NHÀ VĂN TRẦN NHÃ THỤY

Có cảm giác Trần Nhã Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đón nhận nhiều kiểu văn chương khác nhau và khác mình, mà cũng không cần nóng nảy luống cuống tìm bằng được những cách thức làm mới. Văn chương anh đáng được mến yêu và thưởng thức.

Viết bởi: Mai Sơn, Nhã Thuyên

  MỖI NHÂN VẬT LÀ MỘT ĐỨT GÃY TUYỆT ĐỐI

Văn chương không cần phải là những công trình đúc kết về mặt tâm lý học, triết học của một hay vài ba con người. Trần Nhã Thụy không thực sự muốn làm việc đó, hoặc nếu anh thành thật: “Thật khó lòng mà đúc kết được.” Sự thấp thoáng của một người lạ, một người chợt đến chợt đi, chẳng phải là điều ám ảnh của văn chương sao? Tất cả những gì đại diện cho một người là cách xuất hiện của người ấy trước cuộc đời, không còn gì khác, không cần gì khác. Đó là sự tối giản của con người, và những nét nắm bắt gần như phác họa đó là cả một nghệ thuật của nhà văn viết truyện ngắn. Quả thật, chẳng phải cả cuộc đời mỗi người chúng ta cũng chỉ thu gọn vào trong dăm bảy động tác thường nhật sao? Và sự khác biệt của mỗi người không dễ gì phát hiện được, khi chưa có con mắt quan sát của nhà văn.

Trong truyện ngắn Người pê-đê già, tác giả chỉ giới thiệu vài cử chỉ, trang phục, dáng vẻ bề ngoài của nhân vật: Nhỏ bé, mảnh mai, và có một vẻ gì đó  như bồn chồn, mong đợi. Ông ta mặc quần vải thô, loại có dây rút; chiếc may-ô trắng ôm sát người; tóc ướt như vừa tắm xong; và mùi nước hoa thoang thoảng - ông ta cũng không lên tiếng nói một câu nào, nhưng sao ta vẫn cảm thấy đã biết hết về con người đơn độc này, để khi ông biến mất đột ngột, ta thấy rõ một khoảng trống vắng loang rộng trong đêm nơi mố cầu và trong lòng ta.

Phong trong truyện ngắn Chết lúc 9 giờ sáng còn mơ hồ hơn nữa. Ta thu nhận được gì về anh ta ngoài thông tin anh ta là một nhà thơ? Và tác giả có vẻ như muốn chơi khăm chúng ta. Tưởng chừng nhân vật là một nhà thơ, thì chắc hẳn đằng sau anh ta là cả một thăm thẳm tâm hồn, và chứa chan trí tuệ. Nhưng không. Ngay cả một bài thơ cũng không có. Và anh ta chết là mang theo về bên kia tất cả bí mật của đời anh. (Là tôi đoán vậy với tư cách một độc giả có chút méo mó nghề văn; biết đâu chả có bí mật gì). Những gì chúng ta đọc được sau cái chết của anh ta đều là những thông tin linh tinh, những câu chuyện lu bu, tất cả đều vô nghĩa. Mỗi người là một đứt gãy tuyệt đối, một dở dang vĩnh cửu. Những cố gắng khôi phục cho đầy đủ diện mạo bản chất một con người đều là công dã tràng, đều là những khái quát máy móc, vội vã và cao đạo một cách lố bịch, không thể đem lại chút ánh sáng nào cho cái ốc đảo tối mịt của mỗi người.

Trần Nhã Thụy dẫn dụ người đọc đi theo những lối nhỏ bất ngờ, và vừa khi chớm đến đại lộ của một hiện thực rộng lớn thì nhà văn rời bỏ chúng ta, câu chuyện kết thúc, để ta giữa hai chọn lựa: hoặc đi tới trước, đi thẳng vào một phương diện xã hội học mà tìm hiểu và phát hiện; hoặc đứng đó hồi nhớ lại một phương diện mỹ học của cuộc đời. Cách nào thì chúng ta cũng thấy thú vị và cách nào cũng đem đến cho ta ít nhiều gặt hái.

