Nguyễn Trọng Tạo và những kỷ niệm về Thu Bồn

Vâng! Thu Bồn là một nhà thơ lính thực thụ. Anh tên thật là Hà Đức Trọng, sinh ngày 1.12.1935 tại Quảng Nam,

Viết bởi: Nguyễn Trọng Tạo

Vâng! Thu Bồn là một nhà thơ lính thực thụ. Anh tên thật là Hà Đức Trọng, sinh ngày 1.12.1935 tại Quảng Nam, nơi có con sông Thu Bồn cát trắng dâu xanh mà anh lấy làm bút danh để tạ ơn quê hương mình. Anh gia nhập quân đội cuối cuộc kháng chiến chống Pháp sau vài năm đi dạy học, và trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, anh bám trụ ở chiến trường Trung Trung Bộ cho đến ngày đất nước thống nhất mới về làm biên tập ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Anh là nhà thơ rất nổi tiếng với tập trường ca Bài ca chim Chrao (1964) được trích giảng trong sách giáo khoa, đoạt giải thưởng Hoa Sen của hiệp hội nhà văn Á-Phi và giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu. Anh đã xuất bản nhiều tập thơ, đặc biệt là đã in hàng loạt trường ca dài hơi như Cămpuchia hi vọng, Bazan khát, Oran 76 ngọn, v.v… đồng thời anh cũng là một nhà văn xuôi sung bút với nhiều tập tiểu thuyết viết về chiến tranh và cách mạng như Chớp trắng, Dưới đám mây màu cánh vạc, Xa cảng miền Tây, Đỉnh núi,v.v…

 

Thơ văn anh có thể ví với dòng sông đầy ghềnh thác, cuộn xiết và réo gọi. Tâm hồn anh luôn khỏe mạnh, vạm vỡ. Anh là một người khai phá trên các ngọn núi đời sống, cày xới tung lên cả đất tốt và đất sỏi bạc màu. Đất tốt và đất xấu anh đều gieo hạt văn thơ và gặt hái bội thu sau những mùa gieo vãi. Ngòi bút anh găm sâu vào những đề tài mang tính anh hùng ca, nhưng cũng chan hòa máu lệ trong những bi thương, đau khổ của kiếp người. Có lúc nghe anh ngâm thơ mà tưởng như anh đang khóc:

Lấy khăn mà gói bơ vơ
Tay cầm nước mắt sững sờ chiêm bao.

Có khi lại thấy anh như một kẻ đa tình tài hoa:

Thôi đừng cong nữa làn mi
Trời sinh con mắt khỏi đi đường vòng.

Nhà thơ Thu Bồn và bạn văn (2000) – Ảnh Nguyễn Đình Toán

 Trong một bài thơ tự họa tặng tạp chí Cửa Việt viết năm 1990, Thu Bồn tự nhận mình là “Con Xà Mâu tội nghiệp”.

Lấy xó tối cạnh nhà làm tổ ấm. Ta cẩn thận vòng quanh để bước vào giấc ngủ mà không bao giờ ngủ. Con ruồi lượn trước mắt ta, con kiến cắn bụng ta, con bọ chó chui vào mũi ta, con mèo đến giỡn cấu giấc ngủ ta.

… Ta là con Xà Mâu… làm sống giấc ngủ ngon của bao người chủ mới.

… Ta là con Xà Mâu xếp hạng cùng phường chó hoang, chó chạy rong, chó ghẻ, chó điên, chó ngộ… là mục tiêu cho những chiếc dây thừng… Những tay săn hồ bắn tỉa, nén vòng chịt tiếng sủa ta từ trong cổ họng – tiếng sủa trung bình trở thành phản phúc – con Xà Mâu bị mai phục giữa hai làn đạn chéo súng cực nhanh.

… Hãy cất giấu tiếng kêu vào bức vách trời xanh, ta nằm nghiêng trên bờ biển đông trên đầu muôn ngọn núi khỏa sóng lân tinh với trăng sao…

 Đấy là bài thơ Thu Bồn viết vào thời kì Đổi mới, ngẫm ngợi về con người mình, con người tự nguyện hiến dâng cho sự nghiệp, nhưng cũng là sự chia sẻ tận đáy lòng với những con người tận trung, tận hiếu. Tôi còn nhớ khi chúng tôi đưa in bài thơ này của anh trên tạp chí Cửa Việt, anh đã cảm động rơi nước mắt. Quả thật như vậy, Thu Bồn là một nhà thơ quân đội, không màng chức tước, bổng lộc. Anh sống thật với mọi người, ngang tàng, khí phách và thật giàu tình cảm. Cả đời anh xả vào thơ văn, ộc vào thơ văn và thăng hoa vào thơ văn. Nhờ thế mà thơ văn anh cuồn cuộn, bay bổng và khoan sâu vào tâm thức yêu nước yêu người…

 http://www.bricoelectric.com 

 4. Người ta thường tiếu lâm về cái tính tằn tiện của người khu Năm, nhưng với Thu Bồn thì khác. Có tiền là anh nghĩ đến việc tổ chức cuộc vui cho bạn bè. Hồi tôi còn ở Huế, Thu Bồn vào sống ở Sài Gòn, một dịp đi qua Huế, anh đưa một xe bạn bè vào nhà tôi và tuyên bố với vợ tôi là sẽ bày cuộc nhậu ở đây. Vợ tôi đang lúng túng vì tôi đang vắng nhà, anh bảo vợ tôi vào bếp nổi lửa lên, còn anh thì mang vào một lồng gà và mấy kí thịt bò mua dọc đường. Và Thu Bồn xắn tay lên làm bếp. Khi tôi về thì đã thấy một bữa tiệc linh đình bày ra trên sàn nhà lát gạch. Anh bảo tôi gọi bạn bè Huế đến nhậu. Nhậu xong, anh mang chiếc cát-sét ra bật nhạc lên và… nhảy. Thu Bồn thích nhảy những điệu nhảy Mĩ – Latinh, khiến cả căn phòng nhộn nhịp như một vũ trường.

Năm 1998, tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng dự hội nghị văn học miền Trung, ở cùng phòng với Thu Bồn. Tôi kiểm tra ví của anh. Anh bảo: “Thu Bồn giờ túi hết tiền, bút hết mực, súng hết đạn rồi. Buồn lắm!”. Tôi thấy thương anh quá, đưa anh ít tiền tiêu vặt. Sáng hôm sau, tôi cùng Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha đến thăm một tổng biên tập báo, được nhận một số tiền đặt viết bài. Chúng tôi gom lại đưa cho Thu Bồn. Anh cảm động lắm. Nhưng tối hôm đó, anh đã dùng tất cả số tiền ấy mua một chai rượu Tây loại xịn mở ra mời mọi người cùng uống. Tôi trách anh. Anh nói nhỏ nhẹ với tôi: “Tao thấy chúng nó thèm rượu quá mà chẳng đứa nào chịu chi. Hình như chúng nó cũng chẳng có tiền đâu Tạo ạ”.

 Lại nhớ một lần vào Sài Gòn, tôi rủ Thu Bồn đến quán bia 81 Trần Đức Thảo, nơi anh em văn nghệ vẫn thường lui tới. Tôi gọi một can bia hơi, Thu Bồn ngăn lại. Anh bảo chỉ gọi hai li và một đĩa đậu phộng thôi. Tôi ngạc nhiên. Anh bảo: “Ta chỉ gọi cò mồi thôi. Lát nữa chúng nó tới, không đủ sức mà nhậu đâu”. Quả đúng như vậy, một lát sau anh em văn nghệ tới, người gọi bia, kẻ gọi đồ nhậu cứ tưng bừng như nhà có đám. Trịnh Công Sơn vừa gọi 10 lon bia ken ứng với số tiền trong túi, thì Trần Tiến đã gọi một thùng đặt vào bàn rồi cáo lui vì có việc bận. Không biết trong cuộc nhậu, Thu Bồn đã hò hẹn thế nào mà tối hôm đó tại nhà Thu Bồn ở số 6 Đặng Thái Thân tụ hội gần 20 người bạn. Bữa tiệc ấy do anh làm đầu bếp cùng với mấy chị rất xinh đẹp đều là vợ của bạn anh. Lại đọc thơ, lại hát. Tôi còn nhớ, Trịnh Công Sơn khen bộ bàn ghế bằng gốc dừa của Thu Bồn thật dễ thương. Thế là sáng hôm sau anh thuê xe chở cả bộ bàn ghế ấy đến nhà họ Trịnh tặng bạn…

