NHÀ THƠ NGUYỄN XUÂN THÂM

Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm (Bút danh Dao Ca, Đỗ Hữu) sinh 11/01/1936 tại Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Ngay từ tuổi thơ ông đã phải sớm ly quê.

Viết bởi: Nhà xuất bản

Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm (Bút danh Dao Ca, Đỗ Hữu) sinh 11/01/1936 tại Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Ngay từ tuổi thơ ông đã phải sớm ly quê. Năm 1937 vào Phú Yên, mười tuổi trở về Huế, mười tám tuổi lên chiến khu Hòa Mỹ, năm 1954 ra Nghệ An học trường Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1956, ông đỗ vào khóa I, Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ông là Phó Tiến sĩ khoa học, Phó giáo sư, dạy học ở Đại học Bách Khoa Hà Nội, đi làm chuyên gia giáo dục ở Ăng-gô-la (1989 - 1993) và hiện đang sinh sống ở Hà Nội.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm

Nguyễn Xuân Thâm đến với thơ ca khá sớm. Năm 1951, khi mới mười lăm tuổi, đang học ở trường Quốc học Huế, ông đã có thơ in trong giai phẩm Nhân loại do thi sỹ Đông Hồ và Mộng Tuyết chủ biên, với bút danh Dao Ca, Đỗ Hữu; in thơ ở báo Đời mới và Thẩm mỹ. Ngay giai đoạn khởi đầu thi nghiệp này, người ta đã thấy ở ông phảng phất những câu thơ tài hoa, thi sĩ. Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, thơ Nguyễn Xuân Thâm xuất hiện khá đều đặn trên các phương tiện truyền thông, xuất bản, như một bước chuyển mới trong cảm xúc sáng tác của ông, rất được bạn đọc chú ý, được thi sĩ tiền bối Chế Lan Viên khen ngợi về tài thơ, cùng lứa với nhiều nhà thơ trẻ lúc đó: Thái Giang, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Phạm Ngọc Cảnh, Văn Thảo Nguyên, Hoài Anh…

Vừa dạy học vừa làm thơ, bươn trải xứ người và làm thơ, có nhiều năm chiến đấu với cơn bạo bệnh tưởng không thể qua khỏi nhưng vẫn dồn tâm huyết cho thơ. Thơ như hồi sinh ông, đền đáp cho tài năng, sự kiên nhẫn, những trải nghiệm và niềm đau đáu chữ ấy những giá trị tinh thần, được minh chứng bằng giải Nhất thơ báo Lao Động (1973), bài thơ Đảo con gián; giải B (không có giải A), tập thơ thiếu nhi Con gà đất bảy màu (Kim Đồng). Đặc biệt, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, tập thơ Tìm trầm (2002). Đây là tập thơ viết trong lúc mang bệnh hiểm nghèo, với niềm khao khát sống, những nghiệm sinh sâu sắc về cuộc đời.

Cho đến bây giờ, Nguyễn Xuân Thâm vẫn lặng lẽ viết, và ông là một trong số ít các nhà thơ ở thế hệ ông viết vẫn không bị cũ mòn. Tuyển thơ Nguyễn Xuân Thâm  được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 2014 này, được tuyển chọn từ 8 phần, tập thơ đã xuất bản của ông: Mấy bài thơ tìm thấy lại (1953), Đồng xanh (Văn học, 1964), Tiếng ong bay (Văn học, 1972), Nắng bên sông (Tác phẩm mới, 1987), Tìm trầm (Hội Nhà văn, 2001), phần thơ Chưa vào tập, Con gà đất bảy màu (Kim Đồng, 1996).

 

Chiều Việt Bắc

 

 Nắng xuống phương nào người thấy không

Mà đây chiều tím rụng song song

Vàng tuôn mấy lối ngày thu muộn

Ai liệm hoàng hôn dưới đáy sông

 

Khói thuốc lên mờ xanh bóng ai

Phương xa chiều xuống ngút sông dài

Đường kia có phải sầu xưa đọng

Trở bước, hoa lau trắng ngập đồi

 

Con đường đất đỏ mờ sau bản

Thung lũng vàng lơ, nắng trở chiều

Núi biếc chập chùng vây ái lạnh

Dặm về lá đổ, phấn tàn xiêu.

 

Rừng núi âm u chiều Việt Bắc

Chầy ngày lạc bước ai ngồi than

Buồn xưa chiều đọng ngàn lau lách

Chòi cũ nằm nghe gió dặm trường.

 

1953


 

Nắng ngút đường dài

 

 

Nắng ngút đường dài, hoa gạo bay

Rừng sâu mấy bữa lạc sau ngày

Đường xa nắng lửa chiều hun hút

Quán đứng lưng đèo núi tiếp mây

 

Thác đá sầu buông đường nắng trở

Lưng trời khép chặt, những rừng cây

Đèo cao gió thổi, chòi heo hút

Dặm cũ chiều đi thương nhớ đầy

 

Nắng đổ tràn lên đường lối cũ

Đường dài hoa gạo đỏ rưng rưng

Lá chàm bay lả trên vai rách

Áo bạc hồng lên lớp bụi rừng

 

Có phải hồn ngày trong núi thẳm

Rừng xanh lá đổ lối mờ tuôn

Đìu hiu khói cỏ chiều ai đốt

Ngày dựng cô liêu giữa xứ buồn

 

1953


 

Lao Bảo

 

Lao Bảo

Trăm năm gió thổi lưu đày

Đèo nghiêng quán nhạt 

Hốc núi mộ tù xây

Dưới chân thép bén

Lưng đèo một trời mây

Man thiêng xứ núi

Vàng vọt nắng chiều rây

Rừng nghiêm thác lạnh

Xơ xác chòi gió lay

Cơm thiu nước suối

Sương nắng mùi đắng cay

Đầu kê đá núi

Lưng còng phơi nắng gay

Roi gai xiềng sắt

Rú rậm chừng bỏ thây

Buồn ơi chất ngất

Gió loạn đùa tóc mây

Đêm đêm thác đổ

Ai nằm nghe lá bay.

 

1953


 

 Ông lão với cây đèn biển

 

 Ông gác đèn tuổi sáu mươi

Một mình sống bên cây đèn biển

Hai chiếc bóng âm thầm đảo vắng

Đêm cùng nghe sấm động chân trời.

 

Như hai kẻ phải đi xa tổ quốc

Đêm gối sóng gửi hồn về mảnh đất.

Mặt biển xao con cá quẫy ngang đầu

Hai tâm hồn trăn trở mãi bên nhau.


 

 Cuộc sống nơi đây tưởng chừng heo hút

Chỉ có sóng và trời xanh bát ngát,

Bướm khó lạc về, chim mỏi cánh qua

Nhưng ánh đèn ánh mắt ấm bao la.

 

Tàu đến, tàu đi sóng dội chân đèn

Sóng cũng dội vào lòng ông lão

Hai chiếc bóng đổ dài ra khỏi đảo

Giử tâm tình theo đến bến chưa quen.

 

Năm tháng sống treo trên đầu sóng bạc

Người với đèn càng khăng khít nhau hơn,

Im ắng dẫu bủa vây trên đảo cát

Hai tâm hồn vẫn dào dạt nước triều lên.

 

1962


 

Nỗi nhớ của những người đánh cá

 

Đoàn người đánh cá ngoài chân trời

Như những đảo nằm giữa biển khơi

Một con bướm lạc từ trong đất

Một cánh chim cũng thấy bồi hồi.

 

Cuộc sống lênh đênh trên bọt sóng

Người đánh cá lẫn trong biển rộng

Lòng hoà cùng nắng muối khơi xa

Gió có chở tình về trong lộng?

 

Bãi bờ ơi, ai xa không nhớ,

Sóng êm êm thức mãi tâm tình

Nôi nhớ len trong từng tiếng sóng

Len vào trong giấc ngủ trưa xanh.


    

Ôi những lều gianh và bãi lưới

Gió chiều xô nghiêng, nắng chiều rọi

Tiếng xa quay, tiếng trẻ đùa vui

Bóng bà già ôm cháu nhìn khơi.

 

Anh trai biển nhớ dáng người yêu

Nhớ dấu chân gió lùa trên cát

Ông lão sáu mươi đầu tóc bạc

Đá lên hơi nhớ khói cơm chiều.

 

Cánh buồm xa nhớ chéo áo con

Trưa nắng vàng phơi trên biển rộng

Gió thổi dậy lèo nghe tiếng võng

Ai ngồi khâu lưới dưới hàng thông.

 

1962

 

 

Trưa

 

 

Trưa nằm giữ rẫy

Chòi cao gió tràn.

 

Quả căng thớ ngọt

Theo tiếng chim hót

 

Con trâu nhai cỏ

Nghé ngủ hiền lành

Trời xanh đối mặt

Con mắt cũng xanh.


 

 

Tiếng búa vang động

Chùn chùn núi quanh

Suối quay cọn nước

Rào rào bãi gianh.

 

Lúa tràn thung lũng

Chảy dài như sông

Tiếng chim tu hú

Cũng tuôn thành dòng.

 

Trưa nằm giữ rẫy

Nghe đời rộn ràng

Ong bay như dậy

Nắng trưa mật vàng.

 

1959


 

Hoàng Sa

 

 Cát Vàng sóng chất ngất

Cụm đảo mù khơi

Mòng biển bay về kêu xé chiều tạm chiếm

Mây vẫn mây trắng trời

Thuở ông bà

Chớp biển làm ai mất ngủ


   

Cát Vàng

Ta muốn hò câu bá trạo(1) cầu ngư trên đảo

Đêm sáng trăng

Bắt con cá bay trên đầu sóng

 

Có mấy hôm bão động

Biển đánh chìm tàu câu cá ngừ

 

_________

(1) Hò cầu trời yên, biển nhiều cá.


 

 

Đảo có hay

Xác ngư phủ sóng hắt lên bãi vắng

 

Bao giờ

Ta hỏi biển bao giờ

Được đặt chân lên đảo

Đón mặt trời đội sóng lên

 

Đêm nhìn chớp biển

Chớp xa lắc

Biết nơi ấy Cát Vàng.

 

3/2013


   

Tiếng chim

 

 Nằm nghe tu hú kêu

Tiếng trưa bên kia hói(1)

Gọi câu thơ mùa hè

Gọi vải chín vườn ngoại.

 

Mê mãi tiếng chim xa

Cất bước đường trưa


   

Gặp khi mây trắng lắm

Chập chùng núi biếc tiếng chim

Chùm vải chín trên tay bé gái

Vừa ăn vừa cảnh giới đường

Nơi đây xóm núi

Cách đồn Tây một khoảng rừng

 

Có bữa đìu hiu

Qua đồn điền không chủ

Rừng vải chẳng còn cây

Chim kêu nhớ mùa cũ

Bữa ấy đi, lá chàm đổ

Mưa rừng theo đi

Tiếng chim ở lại


   

Chiến khu. Sông xanh dài

Vải rừng soi bóng quả

Tiếng chim bất chợt rơi

Trên mù sương thác đá

 

Tu hú, tu hú

Bao giờ lội hói về vườn cũ.

 ____

(1) Sông đào nhỏ


   

Thành phố tôi dạy học

 

Những con đường tĩnh lặng

Nắng gió trộn sa mù

Vài quán hàng bánh hỏi

Nép bóng dưới hàng dừa.

 

Thuyền cá vào cửa biển

Mang theo con sóng khơi

Sóng một thời Xuân Diệu

Vỗ đêm vạn Gò Bồi.

 

Biển trưa thật kỳ lạ

Xanh như thể đang yêu

Vẫn là ngọn gió mặn

Gây nhớ cả buổi chiều.


 

 Ơi thành phố dạy học

Ghềnh Ráng nơi đọc văn

Xót ông Hàn Mặc Tử

Đau buốt cả mùa trăng.

 

Gặp được bữa trời yên

Lang thang tận làng cá

Thoáng sau bóng lưới phơi

Tấm lưng trần biển cả.

 

Hẹn mãi chưa trở lại

Leo núi thăm tháp Chàm

Lắng nghe trong trưa rụng

Cái im lặng Đồ Bàn.


 

 Tiếng trống đồng

 

Vùi trong đất, một sớm

Mặt trời, mười bốn tia rung lên

Từng đàn chim cổ dài, cánh rộng

Nối đuôi nhau bay trong tiếng trống

Sóng dữ không, hai đầu thuyền vút cong

Vai chạm vai, dáo chạm dáo, cung chạm cung

Một tiếng trống nghe

Quân thù bạc tóc(1)

 ________________

(1) Trần Phu, sứ nhà Nguyên, sang nước ta năm 1293 đã than; “Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh” (Nghe tiếng trống đồng mà bạc cả tóc)


Âm vang lòng ta

Sông Mã có chồm lên, sông Mã

Ngọn lửa hai vỏ cây từ trong tầng sâu

Bùng kẽ lá

Chân đung đưa theo nhịp khèn rung

Hươu từng đôi hướng mặt trời chuyển động

Bước chắc nịch, dương sừng bầy bò mộng

Người hóa trang hình chim giã gạo chày đôi

Đoàn thuyền trận

Lao, dáo sáng ngời


 

 

Nét nguyên sơ rung lòng ta dữ dội

Như mặt trống Ngọc Lũ, Đông Sơn

Trong âm vang có ngọn sóng lừng

Trống đồng

Từng đàn chim bay đi mang lửa

Từng đàn chim

Bay lên từ đất cổ

 

 

Tháng tư hoa anh đào nở

 

Tháng tư

Hoa anh đào sẽ nở trên tro tàn

Trên thành phố sóng thần vò nát

Như hoa đã nở trên hố bom nguyên tử ở Hirôsima

Trong tháng hồi sinh nước Nhật

 

Tháng tư

Hoa anh đào hồng môi thiếu nữ

Ánh mắt người già

Da thịt em bé tìm được trong xó bếp

 

Hoa anh đào

Nói gì với loài người đang chia sẻ âu lo

Về hiểm hoạ phóng xạ trong đám mây ngọn gió

Về những lò hạt nhân Fukushima


   

Rút khỏi bờ

Con sóng thần hung hãn đã ngủ yên dưới đáy biển

Xin phút nguyện cầu: đừng bao giờ

Quay lại mảnh đất tột cùng đau khổ

 

Hoa anh đào nói gì, hoa ơi

Trước cô gái dựng lại ngôi lều của mình sau đổ nát

Phải không sức mạnh của đất nước mặt trời mọc

là con người

Đừng từ bỏ hy vọng

Hoa anh đào sẽ nở trên tro tàn.


 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 04/01/2019

Tin khác

NHÀ THƠ NGÔ MINHNHÀ THƠ NGÔ MINH
NHÀ THƠ XUÂN QUỲNHNHÀ THƠ XUÂN QUỲNH
ĐỊNH VỊ MỘT PHONG CÁCH VĂN CHƯƠNG ĐỘC ĐÁOĐỊNH VỊ MỘT PHONG CÁCH VĂN CHƯƠNG ĐỘC ĐÁO

Tin mới nhất

NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!
NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!

Cái thứ nước mắm này vô ảnh, vô hình, vô mùi, vô vị, nhưng nó có tác dụng rất xấu là làm rối tung thị trường nước mắm, gây khó cho hàng vạn ngư dân và người sản xuất nước mắm thủ công.

Sách mới

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019

viết bởi: Nhà xuất bản

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019
Chương trình nghị sự

viết bởi: Nhà xuất bản

Chương trình nghị sự
Ác quỷ Nam Kinh

viết bởi: Nhà xuất bản

Ác quỷ Nam Kinh