Với phương diện thứ hai này, mỗi truyện ngắn của Trần Nhã Thụy tiết lộ một bí mật quan trọng đại diện cho cách thế “ở đời” của nhân vật. Đó có thể là khoảnh khắc anh chàng ngồi ôm tấm kính đằng sau xe máy, bất chợt nhìn thấy cuộc sống vừa xa lạ, đa tạp, vừa như một thách thức soi chiếu vào đó, nhưng không việc gì phải trầm trọng hóa nó lên, không việc gì phải hoảng sợ nó. Anh chỉ hơi lo buồn một chút, nhưng với góc nhìn oái oăm đó, anh nắm bắt cuộc sống, và đó cũng là cách riêng để anh xuất hiện sinh động giữa trùng vây khó khăn. Tương tự, nếu không có “chàng trẻ măng ở phố treo đầu” nằm dài trên chiếc xe máy, ngửa mặt nhìn lên, thì những đám mây đang bay lên trời kia…không có lý do gì tồn tại. Giữa phố xá chật chội, anh vẫn tìm cho mình một chỗ nằm để…chiếm hữu bầu trời. Và nếu không có anh chàng xe ôm thèm hôn đến thẫn thờ buổi sáng hôm ấy, thì liệu có còn ai nghĩ tới giá trị thực sự của một nụ hôn yêu đương giữa đời sống xô bồ này?

Với những truyện ngắn và thế giới nhân vật của Trần Nhã Thụy, cuộc sống đang được khôi phục lại từ một trong những nguyên liệu ban sơ mà thiết yếu nhất, đó là tính tự khởi (spontaneity) giản dị của mỗi người – nguồn mạch thực sự của cuộc sống lành mạnh, chứ không phải những cấu trúc phức hợp của xã hội hiện đại, là thứ về bản chất chỉ chực chờ nuốt chửng nhân tính. 

Đó là khám phá sáng tạo, cái làm nên nét độc đáo của truyện ngắn Trần Nhã Thụy.

                                                                                                                            M.S

 

CHỐNG GIẢ CÁCH TÂN

 Trần Nhã Thụy có một kiểu viết tưởng không khó đọc, nhưng lại kén độc giả, đúng hơn là “kén tâm trạng đọc” của độc giả. Một kiểu viết không đập ngay vào trí não từ những chữ đầu tiên, không làm sửng sốt, thán phục ngay, không khiêu khích, lại cần đọc chậm và kĩ,  đôi lúc đọc cũng muốn “sốt ruột”.

    Mấy năm trước, quả tôi không có tâm trạng đọc kiểu văn chương chậm rãi như thế. Những người viết trẻ thường thích những vẻ dị biệt, càng dị biệt, quái, lạ càng dễ làm họ phấn khích.

    Thật lâu sau tôi mới đọc văn chương Trần Nhã Thụy, cả truyện ngắn, cả tản văn, như một thứ quà tặng của thưởng thức. Lần đầu đọc “Băng đầu trọc” (trong tập truyện ngắn Mùi), tôi có cảm giác về sự “phát hiện” một tác giả. Tôi khoái cái đầu trọc của thằng nhỏ chìa ra ngoài trời mưa, cái tông đơ của gã thợ hớt tóc lướt trên đầu mà mỗi lướt đi như một “cú thoát” nhẹ bỗng.  Khi không đợi được ngạc nhiên, tôi lại được ngạc nhiên.  Tôi nghĩ một nhà văn có thể cho ra đời những cuốn sách không thật khác trước, mà vẫn đáng được đón nhận.

***

    Tôi yêu vẻ âm u, chất mơ mộng thầm kín, nỗi sầu muộn cố hữu mà không cảm thương, những hoài niệm tuổi thơ và tuổi trẻ không dứt song hành với niềm yêu mến và cái cười mỉm với hiện tại chìm lắng nơi trang văn Trần Nhã Thụy, như là một thứ linh hồn của câu chữ, như là bản tính con người muôn thuở nơi ta được giữ lại trong đó. Giá chúng biểu hiện ra đôi lúc vụng về hơn, bồng bột hơn, có lẽ tôi sẽ nhớ thương chúng hơn.  Có thể có cảm giác là Trần Nhã Thụy hơi mơ hồ, không “ráo riết” tận cùng, không có vẻ dấn thân quyết liệt, cả dáng vẻ những cuốn sách cũng… lặng lặng lẽ lẽ. Nhưng cái vẻ lành hiền phủ lên trên văn chương Trần Nhã Thụy, ở khía cạnh nào đó, tiết lộ lòng “yếu đuối” nghệ sĩ trước những khoảnh khắc được phát hiện bất ngờ trong đời sống, thường gặp ở những kẻ mơ mộng về một tình yêu rất lâu và rất sâu những cái đẹp trừu tượng vốn quyến rũ những tâm hồn trẻ; văn chương của những kẻ mơ mộng thường không thời thượng, hay là ngay cả khi thời thế đổi thay, người này người kia giẫy mình lột xác, thì kẻ đó, dù cũng quẫy đạp, cũng bức bối nhưng lại không nỡ bỏ đi cái mộng mơ thầm kín vốn dĩ của bản tính mình. 

