặp gỡ được một số nhà văn từng cùng ông làm báo, cùng ông hoạt động trong Ban kịch Hà Nội, từng chia sẻ buồn vui cùng ông, và gặp cả nhà thơ lão thành Nguyễn Xuân Sanh, để hỏi chuyện. Vậy nên chúng tôi mới biết được một số chuyện về Lê Tràng Kiều, một số công việc ông đã làm, như chúng tôi viết ở trên. Chúng tôi cũng được biết, nhà văn Lê Tràng Kiều đã qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1977, do bệnh nặng. Từ ngày ông qua đời đến nay, một phần ba thế kỷ đã trôi qua. Trong bộ sách đồ sộ Tổng tập văn học Việt Nam dày hàng mét, phần ghi về Lê Tràng Kiều chỉ có dăm dòng: Chủ soái nhóm Nghệ thuật vị nghệ thuật, mà chưa rõ năm sinh, năm mất, cũng không viết về quê quán(!)

Cuối thế kỷ XX, sự nghiệp đổi mới đã phát triển sâu rộng trong đời sống. Các bạn Pháp đã tặng lại ta bản in tác phẩm Văn chương và hành động; và nhiều số báo Tiểu thuyết Thứ năm mà Lê Tràng Kiều cùng các bạn văn làm những năm ba mươi, thế kỷ XX, cũng từ Pháp trở về. Đó là niềm vui cho đời sống văn chương Việt Nam. Nhưng không ngờ, Lê Tràng Kiều lại được một số nhà nghiên cứu văn học hôm nay nhìn nhận và ứng xử rất khác nhau. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện, trong Lời bạt cuốn Văn chương và hành động, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 1999, không biết đã dựa vào chứng cứ nào mà viết: “Nhưng công lao biên soạn nội dung là thuộc về Hoài Thanh. Ông chủ biên và chấp bút hầu như toàn bộ cuốn sách… Hoài Thanh là đại diện có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong cuốn sách”. Nhà thơ Lưu Trọng Lư qua đời năm 1991, không còn người bênh vực cho Lê Tràng Kiều nữa. Chúng tôi thấy cần phải nói cho minh bạch rằng: Sách Văn chương và hành động gồm hai phần. Phần Phụ lục có 2 bài dịch, một là Tựa quyển “Lá thu” do Lưu Trọng Lư dịch, hai là Một bài diễn văn tối quan trọng do Lưu Trọng Lư dịch, phụ thêm lời bình của Hoài Thanh (Phần Phụ lục chiếm non nửa cuốn sách). Còn phần nội dung chính, gồm 11 bài, từ bài 1 là Lời nói đầu đến bài 11 là Kết luận ghi tên cả ba tác giả. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện lấy cớ có 4 bài trong 10 bài sau này in trên tạp chí Tao đàn năm 1939 chỉ ký một mình tên Hoài Thanh, để coi Hoài Thanh là tác giả chủ yếu sách Văn chương và hành động. Việc coi tác giả của 4 bài trên 10 bài (2) là “có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong sách” chứng tỏ nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện đã không biết phép tính trừ đơn giản, mà anh còn làm một việc rất tổn thương đến tình bạn đã có từ hơn bảy mươi năm trước của Lê Tràng Kiều với Hoài Thanh mà đến nay nhiều người còn biết. Nếu có người lại tính rằng, Lưu Trọng Lưu đảm nhiệm phần dịch thuật trong Văn chương và hành động, vậy còn lại 6 bài tiểu luận là do Lê Tràng Kiều viết, thì nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện sẽ nghĩ sao? Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ, tính toán thế cũng tổn thương đến người xưa, như Nguyễn Ngọc Thiện đã làm. Còn nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, trong bài viết Bản quyền thuộc về ai?, trên báo Văn Nghệ trẻ số 39 năm 2004, đã kiểm định văn bản có phần quá rạch ròi dẫn đến nhận định rằng, Hoài Thanh “đạo” văn của Lê Tràng Kiều. Những ý mà nhà văn Lại Nguyên Ân nêu ra sau khi khảo chứng văn bản học, theo chúng tôi, chỉ nên coi đó là việc thừa kế trí tuệ, tư tưởng và xúc cảm thẩm mỹ của bạn bè. Những chuyện mà chúng tôi được nghe những người ngày xưa gắn bó nhiều với Lê Tràng Kiều trong cuộc sống kể cho biết, thì ông là người có thể bán nhà để nuôi bạn, dù ông không giàu có gì. Không khéo, những ứng xử của chúng ta hôm nay lại làm người đọc thấy đau lòng khi nghĩ tới người xưa. Việc chúng ta làm, nếu có liên quan đến ông, thì cũng là làm cho chúng ta thôi. Còn Lê Tràng Kiều đâu còn cảm thấy gì về những ứng xử nơi trần thế! Có chăng, chỉ bạn đọc yêu văn học dân tộc mới là những người bị tổn thất, nếu không được biết đến văn tài và cuộc đời nhà văn Lê Tràng Kiều.

Viết những dòng về nhà văn Lê Tràng Kiều, chúng tôi nghĩ về cuộc sống hôm nay. Cuộc sống tươi mới và mạnh mẽ đang chảy cuồn cuộn ngoài kia, trên đất nước vẹn toàn. Chúng ta đã hòa nhập với thế giới, vươn tới công bằng, vươn tới văn minh, vươn tới những giá trị nhân bản. Chúng tôi lại nhớ tác phẩm Văn chương và hành động, thiên tiểu luận Ý nghĩa đời người, nhà văn có luận về văn minh: “Văn minh chẳng qua là những sức sống của con người xung đột với cái tàn ác của vũ trụ, là sự nỗ lực vĩ đại của loài người để thoát mình khỏi cái chết, cái hư vô…”. Và, chúng tôi bỗng muốn nói với nhà văn Lê Tràng Kiều, một câu thôi, rằng, những gì ông đã làm được suốt cuộc đời dong duổi ngoài Bắc, trong Nam, một cuộc đời hành động, đâu có chết được, những ý nghĩa của nó càng không thể bị chìm vào hư vô!

                                                                                                                    Hà Nội 2002 - 2013

    ĐÔI ĐIỀU VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG VÀ HÀNH ĐỘNG (*)

 Sau khi đọc tiểu luận Ý nghĩa một đời người của tôi trên tạp chí Nhà văn và Tác phẩm số Tết Giáp Ngọ 2014, nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện đã viết bài Về các tiểu luận cho là của Lê Tràng Kiều trong Văn chương và hành động, ghi là “trao đổi với Anh Chi”. Thực chất, nội dung bài viết đó cho thấy anh chỉ ứng xử với nhà văn Lê Tràng Kiều, và cách ứng xử vẫn như cũ. Do vậy, tôi thấy cần phải viết bài tiểu luận này, ngõ hầu giúp bạn đọc hiểu đúng bản chất sự tình!

Tác phẩm Văn chương và hành động (VCVHĐ) của ba nhà văn Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư xuất bản tháng 5 năm 1936 tại Hà Nội, ngay lập tức đã bị chính quyền thực dân cấm phát hành và thu toàn bộ, là một sự kiện văn chương lớn đương thời. Hơn nữa, nó còn mang màu sắc một sự kiện chinh trị - xã hội, bởi sau đó chính quyền thực dân đã gọi Lê Tràng Kiều, người cầm đầu Nhóm Văn chương và hành động ra hầu tòa. Nội dung chính của VCVHĐ là những bài tiểu luận mang tính mỹ học cao, bày tỏ khát vọng làm nên thứ văn chương chân thực, đòi phải được tự do trong sáng tác; các tác giả luận về hiện trạng đời sống bức bí đương thời và kêu gọi cần phải hành động. Nội dung như vậy tất không hợp “khẩu vị” chính quyền lúc đó… Nhiều nhà văn, trí giả và người quan tâm thời ấy rất coi trọng VCVHĐ, một hiện tượng văn chương với tư tưởng phản kháng chính thể đương thời. Và rồi, theo thời gian, VCVHĐ chỉ còn là một ký ức văn học, thành nỗi tiếc nuối một tác phẩm thể hiện tư duy lý luận tiên phong của người Việt Nam mà đã không còn văn bản để đọc.

Nhưng rồi, nhờ sự giúp đỡ của các bạn Pháp, VCVHĐ đã được quay về với người Việt Nam ta, được Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 1999. Đó là điều thật tốt đẹp. Tuy nhiên, cũng dịp này, đã nảy sinh một hiện tượng rất không bình thường là, nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện tiến hành nghiên cứu VCVHĐ, chứng minh rằng nhà văn Hoài Thanh là tác giả chủ yếu tác phẩm này(!) Cụ thể, về phần nội dung chính có 11 bài tiểu luận, không tính chương Kết luận có ký tên ba tác giả bên dưới, nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện tìm hết cách chứng minh riêng Hoài Thanh viết 4 bài, rồi đi đến khẳng định rằng nhà văn Hoài Thanh “có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong sách”. Trước hiện tượng “lạ” như vậy, là người từng nhiều năm sưu tầm và tìm hiểu sự nghiệp văn chương Lê Tràng Kiều, tôi đã viết bài tiểu luận Ý nghĩa một đời người, gần đây gửi đăng trên Tạp chí Nhà Văn và Tác phẩm số Tết Giáp ngọ 2014, ngõ hầu giúp bạn đọc hôm nay hiểu thêm về cuộc đời và lý tưởng văn chương của nhà văn Lê Tràng Kiều. Trong Ý nghĩa một đời người, tôi nhận xét rằng, Nguyễn Ngọc Thiện đã “làm một việc rất tổn thương đến tình bạn đã có từ hơn bảy mươi năm trước của Lê Tràng Kiều với Hoài Thanh mà đến nay nhiều người còn biết”. Và rồi, sau khi đọc bài tiểu luận của tôi trên Tạp chí Nhà Văn và Tác phẩm, Nguyễn Ngọc Thiện đã viết bài Về các tiểu luận cho là của Lê Tràng Kiều trong VCVHĐ (VCTL…), để trao đổi lại với chúng tôi. Điều đó cho thấy, tiểu luận của tôi được anh quan tâm nhiều.

Tiểu luận Ý nghĩa một đời người, tôi viết về cuộc đời và văn chương của nhà văn Lê Tràng Kiều với chừng mực mà tôi biết, trong đó có quãng ngày ông và các bạn văn sáng tác VCVHĐ. Tôi không hề nêu vấn đề Lê Tràng Kiều có bao nhiêu bài tiểu luận trong VCVHĐ, bởi việc gì phải viết về điều đó, ông chính là tác giả VCVHĐ rồi. Ông cũng như Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư đều có thể nói to: “Tác phẩm đó là của tôi!” (cũng như sau này Hoài Thanh viết trong Tự thuật: “…một cuốn sách của tôi là VCVHĐ”. Nhưng, vì thấy Nguyễn Ngọc Thiện lấy cớ có 4 bài trong VCVHĐ, hơn ba năm sau đã in lại trên tạp chí Tao Đàn chỉ ký một mình tên Hoài Thanh, để coi Hoài Thanh là “có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong sách”, nên tôi nêu giả định: “Nếu có người lại tính rằng, Lưu Trọng Lư đảm nhiệm phần dịch thuật trong VCVHĐ, vậy còn lại 6 bài tiểu luận là do Lê Tràng Kiều viết, thì nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện sẽ nghĩ sao? Tuy nhiên, tôi nghĩ, tính toán thế cũng tổn thương đến người xưa, như Nguyễn Ngọc Thiện đã làm!”. Nay, qua cái tên bài Nguyễn Ngọc Thiện mới viết, có vẻ như anh lại bốc hỏa lên rồi, không nhìn rõ gì cả. Người ta mới nêu giả định mà anh đã muốn ứng chiến ngay với một người nào đó có ý cản trở việc anh tôn vinh Hoài Thanh. Giờ thì anh lại tiếp tục tìm hết cách “nghiên cứu”, tính toán xem ai viết nhiều, ai viết ít, để càng khẳng định thêm cho người “có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong sách”. Và nữa, trong bài VCTL…, không có một cứ liệu nào chứng minh mà anh viết như đinh đóng cột, không tự biết là mình đang hạ thấp Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư: “Ông (Hoài Thanh) chủ biên và chấp bút toàn bộ cuốn sách (VCVHĐ) sau khi trao đổi kỹ càng với Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư”(!)… Có một bạn văn cứ tiếp tục dấn sâu thêm vào một hướng nghiên cứu rất không bình thường như vậy, tôi thấy cần phải viết bài tiểu luận này, ngõ hầu giúp bạn đọc hiểu bản chất sự tình.

* * *

Phần chính yếu của tác phẩm VCVHĐ(1), từ Lời nói đầu cho đến Kết luận, chữ nghĩa thể hiện sáng rõ, là những tiểu luận của tập thể ba tác giả, trong tất cả 11 bài họ đều xưng danh là chúng tôi. Điều này, bất cứ bạn đọc nào, không cần nghiên cứu, cũng dễ dàng hiểu. Hãy nhìn nhận theo văn bản học: Trong Lời nói đầu, viết rõ: “Chúng tôi chỉ đưa ra trình bày với công chúng những ý nghĩ của một bọn người thành thực và chờ sự phán đoán của thời gian”. Tiểu luận Ý nghĩa đời người viết: “Chúng tôi không thể chịu được cái sống miễn cưỡng như thế. Mục đích rõ rệt và tự nhiên của sự sống, là sự sống”. Trong Ý nghĩa văn chương, câu chữ sáng rõ: “Trái lại, chúng tôi tin rằng cái đẹp tự nhiên đã có ích rồi… Chúng tôi nhất thiết phản đối những tư tưởng phù phiếm”. Tiểu luận Cần phải hành động viết: “Những điều chúng tôi nói ở chương trên (là tiểu luận Nhà văn hoàn toàn- Anh Chi chú thích) không là đúng với số đông... Chúng tôi không muốn dài dòng mô tả cái tủi nhục của dân mình, cảnh cùng khốn của người mình. Trong Nhà báo và nhà văn các tác giả viết: “Chúng tôi vẫn hiểu giá trị những bài báo đó, những tác phẩm nhất thời. Hơn nữa chúng tôi tin rằng trong công cuộc cải tạo xã hội không có những tác phẩm ấy là không xong”. Tiểu luận Thành thực và tự do trong văn chương có câu: “Ngoài ra, lại còn sự kiềm chế của xã hội, chúng tôi muốn nói những dây quan hệ quá chặt chẽ, nó ràng buộc mọi người trong xã hội”. Trong bài Những bài thơ không thành thực, các tác giả viết: “Chúng tôi cũng nghĩ vậy. Một nước mà có bao nhêu người rung đùi làm thơ than việc nước thì không mất sao được?”. Tiểu luận Nội dung và hình thức có đoạn: “Nội dung, theo chúng tôi là những tình, những cảnh, những hình tượng, những âm điệu, tất cả những gì thể hiện thiên tài Nguyễn Du…Nội dung Truyện Kiều chính là văn chương Truyện Kiều”. Trong tiểu luận Một cái họa, tác giả viết như tâm sự với bạn đọc đã đồng hành cùng họ qua từng trang sách: “Bạn đọc đã theo chúng tôi đến đây, chắc thấy rằng chúng tôi đã cho cái tài một địa vị danh dự”. Đến Kết luận, ba tác giả như viết lời tuyên ngôn của họ: “Chúng tôi nhận rằng trước tình thế ngày nay cần phải hành động”…

Qua phần sáng tác của VCVHĐ, ta thấy rất rõ từ những suy tư trước thời cuộc, ý tưởng mỹ học, cho đến xúc cảm và văn phong, đều rất hòa đồng, ba người mà như một. VCVHĐ thể hiện rõ tầm mức văn chương cũng như tình bạn của các nhà văn Lê Tràng Kiều, Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư mà người đời đã biết. Vậy mà, hơn 60 năm sau khi VCVHĐ ra đời, (vì bị mẹ mìn bắt) mới vừa được trở về quê nhà, thì nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện đã làm cái việc nghiên cứu theo kiểu tìm hết cách chứng minh để đi đến khẳng định rằng, chỉ có một người “có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở trong sách”(!). Về việc Nguyễn Ngọc Thiện kể ra 4 bài của riêng Hoài Thanh đăng trên Tao Đàn, chúng tôi sẽ có ý kiến trong phần sau của bài tiểu luận này. Trước tiên, chúng tôi thấy cần nêu vấn đề về nghiên cứu VCVHĐ rằng, liệu có nhà nghiên cứu nào đủ tư cách và tài năng dám đi làm cái việc chia tác giả VCVHĐ thành ba bộ phận, rồi tiến tới khẳng định một bộ phận có thẩm quyền cao nhất về bản quyền bài vở? Tôi chưa biết sẽ có ai dám làm việc đó không; chỉ thấy, có Nguyễn Ngọc Thiện đang làm. Nhưng chúng tôi dám chắc, anh không thể làm nổi, bởi nhận thức có tính chìa khóa của anh lúc bắt tay vào nghiên cứu là lấy riêng một bộ phận tác giả VCVHĐ ra để tôn vinh, đã khiến anh sai lạc trong học thuật đến mức không hiểu được VCVHĐ là một chỉnh thể tác phẩm văn chương có phẩm giá đáng trân trọng trong văn học sử nước ta! Trong tiểu luận Ý nghĩa một đời người, tôi có nhận xét việc làm của Nguyễn Ngọc Thiện đã rất tổn thương đến tình bạn có từ hơn 70 năm trước của Lê Tràng Kiều với Hoài Thanh mà đến nay nhiều người còn biết. Bây giờ, tôi muốn nói đầy đủ hơn, Nguyễn Ngọc Thiện đã làm tổn thương đến tình bạn nổi tiếng trong đời sống văn chương Việt Nam của Lê Tràng Kiêu, Lưu Trọng Lư với Hoài Thanh!

* * *

Qua những gì Nguyễn Ngọc Thiện viết, thấy rõ anh chưa hiểu biết kỹ lưỡng về đời sống của các tác giả VCVHĐ trong đời sống văn chương đương thời. Thấy dưới tên sách VCVHĐ tác giả ghi: “Thay lời tuyên ngôn của văn phái Phương Đông”, Nguyễn Ngọc Thiện hạ bút như không: “Văn phái Phương Đông do các ông thành lập”. Cơ sở nào để khẳng định Văn phái Phương Đông do các tác giả VCVHĐ thành lập? Không ít những câu hỏi cần đặt ra với anh: Văn phái Phương Đông khởi lập thời gian nào? Các thành viên và người đứng đầu? Sinh hoạt ra sao, và tại địa điểm nào?... Cuối thế kỷ trước, tôi được nhà văn Phạm Văn Kỳ, nguyên Thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ năm (TTTN), và nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát, một trong bốn người đã cùng Lê Tràng Kiều sáng lập Ban kịch Hà Nội, đưa đến nơi ngày xưa nhà văn Lê Tràng Kiều làm việc, là Tòa soạn TTTN, ở dãy bên số lẻ, phố Đỗ Hạnh. Hồi 1937, 1938, thảng hoặc dăm bảy tháng, một năm, nhà văn Hoài Thanh dạy học ở miền Trung ra Hà Nội vẫn đến gặp nhà văn Lê Tràng Kiều để cộng tác, đôi khi nghỉ lại tại đây. (Còn từ 1931 đến 1936, Hoài Thanh ở Huế “làm thợ sửa mo-rát cho nhà in Đắc Lập…” - Theo Từ Sơn, báo Văn nghệ Công an 20/4/2009, và Wikipedia mở). Một diện tích nho nhỏ cho cả Tòa báo làm việc, chỗ sinh hoạt cho nhà văn Trúc Đường và nhà thơ Nguyễn Bính, đôi khi cả nhà thơ Trần Huyền Trân, không thể là nơi sinh hoạt của một văn phái nào đó.

Thêm nữa, khi làm chủ nhiệm báo Tân Thiếu niên, ngay trên số 2 (ra ngày 16/2/1935) Lê Tràng Kiều cùng các bạn đồng chí hướng đã đăng thông tin rằng, sẽ công bố về một văn phái sắp ra đời, là “Tân Thiếu niên Văn đoàn”. Không may, sau số 3 (23/2/1935), Tân Thiếu niên đã bị nhà đương cục ra lệnh đình bản (vì đã đăng phóng sự của Vũ Trọng Phụng ca ngợi Ký Con Đoàn Trần Nghiệp). Cuối năm 1935, Lê Tràng Kiều làm chủ nhiệm báo Tiến hóa, và chỉ sau số 3 (7/12/1935), lại bị chính quyền đương thời thu hồi giấy phép. Đầu năm 1936, Lê Tràng Kiều lập Nhà xuất bản Phương Đông. Tác phẩm Văn chương và hành động do Phương Đông xuất bản tháng 5/1936 có ghi dưới tên sách: Thay lời tuyên ngôn của văn phái Phương Đông. Những diễn tiến thực tế đó cho thấy, ý tưởng lập một văn phái đã được Lê Tràng Kiều và các bạn đồng chí hướng nung nấu từ trước tháng 1/1935. Qua bài tự thuật Những phút vinh nhục của nghề báo, đăng trên Hà Nội báo từ số 8 (ngày 26/2/1936) đến số 19 (ngày 13/5/1936), ta biết, những người bạn đồng chí hướng trong nhóm Lê Tràng Kiều gồm Lưu Thần (Lưu Trọng Lư) Vũ Vu (Vũ Trọng Phụng), Ba Huy (Nguyễn Văn Huy) và Huỳnh Cóc (?). Chưa thấy xuất hiện tên Hoài Thanh trong nhóm. Việc lập một văn phái Phương Đông chỉ là ý tưởng mà nhóm Lê Tràng Kiều nung nấu, rất tiếc, chưa thành hiện thực. Cách viết văn, làm báo của Lê Tràng Kiều đã luôn nằm trong “tầm ngắm” của chính quyền thực dân, nên khi xảy ra sự kiện VCVHĐ, họ đã dồn các “tội” cho ông: Từ phóng sự ca ngợi Ký Con Đoàn Trần Nghiệp (một nhà yêu nước trẻ tuổi bị chính quyền đương thời xử tử hình); mục đích chính trị của báo Tiến hóa là “luôn đi bên cạnh những người nghèo khổ, những người bị áp bức”; việc đăng tải tiểu thuyết Giông tố qua mặt cả kiểm duyệt; đến VCVHĐ thì luận rất nhiều về hiện trạng bức bí trong đời sống xã hội, rồi viết như tuyên ngôn, Chúng tôi nhận rằng, trước tình thế ngày nay cần phải hành động. Đương nhiên, chính quyền đương thời coi Lê Tràng Kiều là kẻ cầm đầu nhóm VCVHĐ, và đưa ông ra tòa… Viết những dòng này, tôi nghĩ Nguyễn Ngọc Thiện đọc sách mà không hiểu rõ nghĩa, nghiên cứu mà lại hay đoán. Và tôi bỗng nhớ đến câu ca dao: “Vào rừng chẳng biết lối ra / Thấy cây núc nác ngỡ là vàng tâm…”

Để nhận định về các tác giả VCVHĐ, nhất thiết phải hiểu đời sống của họ trong đời sống văn chương, báo chí từ 1930 đến 1942. Lưu Trọng Lư sinh năm 1912, năm 1932 đã cùng một số người khởi xướng phong trào “Thơ mới”, và sớm nổi tiếng trên văn đàn, không chỉ về thơ mà còn bởi nhiều dịch phẩm, tiểu luận rất nhiệt thành về văn chương - nghệ thuật. Đương thời, Lê Tràng Kiều đã coi ông là nhà thơ đầu tiên gieo hạt giống Thơ mới trên đất Bắc,“một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh…”. Lê Tràng Kiều sinh năm 1912, viết báo từ năm 1931, được chú ý nhiều từ những bài tiểu luận về văn chương trên Văn Học Tạp chí của Dương Tụ Quán và Dương Quảng Hàm. Đầu năm 1935 ông làm chủ nhiệm báo Tân thiếu niên, cuối 1935 là chủ nhiệm báo Tiến Hóa. Đầu năm 1936, là chủ bút tờ Hà Nội báo, Lê Tràng Kiều rất nổi tiếng với loạt bài khẳng định sự thành công mang tính lịch sử của Thơ mới, tham gia tranh luận bảo vệ giá trị của Truyện Kiều; càng nổi tiếng với những tiểu luận theo khuynh hướng Vị nghệ thật, tranh luận với bên Vị nhân sinh(2). Hoài Thanh sinh năm 1909, năm 1930 bắt đầu viết báo. Từ năm 1931 vừa làm nghề sửa bản in cho Nhà in Đắc Lập ở Huế vừa viết bài cộng tác với báo chí. Có thời gian ông làm trợ bút cho Phan Khôi ở báo Tràng An, Huế. Năm 1935, 1936 Hoài Thanh được dư luận chú ý nhiều khi viết các bài với khuynh hướng Vị nghệ thuật tranh luận với các tác giả có khuynh hướng Vị nhân sinh(3). Ba nhà văn này đã nảy nở một tình bạn văn chương, vào năm 1936, họ tiến tới hợp lực viết tác phẩm VCVHĐ. Là bạn đồng chí hướng, tất nhiên cuộc hợp sức hợp tài của ba người là tự nguyện, hơn thế, là chung một lý tưởng sống. Ba ông dốc lòng sáng tác. Đến khâu cuối cùng, “Lê Tràng Kiều hoàn thiện tất cả rồi đưa xuất bản tại Hà Nội”, (nghĩa là Lê Tràng Kiều vừa là người chấp bút, vừa là một tổng tài!). Khi tác phẩm VCVHĐ ra đời, lập tức trở thành một hiện tượng khá đặc biệt về văn chương lý luận của Việt Nam ta nửa đầu thế kỷ XX!