Ngày 17.6.2003, tôi về Huế dự lễ kỉ niệm 20 năm tạp chí sông Hương. Đêm thơ Sông Hương người ta ngâm thật hay bài thơ “Tạm biệt” của Thu Bồn khi biết tin anh đang hôn mê. Sáng hôm sau, đọc báo đã thấy tin anh qua đời. Tôi lại nhớ những dòng thơ tự họa “con Xà Mâu tội nghiệp”.

Ánh sáng róc rách, ánh sáng xoa bóp, ánh sáng vỗ về, ánh sáng râm ran mạch máu, ánh sáng tủy năng, ánh sáng hồng cầu, ánh sáng đại não, ánh sáng thần kinh – Ánh sáng là Em. Khối ánh trăng đã đọng thành da thịt, thành vai em, ngực em, đùi em, noãn sào (buồng trứng)… cả hằng hà sa số đợi chờ anh.

Vâng! Thu Bồn đã nhập vào ánh sáng, nhập vào vũ trụ. Anh nhập vào phía Nam anh hòa vào phía Bắc, anh bay về trong dâu xanh cát trắng nước trong của dòng sông quê mẹ hay trên những ngôi đền cổ xứ Cố Đô… Câu thơ của hai mươi năm trước anh viết khi xa Huế, giờ đã trở thành định mệnh của đời anh.

Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt

Vĩnh biệt anh, Thu Bồn – Hà Đức Trọng!

Huế, 19 – 6 – 2003

 --------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 Nhà thơ Thu Bồn (1935 – 2003) mất đi để lại một khối lượng tác phẩm đô sộ gồm bảy trường ca (Bài ca chim Chrao, Quê hương mặt trời vàng, Thông điệp mùa xuân, Người vắt sữa bầu trời, Oran 76 ngọn, Campuchia hy vọng, Badan khát), bốn tập thơ (Tre xanh, Mặt đất không quên, Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên, Ôi nhớ mưa nguồn); các tiểu thuyết (Chớp trắng, Hòn đảo chân ren, Dòng sông tuổi thơ, Đỉnh núi, Mắt bồ câu và rừng phi tiễn, Vùng pháo sáng, Cửa ngõ miền Tây, Em bé vào hang cọp)… tạo nên chân dung nhà văn, nhà thơ xuất sắc bậc nhất của văn học thời chống Mỹ.

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 25/06/2018

Tin khác

Haruki Murakami - Sự hâm mộ và nỗi thất vọngHaruki Murakami - Sự hâm mộ và nỗi thất vọng
Jeffrey Archer, nhà văn best seller trở lạiJeffrey Archer, nhà văn best seller trở lại
Hồ Dzếnh văn xuôi và chân trời buốt nhớHồ Dzếnh văn xuôi và chân trời buốt nhớ

Tin mới nhất

NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!
NƯỚC MẮM MẤT ĐOÀN KẾT?!

Cái thứ nước mắm này vô ảnh, vô hình, vô mùi, vô vị, nhưng nó có tác dụng rất xấu là làm rối tung thị trường nước mắm, gây khó cho hàng vạn ngư dân và người sản xuất nước mắm thủ công.

Sách mới

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019

viết bởi: Nhà xuất bản

Viết & đọc chuyên đề mùa xuân 2019
Chương trình nghị sự

viết bởi: Nhà xuất bản

Chương trình nghị sự
Ác quỷ Nam Kinh

viết bởi: Nhà xuất bản

Ác quỷ Nam Kinh