    Tôi nghĩ rằng phải rất kĩ lưỡng với chính mình thì mới có thể sống lơ đãng mà giàu có. Cũng vậy, phải ăn nằm với văn chương đến mức đá vàng thì những nguồn sống ấy mới trôi chảy được trong cái vẻ tự nhiên của câu văn. Đó dường như là cách Trần Nhã Thụy tìm mình trong khi tìm đến cái “tự tính” của đời sống.

***

    Truyện ngắn chắc chắn là một trong những thể loại thách thức. Một người đọc  sẽ dễ dàng nhận ra một truyện ngắn – giả mạo, một thứ giả danh truyện ngắn, hay một cách gọi tên nào đó tương tự. Tôi nghĩ, tiểu thuyết dễ mạo danh/ngộ nhận hơn và có thể dễ được chấp nhận hơn. Người đọc dư sức đọc chơi chơi một tiểu thuyết dài, nhưng chưa chắc đã vượt qua được nỗi ngại đọc một truyện ngắn vài nghìn từ, thậm chí vài trăm từ. Vậy thì cái bí mật của truyện ngắn nằm ở đâu? Khi tôi  đọc lại những truyện ngắn/cực ngắn đã viết khá “hồn nhiên” của mình, hay nhớ lại sự khó nhọc để cho ra đời một mẩu ngắn mấy chục chữ hay nghìn chữ, tôi đã phải nghĩ về câu hỏi đó thường trực hơn, để bận tâm hơn về bút pháp, hay “nghệ thuật viết”.  Tôi đi đến kết luận: mỗi người viết truyện ngắn phải tìm ra một bí mật của riêng mình, phù hợp với cái tạng viết của mình.  Ở văn phong.  Ở ngôn ngữ.  Ở cách kết cấu. Ở vùng chủ đề ám ảnh. Ở câu chữ. Ở các dấu câu. Vân vân. Ở tất cả những gì có thể. Nó là thể loại tuyệt đối tự do, mời gọi, và đầy thách thức.