Quả thực, tôi đã rất bất ngờ khi thấy Nguyễn Ngọc Thiện khai thác việc nhà văn Hoài Thanh đem 4 bài tiểu luận trong VCVHĐ ra in trên báo chí khác chỉ một mình Hoài Thanh đứng tên, để tôn vinh Hoài Thanh lên trên Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư. Khi Nguyễn Ngọc Thiện nghiên cứu VCVHĐ, là lúc tôi đang tìm hiểu kỹ về con người và tác phẩm của Lê Tràng Kiều, nên phải đọc lại nhiều thư tịch cũ, trong đó có tạp chí Tao Đàn. Thưa thực với nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện cùng bạn đọc quan tâm, tôi thấy thật bẽ bàng về việc Hoài Thanh chỉ ký mỗi tên mình là tác giả trên 4 bài tiểu luận đó. Bẽ bàng bởi, một cuộc hợp sức hợp tài tự nguyện của ba bạn văn chương đồng chí hướng, hơn thế, là chung một lý tưởng sống; vậy mà chỉ được hơn ba năm, sau khi Lê Tràng Kiều đã phải ra hầu tòa của chính quyền thực dân, Hà Nội báo mà ông là chủ bút bị đình bản, NXB Phương Đông ngừng hoạt động, rồi đúng lúc tờ Tiểu thuyết Thứ năm Lê Tràng Kiều chủ trì đang khốn đốn trước sự đe dọa bị đình bản, thì Hoài Thanh đã hành xử vậy!

Nhưng còn Nguyễn Ngọc Thiện, anh nghĩ thế nào về một tình bạn văn chương như thế, một người tự tách bầy theo cách ấy? Sao anh lại kể lể trong văn nghiên cứu của anh việc bốn bài tiểu luận trong VCVHĐ Hoài Thanh đem in lên báo chí khác như vậy? Đó là một việc đáng quên đi, mà anh còn lôi ra và coi như một thành tích trong nghiên cứu(!). Đôi lúc tôi đã tự hỏi, mục đích nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thiện là gì?... Chưa dừng lại, Nguyễn Ngọc Thiện tiếp tục sưu tầm nghiên cứu theo kiểu rất “lạ”. Một trong bốn bài sau này Hoài Thanh đem in và đứng tên tác giả, là tiểu luận Nội dung và hình thức, khi xuất hiện trên tạp chí Tao Đàn số 6 năm 1939 với cái tên Thế nào là nội dung và hình thức của một tác phẩm văn chương. Bản gốc in trong VCVHĐ năm 1936, trang 50, dòng 6 trên xuống, bài Nội dung và hình thức có chú thích 1: “Chúng tôi bực mình vì đã nhắc đến Truyện Kiều một lần rồi, bây giờ lại phải nhắc đến một lần nữa…”. Trong VCVHĐ do NXB Hội Nhà văn tái bản năm 1999, Nguyễn Ngọc Thiện đã chú thêm dưới bài Nội dung và hình thức: “Bài này đăng lại trên Tao Đàn số 6 - 1939, dưới nhan đề Thế nào là nội dung và hình thức của một tác phẩm văn chương, ký tên Hoài Thanh”. Một “cái ý” Nguyễn Ngọc Thiện “nghiên cứu được” chỉ có thể công bố vào một bài viết nào đó của mình, anh lại đem in cài vào dưới văn bản gốc mà tiền nhân đã xuất bản hơn 60 năm trước và đã rất nổi tiếng(!) Làm cái việc phi khoa học như thế, để làm gì? Chưa hết, đến tập khảo luận Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan sưu tầm, NXB Lao Động ấn hành năm 2002, in bài Nội dung và hình thức ghi Hoài Thanh là tác giả, và cũng bỏ luôn chú thích 1 trong bản gốc, lại bỏ cả cái tên bài mà Hoài Thanh dùng in trên Tao Đàn(!). Có thể nói, cách sưu tầm nghiên cứu của nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện hoặc là do quá thiếu năng lực, hoặc là do cố ý từng bước làm sai lệch văn bản gốc(4). Sự thiếu năng lực có thể học tập, tu luyện thêm để bù lại. Còn sự cố ý từng bước làm sai lệch văn bản gốc là một lỗi rất nặng trong học thuật, nếu không muốn nói là một việc làm phản văn hóa! Vậy mà trong bài viết VCTL… Nguyễn Ngọc thiện còn tự khen mình: “Cho đến hôm nay, sau 15 năm, chúng tôi quan sát trong ngành xuất bản nhận thấy chưa có ai làm sách tái bản công phu, được thể hiện thành công như chúng tôi…”(!)

* * *

Viết bài tiểu luận Ý nghĩa một đời người, tôi đã nghĩ nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện sẽ đọc và hy vọng anh điều chỉnh cách hành xử với nhà văn Lê Tràng Kiều. Nhưng tôi đã thất vọng. Anh viết ngay bài Về các tiểu luận cho là của Lê Tràng Kiều trong VCVHĐ, để trao đổi với tôi. Nhưng, qua nội dung bài viết thì thấy anh chỉ nhằm ứng xử với nhà văn Lê Tràng Kiều, và cách ứng xử của anh vẫn như cũ. Ngay đầu bài VCTL... anh đã coi như không cần để ý gì đến Lưu Trọng Lư, mà nêu vấn đề chỉ cần nghiên cứu để tìm cho ra, Lê Tràng Kiều hay Hoài Thanh là tác giả chủ chốt của VCVHĐ (mặc dù từ 15 năm trước anh đã khẳng định Hoài Thanh là người có thẩm quyền cao nhất về bản quyền rồi). Anh còn làm cái việc khảo chứng, tìm ra một số chữ của Hoài Thanh viết trên báo Tràng An đã xuất hiện ở một bài tiểu luận trong VCVHĐ, rồi coi cả bài tiểu luận đó là do Hoài Thanh viết, chứ không phải là Lê Tràng Kiều viết. Có lẽ, do mục đích gắt gao quá, anh quên mất một lẽ đương nhiên trong đời là, khi người ta đồng chí hướng và hòa đồng với nhau để cùng viết một tác phẩm, thì mỗi cá nhân đều đem vào công việc sáng tạo chung cả lý tưởng văn chương, những kinh nghiệm nếm trải trường đời, vốn liếng ngôn từ, cho đến khả năng văn học.... Nếu Nguyễn Ngọc Thiện thấy vài ba câu chữ của Hoài Thanh trong VCVHĐ, đó là điều rất thường tình. Sao anh không tự hỏi, vô vàn câu chữ khác trong VCVHĐ của ai, từng có trong văn bản nào trước của tác giả nào?... Mục đích quá gắt gao nên Nguyễn Ngọc Thiện đi từ hết cái sai này đến cái sai khác. Đến nay, tôi không hiểu động cơ nào khiến Nguyễn Ngọc Thiện lại thêm một lần nữa làm tổn thương đến những người khả kính như nhà văn Lê Tràng Kiều và nhà thơ Lưu Trọng Lư? Động cơ này, chỉ một mình anh biết!

Nguyễn Ngọc Thiện tìm hết cách khảo chứng một vài câu chữ trong một bài báo của Hoài Thanh để đòi hỏi bản quyền cho ông ở một tập tác phẩm mà người đời hơn 70 năm nay đã coi ông cùng Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư là tác giả tác phẩm đó. Đòi phần quyền lợi cho người đã có quyền lợi đó, đúng là anh vẫn cố làm cái việc đấm bị bông. Tôi đồng thuận với anh rằng, việc khảo chứng câu chữ để làm minh bạch về bản quyền văn chương là rất cần thiết, vậy tôi cũng nêu một việc thấy cần khảo. Nhưng đây là khảo chứng về hai văn bản của hai tác gia khác nhau; không phải chuyện ngờ nghệch là khảo chứng hai văn bản của một tác giả để phân định nửa này hay nửa kia tác giả đã tạo nên nó:

Đoạn văn 1: “Ba năm qua…/ Với thi ca, văn học ta đã bước một bước dài. Một sự may mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện ra bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong dĩ vãng rất bằng phẳng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái./ Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần một tâm hồn/-hùng tráng như Huy Thông,- dồi dào như Thế Lữ,- huyền diệu như Thái Can,- âm thầm như Đông Hồ, - mơ màng như Leiba,- buồn não như Nguyễn Vỹ/ và một tâm hồn đầy âm nhạc đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư??/ Ba năm qua…/ Mà như một thế kỷ đã qua!”

Lê Tràng Kiều: “Thơ mới”, Hà Nội Báo số 14 (8 April 1936)

Đoạn văn 2: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực như Xuân Diệu”

Hoài Thanh, Hoài Chân: “Thi nhân Việt Nam 1932- 1941”, theo bản in do Nguyễn Đức Phiên xuất bản tại Huế năm 1942.

Chỉ đọc, không cần biện luận gì nhiều cũng thấy sự tương đồng về nhận định và về cấu tạo câu văn của hai đoạn văn, một của Lê Tràng Kiều, in năm 1936, một là Hoài Thanh in năm 1942. Trong đoạn văn của Hoài Thanh có cả ý tưởng (nhận định) lẫn cấu tứ (cấu tạo câu văn) của Lê Tràng Kiều. Ông “dùng nó” một cách có sửa chỉnh, nhưng rõ ràng đã không thông tin về việc “dùng nó” từ nguồn nào, đã không hề ghi chú, không đặt trong ngoặc kép hay ngoặc đơn, mặc nhiên để người đọc từ đó đến nay (trên 70 năm) đinh ninh tin rằng đó là sản phẩm tư tưởng và ngôn ngữ của mình(5). Nếu khảo chứng để phân định bản quyền thuộc về ai, sẽ phải nghiêm khắc hơn. Trong tiểu luận Ý nghĩa một đời người, viết về những người khả kính đã qua đời nên tôi chỉ coi đó là việc Hoài Thanh thừa kế trí tuệ, tư tưởng và xúc cảm thẩm mỹ của một người bạn ngay từ năm 1942, khi Lê Tràng Kiều còn sống thêm 35 năm trời nữa!

Viết thêm bài tiểu luận này, vẫn là những gì liên quan đến Lê Tràng Kiều, tôi mong Nguyễn Ngọc Thiện có thể hiểu, việc chúng ta làm, nếu có liên quan đến ông, thì cũng chỉ là làm cho chúng ta thôi. Lê Tràng Kiều đâu còn cảm thấy gì về những ứng xử nơi trần thế!.. Khép lại bài viết, tôi muốn tâm sự với Nguyễn Ngọc Thiện rằng, nếu làm các việc khảo chứng mà không trân trọng văn bản gốc, nghiên cứu mà không nghiêm cẩn và khách quan, sẽ dễ dẫn đến việc khiến hậu thế có thể chỉ được tiếp nhận di sản của quá khứ một cách thiên lệch, méo mó!

                                                                                                                     Việt Hưng, Long Biên, tháng 5 - 2014

 

1 Theo Từ điển Văn học tập 1, NXB Khoa học xã hội, 1983, trang 264: Thoạt tiên đăng Hà Nội báo tác phẩm đã mang tên Giông tố, được 11 số thì đổi tên là Thị Mịch, in thành sách năm 1937 với tên cũ. Theo giáo sư Trần Hữu Tá, trong sách Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999 (Trang 131): “tiểu thuyết Thị Mịch đăng trên Hà Nội báo số đầu, sau khi bị kiểm duyệt hồi bấy giờ cấm, Vũ Trọng Phụng lại viết tiểu thuyết dài Giông tố thế vào. Những nhân vật trong Giông tố cũng vẫn là Nghị Hách, là Thị Mịch… nhân vật trong Thị Mịch cũ. Giông tố sau đó khi in thành sách (do nhà Văn Thanh xuất bản) và trên đầu sách Vũ Trọng Phụng có lời đề tặng Lê Tràng Kiều”. Chúng tôi được nhà Viết kịch Bùi Nguyên Cát và nhà văn Phạm Văn Kỳ kể cho biết việc này từ năm 1996, và thấy khớp với sách của giáo sư Trần Hữu Tá biên soạn.
2 Bốn bài mà Nguyễn Ngọc Thiện coi là của Hoài Thanh, trong đó có bài Nội dung và hình thức, sau này đăng trên tạp chí Tao đàn số 6/ 1939 với nhan đề Thế nào là nội dung và hình thức của một tác phẩm văn chương, ký tên Hoài Thanh. Nhưng, ở sách Văn chương và hành động, trang 50, dòng 6, trên xuống, bài Nội dung và hình thức có chú thích (1): “Chúng tôi bực mình vì đã nhắc đến Truyện Kiều một lần rồi, bây giờ lại phải nhắc đến một lần nữa…”. Chúng tôi cho rằng, ý của chú thích này là nói tới bài Nghệ thuật mà Lê Tràng Kiều viết để bảo vệ giá trị của Truyện Kiều, đã đăng trên Hà Nội báo số 2 năm 1936.
* Bài này đã đăng Tạp chí Sông Hương số 306, ấn hành tháng 8 năm 2014.
1 VCVHĐ có phần tiếp theo là Phụ lục. Chính cái tên Phụ lục mà các tác giả đặt đã cho thấy, đó không phải là sáng tạo văn chương, mà chỉ là để tham khảo thêm. Và tôi cũng nghĩ, đó là những thông tin cho người đọc tham khảo.
2 Sau sự kiện VCVHĐ, Hà Nội báo bị đình bản, Lê Tràng Kiều lại chủ trì báo Tiểu thuyết Thứ năm. Từ 1940 trở đi ông vào miền Nam, là chủ bút của nhiều tờ báo yêu nước và ủng hộ kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, bà con Miền Nam thân mật gọi Lê Tràng Kiều và các bạn ông là Nhóm ký giả kháng chiến.
3 Trong kháng chiến chống Pháp, Hoài Thanh dứt khoát từ bỏ khuynh hướng Nghệ thuật vị nghệ thuật, từ đó tận tâm với khuynh hướng phục vụ công nông binh. Ông trở thành Viện trưởng Viện Văn học, có được nhiều thành đạt và danh vọng cao trong đời sống văn chương Việt Nam.
4 Khi tái bản VCVHĐ, bìa 4 chỉ in mỗi ảnh Hoài Thanh, không có ảnh Lê Tràng Kiều, cũng không có cả ảnh Lưu Trọng Lư. Nguyễn Ngọc Thiện làm thế chẳng phải để lái người đọc theo hướng: Hoài Thanh là người có thẩm quyền cao nhất đối với bản quyền bài vở của VCVHĐ sao?!
5 Chúng tôi có tham khảo bài Bản quyền thuộc về ai của nhà văn Lại Nguyên Ân, báo Văn nghệ trẻ số 39, năm 2004. Một lần nữa, tôi cảm ơn bạn văn Lại Nguyên Ân!

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 07/12/2018

Tin khác

THƠ NGÔ KHATHƠ NGÔ KHA
TIỆC TRỘMTIỆC TRỘM
CHI TIẾT - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRUYỆN NGẮN HAYCHI TIẾT - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRUYỆN NGẮN HAY

Tin mới nhất

NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA
NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA

Độc giả phương Tây và cả độc giả Việt Nam tìm gì và tìm thấy gì ở Diêm Liên Khoa, qua những tác phẩm phơi bày hiện thực ở trạng thái nguyên thô nhất? Ông đã tự kiểm duyệt và nói gì về những tác phẩm văn chương bị kiểm duyệt của mình?

Sách mới

Vết nhơ của người

viết bởi: Nhà xuất bản

Vết nhơ của người
Từng nốt nhạc ngân

viết bởi: Nhà xuất bản

Từng nốt nhạc ngân
Sự cứu rỗi của thánh nữ

viết bởi: Nhà xuất bản

Sự cứu rỗi của thánh nữ