THƠ DƯƠNG KIỀU MINH MANG HƠI XUÂN TỪ NHỮNG CÁNH ĐỒNG

Thơ DKM là một giọng điệu riêng biệt trong dòng chảy thơ cách tân sau 1975…

Viết bởi: Mai Văn Phấn

“Một sớm vắng/ ùa lên khói bếp/ về đây củi lửa ngày xưa...” (DKM)

  “Vừa giấc mơ dịu dàng đậu xuống”, tên bài thơ thứ 240, xếp cuối cùng trong tập thơ “Thơ Dương Kiều Minh” (NXB Hội nhà văn, 2011) như tạm khép lại những giấc mơ  lạ kỳ và tuyệt đẹp của chính nhà thơ. Giấc mơ ấy đã nhiều lần đậu xuống, đánh dấu quá trình vận động, cách tân và những cảm thức lạ lẫm của ông. Thơ DKM là một giọng điệu riêng biệt trong dòng chảy thơ cách tân sau 1975…

“Củi lửa”, tập thơ đầu tay của nhà thơ DKM (NXB Tác phẩm mới, 1989) đã cháy và nổ, sức nóng phả lên đời sống văn học thời điểm này đang khá lạnh lẽo. Đó là tiếng nói biệt lập, tươi non, run rẩy với  nhiều tầng cảm xúc phức hợp, và, như chiếc đầu máy mới xuất xưởng có công suất lớn, “Củi lửa” đủ sức kéo theo những toa tầu chở nặng, và còn nối theo nhiều toa bất tận... Tập thơ là cánh cửa rộng, đột mở, cho bạn đọc ngập tràn ánh sáng một ngày mới, với nhiều ý tưởng bất ngờ, tươi ròng cảm xúc và trong sáng đến nghẹn thở. Tôi từng đọc “Củi lửa” nhiều lần, trong nhiều tâm trạng khác nhau, và luôn bắt gặp ở đó sự thơ ngây mê đắm của nhà thơ trước sự khởi sinh, tái tạo của thế giới. Thiên nhiên và cả con người hiện lên huyền ảo và trong suốt, còn thi sĩ, đang ngơ ngác trở về thuở bé dại, mắt ngỡ ngàng nhìn muôn loài muôn vật với tràn trề xúc cảm. Nổi trội trong “Củi lửa” là sự tinh tế và huyền nhiệm, và đây là cái vị riêng của thi sĩ. Nhà thơ, như một điêu khắc gia tài hoa mà bàn tay chạm khắc chính xác từng chi tiết kỳ ảo và sống động: “Mặt trời lung linh khu vườn mẹ/ Bức tường ánh sáng.../ Điều gì dào lên trong những hạt li ti.” (Hy vọng). Sống và viết, nhà thơ DKM thường chọn cho mình một góc khuất im lặng, quan sát, ghi chép và bình tĩnh chậm rãi kể những câu chuyện đời: chiếc ô tô, ngôi nhà, ô cửa hoa loa kèn đặt liền nhau làm nên hình ảnh một phố đêm dịu dàng: “Chiếc ô tô màu xanh lá cây/ những ngôi nhà màu xanh lá cây/ ô cửa chớp bình hoa loa kèn đỏ” (Thành phố buổi đêm). Bài thơ “Củi lửa” là chớp mắt mở để thức giấc bàng hoàng. Mọi hình ảnh hiện lên trong đó đều ấm nóng như ta vừa được ôm ấp, được chạm tay vào. Và giữa tầng tầng hình ảnh, lớp lớp câu thơ là khoảng trống, một đặc sắc trong thi pháp thơ DKM. Đọc thơ DKM, ta ngỡ như ai đó liệng viên sỏi xuống mặt hồ yên tĩnh, làm sóng nước cứ theo nhau lan đi xa mãi. Hình ảnh “Bên những hoàng hôn loang lổ gò đồi/ mùi lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ/ con về yêu mái rạ cuộc đời” là sự giao thoa giữa hiện thực đời sống và thế giới kỳ ảo, của giấc mơ đang mơ về những giấc mơ khác nữa. Khổ kết của bài thơ thật độc đáo, khi “Một sớm vắng/ ùa lên khói bếp/ về đây củi lửa ngày xưa...”. Hình ảnh “sớm vắng” nhói lên như nốt nhạc cao nhất trong một nhạc phẩm không lời, làm phát sáng, làm âm vang để tất cả diễn tiến hình ảnh cùng đồng hiện rồi chốt lại trong câu cuối: “về đây củi lửa ngày xưa...”.  Bài thơ khép lại nhưng nó tạo liên tiếp những âm thanh vang vọng. Đó là trạng thái sâu lắng của cảm xúc , lôi cuốn người đọc vào thế giới của mặc tưởng trang nghiêm, nuôi dưỡng trạng thái rộng mở, cao khiết của tâm hồn.

Cách viết này được triển khai trong nhiều bài ở những tập thơ giai đoạn sau, tạo nên sự độc đáo trong phong cách thơ DKM. Đó là ban mai trong tiếng ho húng hắng của mẹ, là giọt sương treo trên cành trúc, là bức tranh tương phản giữa đổ nát & thanh xuân có tác dụng thổi lên một sinh khí mãnh liệt: “ấy ngọn lửa bùng dậy/ ngọn lửa cất giữ tháng năm xa cách/ ngọn lửa dìu các triều đại truờn qua đổ nát/ những thời đại thanh xuân”. Đó là cách ông quán tưởng trong khoảng không tĩnh lặng trong bài thơ Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu. Ở đó mỗi hình ảnh sự vật đều mở một không gian riêng. Cả bài thơ như cánh cửa lớn mở ra cho thấy có vô vàn những cánh cửa nhỏ với đan xen những lối đi. Ta lắng nghe nhà thơ DKM gọi hồn sự vật: “số phận giống câu thơ vừa viết xong, bị xoá/ bản nháp bài thơ gió nhấc lên tựa một lá bùa”. Ông như hạt sương trong suốt cứ cố nép, ngấm mãi vào vạn vật, làm cho chúng trở nên trong suốt, mát lành.

Sau tập thơ “Củi lửa”, nhà thơ DKM luôn chú tâm khai triển thi pháp đã minh định trong tập thơ đầu tay. Ở những tập thơ Dâng mẹ, Những thời đại thanh xuân, Ngày xuống núi, Tựa cửa..., ông vẫn giữ được giọng nói trong trẻo, thơ ngây ban đầu. Sau này, ông thế dần vào đó tâm trạng tỉnh táo đầy chiêm nghiệm thế sự. DKM phần lớn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của thơ ca phương Đông kim cổ, thường mượn thiên nhiên, cảnh vật để nói về cái hữu hạn, mong manh chìm nổi của kiếp người. Ánh sáng của văn hóa, triết học phương Đông, đặc biệt của thi ca, càng sáng tỏ trong những giai đoạn sau này của DKM, từ tập thơ Tôi ngắm mãi những ngày thu tận đến tập thơ Khúc chuyển mùa. Ông nặng lòng vương vấn với những thi liệu quen thuộc của thơ ca phương Đông nhưng biết mở những chiều kích bất ngờ của liên tưởng và suy niệm trong thi tứ, chữ của ông bình dị nhưng có sức ám ảnh, và đôi khi, biểu lộ sự quẩn quanh phức rối của cảm xúc. Tôi chợt hình dung hình ảnh một kẻ sĩ thời hiện đại đang tự vấn  bằng giọng trầm, đều đều… cất lên trong quầng sáng lung linh và thanh sạch.

Khác với tập thơ đầu tay, nhiều hình ảnh dung dị trong thơ DKM sau này được nhìn bằng hệ quy chiếu khác. Tập thơ Khúc chuyển mùa là ngôi nhà thơ của DKM sau chuyến du hành trở về. Ở đây, ta gặp lại sự trẻ trung và điềm đạm, sâu sắc và thơ mộng: “Lô xô những quãng đời/ Dựng men theo bờ nước/ Giật mình cơn mơ đêm trước/ Hiện về tuổi trẻ của ai” (Chúng tôi gặp nhau ở bên kia hồ nước). Cánh cửa một “mùa xuân chín” đã mở ra trước mắt nhà thơ DKM bằng âm điệu và hình ảnh mới, bền bỉ, với nguồn năng lượng thấm sâu tỏa rộng hơn. Thơ văn xuôi, có thể nói là một thế mạnh của DKM. Sực nhớ núi đồi là một trong những bài thơ văn xuôi đầu tiên tiêu biểu của ông, ở đây, đã hiện lộ nét ung dung, tự tại, cảm xúc tươi non đã được kiềm chế lại. Mạch thơ trải rộng, câu thơ được kéo dãn với góc quan sát rộng, giàu liên tưởng. “Tôi chợt nhớ núi đồi những đêm tĩnh lặng trong trẻo, ngôi sao xanh ánh sáng bị làn hơi ẩm tách ra thành nhiều sợi tinh khiết…”. Những hình ảnh trong bài dung dị, có lúc như sao chép lại chi tiết của đời sống nhưng vẫn đậm tình cảm riêng biệt của nhà thơ. Bài thơ này đánh dấu sự chuyển biến trong thi pháp thơ DKM. Thơ văn xuôi của DKM ngày càng vạm vỡ, tung tẩy hơn và đó là “cốt cách” phong vận của ông. Nhiều bài thơ như cơn gió lớn thổi mạnh trên cánh đồng bất tận. Không gian trong thơ văn xuôi DKM là những hình khối, những quần thể tượng đài độc đáo, gợi ta nhớ tới những biến tấu từ 7 mô-đun của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, mang đậm phong vị và triết lý phương Đông; bí ẩn, dựng lên bức tường cao ngất, tiếp nối, dọc ngang, gây sự choáng ngợp. Nhiều hình ảnh vừa mới thoáng hiện đã nhanh chóng lồng ghép với những hình ảnh khác lớn hơn, dị biệt hơn. Chiếc lá sen khô trong câu thơ sau mang một vẻ đẹp của nhiều trạng thái cảm giác, mở ra cho bạn đọc liên tưởng khác về thiên nhiên, đời sống: “Sự kiêu hãnh giờ chỉ còn dấu vết kỷ vật. Những chiếc lá sen khô đội mưa tìm lại mùa thu đầm Vạc. Những âm thanh trong trẻo vang động đâu đó trong trời đất ngân trên cây thiên cầm thuở ấy.” (Những chiếc lá sen khô). Khác với những nhà thơ cùng thế hệ, nhà thơ DKM thường chủ ý làm cho những chuyển động của thi ảnh chậm lại so với quy luật thông thường. Trong khi đó, những nhà thơ trẻ cách tân khác thường đẩy tốc độ hình ảnh đi nhanh hơn, bằng cách cắt ngang hình ảnh, tạo khoảng cách lớn, quan sát nhanh, làm phân rã, đột ngột thay đổi quy luật… Nhịp điệu được tiết chế chậm lại trong thơ DKM tạo một hiệu ứng khác biệt. Nó diễn tả một thái độ sống, thái độ ứng xử trước nhân thế, cho ta thấy được tâm trạng lưỡng lự của một người vừa yêu vừa chán ngán sự đời. “Ngang cõi nhân gian huyền ảo cô lạnh, kia ai cầm ngọn lửa phất qua…”(Ghi ở buổi cuối năm). Bàn tay ai cầm ngọn lửa phất qua cho thấy thái độ vừa chằm bặp vừa lơ đãng, vừa trách nhiệm vừa buông bỏ, thờ ơ trong biến ảo khôn lường của đời sống thực tại… Với cách viết “kìm nén” này, nhà thơ DKM đã viết nên nhiều bài thơ văn xuôi thành công.

Hình ảnh người mẹ luôn tỏa sáng suốt các tập thơ của nhà thơ DKM, là biểu tượng của nguồn cội, nơi nhà thơ nương tựa lúc cô đơn, nơi cố hương tiễn biệt và nơi để quay về. Hầu như bất cứ câu thơ nào nhắc tới mẹ, mơ hồ chạm hình bóng mẹ, đều vang lên trong tâm hồn nhà thơ tiếng chuông cầu nguyện, niềm khắc khoải khôn nguôi, nỗi nhớ quay quắt, da diết… Một vệt nước trên tán lá, một tiếng hát và bước chân, tiếng mẹ gọi trong chiều khói lam là những giấc mơ dịu dàng…Chiếc giày trên lớp lá thu trong câu thơ sau diễn tả tâm trạng hụt hẫng, phi lý, lẻ loi, cô độc của nhà thơ bên phần mộ mẹ: “Trên cánh đồng mẹ nằm cô quạnh/ mẹ hằng mong tôi khôn lớn một ngày./ Đâu đó bên hàng song thụ/ trên lớp lá thu còn một chiếc giày…“ (Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu). Tình cảm ấy lúc như tơ nhện giăng trên mặt hoa mỗi sớm “ổ mầm đậu hòa lan mẹ ủ lên mỗi sớm/ Có mùi sương mùi nước/ tuổi thơ ăm ắp buồn” (Bướm trắng);  bóng mẹ hiện về ấm áp, bao dung: “Mẹ chẳng trách. Mẹ lần lần run rẩy/ nghe tiếng tôi thốt lên phía hiên nhà…” (Bên những sợi tơ ánh sáng). Từ tập thơ Tôi ngắm mãi những ngày thu tận, những nỗi đau bệnh tật được nhắc tới càng đẩy ông vào cô quạnh. Trong cơn lẻ loi ấy, ông thường cất tiếng gọi mẹ; tiếng gọi ngắt quãng, bập bẹ thơ ngây như thuở còn trong vòng tay âu yếm của Người: “Mẹ ơi, mùa xuân gấp gấp, con nghe thấy ngõ quê tinh khôi rải ướt xốn xang bước chân thôn nữ gánh nước ngày cuối năm, cây đào trụi lá nở những bông hoa đầu tiên, hơi xuân tràn về từ những cánh đồng.” (Mẹ ơi, mùa xuân gấp gấp).

Những bài thơ cuối tập thơ “Thơ Dương Kiều Minh” đã mở thêm những chiều kích khác trong suy tưởng và cảm xúc, là sự tìm đến/ trở về của nhà thơ với vẻ đẹp giản dị và hiện đại. … Hơi xuân tràn về từ những cánh đồng… Câu thơ ấy như ánh sáng luôn soi chiếu suốt lộ trình thơ ca DKM, là đích đến phía chân mây, là “nhân đức tin” cho ông vượt qua mọi thử thách, khó khăn để gặt hái những thành công ngoài mong đợi. DKM cùng với các nhà thơ cùng thế hệ đã làm cuộc “vượt thoát” ngoạn mục, tạo nên một khuynh hướng thơ sau 1975, góp phần quan trọng vào cuộc cách tân thơ Việt trong những thập niên qua. Tôi chọn câu thơ trong bài Tự sự bên mùa của nhà thơ DKM để kết thúc bài viết, như một lời cầu chúc nhà thơ vững tin vượt qua cơn hiểm nghèo “Tỉnh dậy, đã đầu hạ/ âm nhạc reo vang những con đường rộng thênh xa hút ngang qua những nẻo quê…”./.

                                                                                                                                   Hải Phòng, 19/3/2012

                                                                                                                                               MVP.

 

 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 16/08/2018

Tin khác

NHÀ THƠ THANH THẢONHÀ THƠ THANH THẢO
CHÂN DUNG NHÀ VĂN LÊ MINH KHUÊ QUA NGÒI BÚT VÀ CÂY CỌ CỦA KEVIN BOWENCHÂN DUNG NHÀ VĂN LÊ MINH KHUÊ QUA NGÒI BÚT VÀ CÂY CỌ CỦA KEVIN BOWEN
CHÂN DUNG NHÀ VĂN LÝ LAN QUA NGÒI BÚT VÀ CÂY CỌ CỦA KEVIN BOWENCHÂN DUNG NHÀ VĂN LÝ LAN QUA NGÒI BÚT VÀ CÂY CỌ CỦA KEVIN BOWEN

Tin mới nhất

CÀ CUỐNG
CÀ CUỐNG

Cà cuống, một con vật ẩn mình dưới bùn đen, lại vừa là biểu tượng, vừa là hiện thân của những triết lý sâu sắc. Cái biểu tượng của triết lý chính là khi chết, khi bị đốt thành tro than cà cuống mới càng cay ...

Sách mới

Ngược dòng

viết bởi: Trần Quang Quý

Ngược dòng
Khu vườn đêm của Tom

viết bởi: Nhà xuất bản

Khu vườn đêm của Tom
Cửa sổ hình tia chớp

viết bởi: Nhà xuất bản

Cửa sổ hình tia chớp