    Tôi tin Trần Nhã Thụy đã tìm ra một thứ bí mật của riêng mình khi viết truyện ngắn. Anh kể cứ như không những chuyện thường tình có, bất thường có, sắp đặt có, vu vơ có. Những câu chuyện tự nó như trăng chảy trên đồng cỏ, lênh láng mà vẫn nguyên vẹn, tan loãng mà không tan biến mất. Ở đấy, cái thực, rất thực, rất đời thường lại trở nên phi thực, ảo ảnh, dù ngôn ngữ và câu chuyện của Trần Nhã Thụy không đi sâu vào thế giới ẩn ức, cũng không chủ ý tạo dựng cái phi thực, cái siêu nhiên. Cái không khí hư thực đó không dễ cảm, dễ phân tích ra, chỉ có lúc nào đó tự nhiên ta chuồi vào, bồng bềnh không ngờ. Như khi lạc vào một bài Đường thi đầy sương, khói, lửa đèn, tiếng chuông mà vắng người, dù người vẫn đâu đó, nhưng là bài Đường thi “hiện đại”,thường mang theo nỗi hoảng hốt bất an về kiếp người và những cú chém ngẫu nhiên của định mệnh dưới “những cơn mưa tầm tã”… Cái chất “ảo” mà không ”diệu” đó, tôi nghĩ, nó thoát bay ra từ bản tính tâm hồn của một kẻ hay chú ý vào cái tiểu tiết, kẻ có thể nhìn thấy bầu trời trong giọt nước, thấy hình Mị Nương dưới đáy chén trà, thấy trời lộn ngược. Do đó, nhân vật của Trần Nhã Thụy không phải là những “mẫu hình”, cũng không phải những biểu tượng mà giống như các phát hiện hư thực về đời sống thường nhật: chàng bán mía thành người nghệ sĩ thực thụ, anh chàng trẻ măng nằm dài trên xe máy sở hữu cả một góc trời riêng, gã đàn ông dành hàng giờ để đèo con đạp xe lòng vòng và vui với mấy thứ rau càng cua mọc dại nơi sắp mọc lên những biệt thự khang trang, một tay nhà văn phải lòng và chung sống với một cô nàng vì “cái rổ quýt vàng ươm rất đẹp”, mất nàng vì cái tật đặt sách lên bụng hàng đêm và lại có lại được nàng khi quấn quit da thịt nhau trên cỏ thơm trong tiếng cá quẫy vào mặt nước đen thẫm đâu đó khi những kẻ câu đêm như biến mất hoàn toàn… Truyện ngắn Trần Nhã Thụy thường ghim vào người đọc một chi tiết, một cảm giác. Dù có câu chuyện, và nhiều khi câu chuyện khá dài dòng, thì (may sao) chúng cũng dễ dàng tan loãng đi cùng với chữ nghĩa, hay lui xuống bình diện quan trọng thứ mấy, thứ mấy…

    Luôn có thật ít ỏi những kẻ tìm đường thực sự (dù thất bại hay thành công). Bao nhiêu từ ngữ đầy mới mẻ, khơi gợi và kích thích, như các kĩ thuật, những trò chơi ngôn ngữ, hậu hiện đại… nhanh chóng (có lẽ bị chính cộng đồng viết và đọc) biến thành những chiếc áo bạc màu xấu xí, xơ xác, hay mang vẻ lấp lánh hời hợt. Đu mình vào các khái niệm công cụ thì sẽ chỉ là là bay hoặc bị dúi xuống, chứ rất khó lên cao. Mặc dù yêu chuộng mọi kiếm tìm, tôi đôi lúc lại chỉ muốn xướng to lên (với tôi là một thói không thật hay): chống-cách tân, anti-cách tân, ngừng cách tân, thà như một kẻ bảo thủ tuyệt đối, một con ếch khư khư sung sướng với bầu trời miệng giếng của mình. Bởi tôi nghe thấy nhiều tiếng còi báo động giả về cách tân trong văn học Việt.

    Có cảm giác Trần Nhã Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đón nhận nhiều kiểu văn chương khác nhau và khác mình, mà cũng không cần nóng nảy luống cuống tìm bằng được những cách thức làm mới. Văn chương anh đáng được mến yêu và thưởng thức.

                                                                                                                                N.T

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 24/08/2018

Tin khác

THƠ DƯƠNG KIỀU MINH MANG HƠI XUÂN TỪ NHỮNG CÁNH ĐỒNGTHƠ DƯƠNG KIỀU MINH MANG HƠI XUÂN TỪ NHỮNG CÁNH ĐỒNG
NHÀ THƠ THANH THẢONHÀ THƠ THANH THẢO
CHÂN DUNG NHÀ VĂN LÊ MINH KHUÊ QUA NGÒI BÚT VÀ CÂY CỌ CỦA KEVIN BOWENCHÂN DUNG NHÀ VĂN LÊ MINH KHUÊ QUA NGÒI BÚT VÀ CÂY CỌ CỦA KEVIN BOWEN

Tin mới nhất

NGƯỜI THỔI SÁO MÙ
NGƯỜI THỔI SÁO MÙ

Tôi chỉ biết tôi đã nhận một ân hưởng lớn lao từ mênh mông vũ trụ này. Ân hưởng đó đến từ mặt đất mà tôi đang đặt hai chân mình ở đó với quá nhiều bóng tối bủa vây...

Sách mới

Giai Hà Nội lặn lội LonDon

viết bởi: Nhà xuất bản

Giai Hà Nội lặn lội LonDon
Ta còn em

viết bởi: Nhà xuất bản

Ta còn em
Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam

viết bởi: PGS.TS.Hồ Thế Hà

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam