CÁI GỐC TRE LÀNG QUẢNG XÁ

Hình hài ông Duy chẳng khác cái gốc tre làng Quảng Xá quê ông ấy là mấy, gần gũi nhưng râu ria thì bén nhọn lắm.

Viết bởi: Lê Vạn Quỳnh

       Sinh viên Sư phạm Vinh chúng tôi thời chiến tranh sơ tán, khoa Hóa lúc ở Quỳnh Lưu, khi về Yên Thành, không có giảng đường như bây giờ. Nhớ nhất năm 1973, tại xã Đức Thành, học Hóa Vô cơ dưới ánh đèn dầu trong một cái lán mái tranh vách đất. Cuối buổi học, thầy Đặng Trần Phách người Hà Nội, chủ nhiệm khoa, đọc cho cả lớp nghe bài Tre Việt Nam(1) của Nguyễn Duy. Lời thơ dung dị, dễ nhớ, dễ thuộc. Cây tre như người dân Việt, dân tộc Việt thăng trầm qua ngàn năm bao thời vẫn cứ tươi xanh. Cảm nhận của tôi chỉ dừng lại thế. Lúc lên 9, 10, lũ trẻ chúng tôi cũng đã được học tùy bút Cây tre Việt Nam của Thép Mới, nhớ có đoạn “Nước Việt Nam có muôn vàn cây lá khác nhau, cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý. Nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa... Đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn”. Chúng tôi được lớn lên từ lúa nước, tre pheo, Nguyễn Duy và Thép Mới đã mang đến những cảm xúc đầu đời thật gợi. Ra trường, về Thanh Hóa dạy học thỉnh thoảng thầy Phách gửi thư thăm hỏi, sợ tôi quên thầy còn ghi lại bài Tre Việt Nam chữ thầy viết nhỏ mềm trên nền giấy ta - hồi ấy chưa có email và chưa có giấy Bãi Bằng. Năm 2008 tôi cùng học sinh trường Lam Sơn ra Hà Nội. Cuối buổi ôn thi hóa quốc tế, thầy đọc lại bài thơ. Nghe giọng thầy đã yếu, trầm và buồn hơn:

Tre xanh

xanh tự bao giờ

chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

 

Thân gày guộc lá mong manh

mà sao nên lũy nên thành tre ơi?

ở đâu tre cũng xanh tươi

cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu?

    Tre Việt Nam xanh tươi cùng Giáo sư Đặng Trần Phách gần bốn chục năm. Và cũng ngần ấy thời gian, tôi gặp lại Nguyễn Duy trong tâm trạng về quê lắng đọng mà thao thiết:

Rơm rạ ơi ta đã về đây

xin cúi lạy vong linh làng mạc

bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc

ông và cha man mác kiếp trâu cày

 

Rơm rạ ơi ta đã về đây

ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng

cỏ áy vàng bãi tha ma vắng

lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà

(Về Đồng)

 

Nhà thơ Nguyễn Duy

     Nguyễn Duy người ven thị. Thị thành đấy nhưng vẫn còn nguyên sơ chất đồng bãi. Làng tôi và làng ông cách nhau hơn một sải cánh cò. Tôi như gặp lại một phần đời mình đã vơi đi theo năm tháng trong từng câu chữ gốc cây hòn đá cũ càng / trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay, thấy lại người thân trong lam lũ thường nhật giục nhau bước thấp bước cao ra đồng. Rồi người cha hiện ra với triết lý bình dị về sự được / mất trong cõi nhân sinh không răng… cha vẫn cười khì / giàu nghèo có số nghĩ chi cho rầu (Về Làng), hay tình yêu thời trai trẻ khờ khạo mà đằm thắm thiết tha:

Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại

để dành thành mất cắp cả tình yêu

thế là ta mồ côi em mãi

cái vu vơ chết đuối dưới sương chiều

(Một góc chiều Hà Nội)

Cứ thế cứ thế… thơ ông tươi mới nồng nàn đầy ám ảnh ùa vào tôi như cơn gió lạ.

   Đọc Nguyễn Duy, thấy như danh tiếng ông được xác lập từ những bài thơ về đất nước, con người: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Đò Lèn, Cầu Bố… rồi: Nhìn từ xa…Tổ quốc, Đánh thức tiềm lực,… thật mạnh mẽ và táo bạo. Ta còn gặp ông, dung dị mà láu lỉnh trong những vần thơ về đời sống rất bụi của kiếp người. Với chủ đề này, có giai đoạn ông làm thơ như lên đồng, thô mộc mà sâu sắc như câu vè câu hát, rất nhiều bài thơ ra đời như tờ rơi trên phố: Rượu cuội, Tây Hồ phủ, Võng trăng, …rồi hàng loạt bài thơ mà nhân vật là những con người không được may mắn, có số kiếp bé mọn: Chú bé đi bụi nằm khoèo dưới mái hiên lắng nghe pháo tết, người ăn mày lỏng khỏng hình cây, em điếm ế đón giao thừa bên gốc cây, bà bới rác nằm co ro gầm cầu. Chu Văn Sơn gọi đó là thế giới của “cõi chúng sinh thì hiện tại”.

     Vào giữa những năm 80 thế kỉ trước, đất nước bước vào thời kì kinh tế đổi mới, văn hoá - văn nghệ theo đó cũng được cởi mở. Tiếng Việt nhiều từ bận rộn nội hàm có chất vỉa hè, nó đã đi vào tận cơ quan, công sở, tạo nên trong đó cái nhộn nhịp đời thường. Xin dẫn ra vài trường hợp. Từ cực trước đây thường nằm trong cụm từ: cùng cực, cực khổ, cơ cực,.. thì lúc đó lắm khi lại đứng một mình để chỉ cái tuyệt đỉnh, cái tột cùng mĩ mãn “Bé này xinh cực!”, “Con xe kim vàng giọt lệ này cực (tốt) lắm!”; hay cụm từ “vô tư” ngoài nghĩa thông thường, người ta còn dùng để biểu thị thái độ, cử chỉ dễ dàng thoải mái “Mai, đãi tớ món chả tôm nghe?”, “Cậu vô tư đi!”, ý muốn nói việc đó thật dễ, chẳng mấy băn khoăn. Nguyễn Duy đã có hẳn một “Vô tư” ngôn từ đậm chất vỉa hè:

...

Mình vô tư với ta đi

vô tư nhau chả cần chi nhiều lời

 

Vô tư thế chấp đời người

trắng tay còn chút coi trời bằng vung

 

Luật chơi cấm kị nửa chừng

vô tư đặt cọc tận cùng chiếu manh

       Thời ấy khắp vùng đô thị trong Nam ngoài Bắc nổi lên phong trào cơm bụi bia hơi. Hoà trong nhộn nhạo đám đông ấy, Nguyễn Duy sống và viết cảm hứng thật long lanh, khúc ca tráng lệ và chữ “cực” cũng thật khác thường:

Xa nhau cực nhớ cực thèm

ai về Hà Nội gửi em đôi nhời

 

cô đầu thời các cụ chơi

ta đây cơm bụi bia hơi lè phè

cực kì gốc sấu bóng me

cực ngon cực nhẹ cực nhoè em ơi

 (Cơm bụi ca)

    Có lần vui chuyện Nguyễn Duy kể, ông ra Hà Nội được mấy bạn thơ rủ tới quán cơm bình dân nói là để thưởng thức cơm bụi bia hơi Hà thành xem khác Sài Gòn chỗ nào. Lúc vào độ cao hứng, ông đọc tặng mọi người Cơm bụi ca mới sáng tác, một lời “tự thú” thật hào sảng. Lúc chia tay, bà chủ quán xin ông địa chỉ và mong được gặp lại. Sợ vuột mất cơ may, ngay tối hôm đó, bà đã tìm đến nhà em gái Nguyễn Duy, xin được trò chuyện và nhờ ông viết bài thơ đọc khi sáng vào một tờ giấy khổ lớn, nói là xin nhà thơ làm kỉ niệm. Ông cười vui vẻ rồi viết như khắc, nét chữ cẩn thận điệu đà thường thấy ở lớp học trò hơn bốn chục năm trước. Nguyễn Duy không ngờ trang giấy ghi bài thơ cùng bút tich của mình lại được lồng vào khung kinh và treo thật ngay ngắn trong một quán cơm bình dân Hà Nội. Mỗi lần ông ra Thủ đô đến quán, chủ nhà mừng rỡ đón nhà thơ như duyên may làm ăn lại đến. Như vậy, cái ồn ào bụi bặm của đời sống đã ùa vào thơ Nguyễn Duy, cực đã trở nên lung linh biến ảo, màu vị khác thường. Sự hấp dẫn bền lâu của thơ ông trong lòng người đọc, trước và sau hết, cũng vẫn là cực nhưng đó là cực về tâm trạng, cực về tầm nhìn, cực về sức xuyên phá cùng những dự cảm lớn lao trong một thế giới biến cải vô chừng.

     Phải chăng Nguyễn Duy đã cạn nguồn cảm xúc trong những vấn đề lớn lao của thời đại để về với bụi nhân sinh. Một lần ông đọc thơ tại Thư viện tỉnh nhà, người nghe rất phấn chấn hồ hởi trước những bài thơ bụi của ông. Thấy vậy, nhà thơ Văn Đắc người dẫn chương trình khuơ cả hai tay cười chọc ghẹo bạn mình: “Thưa các vị, ông Duy làng ta đang ném thơ xuống dưới vỉa hè đấy!”. “Không, không phải thế! Ngược lại tôi đang nâng thơ lên vỉa hè đấy ạ!”. Ông mủm mỉm cười đáp trả. Rõ ràng như chúng ta đã biết, Nguyễn Duy dấn thân có chủ đích, đã lang thang để kiếm tìm những vẩy vàng lấm tấm bụi đời, và ông đã giải mã căn cốt mình trong đoạn cuối bài thơ “Cơm bụi ca”:

Đừng chê anh khoái bụi đời

bụi nhân sinh đấy bụi người đó em

Xin nghe anh nói cực nghiêm

linh hồn cát bụi ở miền trong veo

     Có một thời và cũng một số người linh thiêng hóa thi ca, siêu nhân hóa người làm thơ, tự cách li nó với đời sống phàm tục, với những kiếp chúng sinh bé mọn. Hai nhà thơ nhắc tới hình tượng vỉa hè như một lời nhắn, một tâm nguyện cho thi ca sự phát triển tự nhiên tại chính cái nơi nó sinh ra và trở về. Trong bài thơ Lời nhà cao tầng, nhà thơ Văn Đắc nhận ra ngôi nhà cao tầng bằng bê tông sắt thép trên phố nhờ có tiếng ghi ta vọng ra từ cửa sổ, ngân vào không gian mà trở nên có số phận, tiếng đàn Rủ thành phố lên / ngả bóng xuống vỉa hè lấm láp để hóa thân thành sinh linh biết nói: Ta làm cây của phố có linh hồn. Có lẽ khi nghe Nguyễn Duy nói về bụi đời, bụi người, nhà thơ Văn Đắc liên tưởng rồi mộng du đâu đó cái vỉa hè lấm láp như nhiều số phận đơn côi mà ông đã gặp trong đời.

     Lần đầu, tôi gặp Nguyễn Duy lúc ông ghé quê sau khi nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học tại nhà riêng của Mai Thế Dương; anh là đôi bạn con dì với Nguyễn Duy, sân vườn nhà Dương khá rộng cạnh chân cầu Hoàng Long -TP. Thanh Hoá và đây cũng là nơi công ty gia đình anh bán và cho thuê máy công trình. Nhiều xe cẩu, cái đặt ngang, chiếc để dọc chật cả lối đi. Những cánh tay thép giơ cao ra phía quốc lộ 1 như chào đón khách đến nhà. Lúc xuống xe, thấy quang cảnh như vậy, Nguyễn Duy cười lớn “Thanh Hóa đón Giải thưởng Nhà nước của mình bằng cổng chào cũng như cánh tay thép vươn cao thế này thì tuyệt thật!”. Phòng khách đã rất đông quan chức, bè bạn. Trong đó tôi thấy có ông Mai Văn Ninh Chủ tịch tỉnh, Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch huyện Hà Trung quê ngoại Nguyễn Duy. Tiệc rượu có đủ thứ đồ rừng, đồ biển, nhưng xem ra Nguyễn Duy chỉ thích món lạc luộc, bánh đa, đương nhiên cùng rượu trắng chai nút lá chuối khô. Tiệc sang trọng nhưng sao tôi thấy cái chất tam nông ở ông vẫn hiển hiện, khiến tôi thấy quý mến gần gũi vô cùng.

     Khoảng trung tuần tháng 11/2011 kỷ niệm 80 năm Collège de Thanh Hóa - Đào Duy Từ - Lam Sơn, trong dòng người đổ về trường, nhà thơ Nguyễn Duy có một lối về, một việc làm khá đặc biệt, dự hội trại và nói chuyện thơ cùng học sinh vào đêm trước lễ kỷ niệm. Đến với hội trại, ông đi trên con đường trải bê tông (đường phố Tịch Điền bây giờ), dưới đó là con mương nhỏ mà ông đã từng nhớ tiếc bâng khuâng:

Em còn đi ngang dòng nông giang

hòn đá tảng kê làm bậc rửa chân

anh cất giấu tuổi trẻ mình ở đó

   (Gửi về trường Lam Sơn)

     Ông vội bước cho kịp giờ dự hội trại và có lúc lặng đi trên sân trường, dưới lớp đất cát có viên sỏi xanh rất nhỏ ẩn chứa thương nhớ một thời. Một buổi tối đầu đông chớm lạnh, học sinh Lam Sơn sẽ khó có dịp gặp lại trong đời - các em được trực tiếp giao lưu với người trò cũ của trường, nhà thơ nổi danh trong làng thơ Việt. Những Tre Việt Nam, Ánh trăng, Đò Lèn, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa..., thơ Nguyễn Duy từ tấm bé qua bài giảng thầy cô, đã theo các em đến tận bây giờ.           Trên sân khấu buổi giao lưu, ông ngồi trong ghế mây, dưới ánh lửa trại, bên cạnh người dẫn chương trình (M.C.) cũng là cựu học sinh nhà trường. Khi nói chuyện cùng học trò, trong thế đứng thẳng, giọng ông ấm và truyền cảm khi kể chuyện quê hương qua thơ về bà: Đò Lèn, về mẹ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, về cha: Cầu Bố và cuối cùng là bài thơ Gửi về trường Lam Sơn. Tiếng vỗ tay dường như không muốn dừng lại sau đoạn thơ ông đọc:

Chiến tranh đi qua thời trai anh đi qua

những ngả đường đạn bom mịt mù thăm thẳm lắm

về lại trường xưa tìm lại chút ngày xưa

   Cảm động nhất lúc chia tay, các em vây quanh xin ông cùng chụp ảnh. Tôi thấy Nguyễn Duy như trẻ lại khi đứng bên các trò tuổi 17, 18. Rồi ông gửi tặng các em chữ ký trong sổ tay, trên lưng áo. Lúc ấy 11 giờ đêm, phụ huynh đón con em khá đông, ô tô xe máy xe đạp chật cả cổng trường. Thấy vậy, tôi phải rất cố gắng mới giúp ông thoát khỏi vòng vây học trò. Đến tận cuối dãy nhà xe, xa ánh điện, ông vẫn còn kịp ký vào trang vở một học trò nam chạy theo. Một chữ ký tặng trong đêm. Tôi nghĩ chữ ký không bị lệch đi dù lúc đó trời khá tối. Tôi chỉ được đọc, được nghe nhiều người ca ngợi các nhà thơ trên mặt báo, bằng thơ đề tặng, bài viết phân tích tác phẩm hay chân dung văn học, còn tận mắt chứng kiến sự ngưỡng mộ của học trò đối với một nhà thơ thì chưa từng thấy. Không phải sau đêm hôm đó, hai chục năm trước, năm 1991 ông đã có bài thơ với tựa đề khá ngộ nghĩnh Kính gửi tuổi học trò:

Học trò con trai ma quỉ

học trò con gái thần tiên

thầy xếp thần tiên ngồi kèm ma quỉ

Bén hơi ma quỉ ghẹo thần tiên

lập loè đom đóm vĩnh cữu

ô mai đổi kẹo bạc hà

...

Câu chuyện học trò không đầu không đuôi

tình ý học trò quả me chua loét

lưu bút mùa hoa phượng cháy không nguôi

 

Lá thư học trò vu vơ dấm dúi

nỗi nhớ học trò chấp chới suốt đời nhau

đẹp như là không đâu vào đâu

     Nguyễn Duy có lần trả lời hai bạn đọc Phạm Hoàng - Đỗ Quyên, ông nói sống sót sau cuộc chiến là có lãi rồi. Ông tạ ơn cuộc đời bằng những việc làm, những vần thơ thương mến đến tận cùng chân thật. Ân phúc từ đời sống đã mang lại cho ông tình cảm, sự ngưỡng mộ của một bộ phận công chúng, đặc biệt lứa tuổi học trò ma quỷ lẫn với thần tiên. Kính gửi tuổi học trò, Nguyễn Duy trịnh trọng thành kính cùng thương nhớ tuổi học trò của mình một đi không trở lại. Thơ Nguyễn Duy hướng tới những vấn đề lớn lao của đất nước, của dân tộc, chạm vào cái to tát của đời sống nhân dân, của cõi người còn trong đời thường với chúng ta ông gần gũi như cây lá vườn nhà. Đã qua cái thời nhổ mạ, cuốc đất gánh thóc gánh phân, làm dân quân, nuôi lợn trên tầng 4 chung cư ở Sài Gòn sau giải phóng rồi tự nhận là thường dân làm thơ. Cuộc sống của ông giờ đã khác nhưng cái mộc mạc, chân thành của người quê, tính khí táo bạo đầy chất lính thì vẫn vậy. Nhớ nhất, lần tôi dự cuộc nói chuyện thơ của Nguyễn Duy tại hội trường có khá đông người dự là quan chức đầu tỉnh và người hâm mộ, ông không vào cuộc kiểu thưa kính lễ nghi thông thường mà đưa mọi người vào một trật tự, một mê cung mà tại đó người nghe như bị ma mị trở thành những thi hữu đích thực. Thơ với chủ đề tình duyên, tình tang được ông đặt lên đầu buổi nói chuyện, sức nặng dồn vào những bài thơ chứa chan tình đất nước. Ông nói xứ Thanh là nói về mình, con cháu mình, bà con mình nên không dè xẻn ngôn từ ngẫm ngợi ý tứ mà tự hào, mà xót xa đắng đót trong câu ca:

Oai hùng Thanh Hoá là đây

Vua thì cũng lắm ăn mày cũng đông

     Suốt nghìn năm phong kiến, vua chúa có nguồn gốc xứ Thanh trị vì tới gần năm trăm năm. Được làm vua thua làm giặc, kiêu binh Thanh - Nghệ làm loạn kinh kì thời Lê - Trịnh rồi thỉnh thoảng Nguyễn Duy gặp người ăn mày đồng hương ngay tại lối vào khu chung cư nhà mình… Nét bi tráng của lịch sử, kì bí của núi sông cứ thế tụ lại cho con người nơi đây một tính cách. Không thể phủ nhận, sự hưng vong của đất nước, gần nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và dựng xây trong hoà bình, Thanh Hoá đất rộng người đông đã góp sức người, sức của rất to lớn, nhưng những biến thể, lai tạo sau mỗi thành công cũng thật nặng nề. Nguyễn Duy kể có lần một chức sắc đầu tỉnh trong lúc tửu hậu trà dư đã ao ước muốn đặt lên đỉnh núi Rồng cạnh bờ sông Mã một bảo tàng ghi dấu chiến tranh để tưởng nhớ một thời người Thanh Hoá chiến đấu, hi sinh và chiến thắng. Tại đó sẽ có tượng người với gậy gộc liềm búa và gươm súng khí thế ngất trời. Bảo tàng trên đỉnh non Rồng - một ý tưởng độc đáo! Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Hoàng Tuấn Phổ trong cuốn Núi Rồng - Sông Mã (2) đã viết: “Núi Rồng có nhiều ngọn, hòn cao hòn thấp liên tiếp uyển chuyển như rồng uốn khúc”, “Núi Rồng với hình tượng đầu rồng có đỉnh là ngọn thứ 99. Chân núi ở đầu phía tây cầu sắt Hàm Rồng được người Pháp làm cách đây gần 90 năm, treo lơ lửng trên dòng sông Mã nối tai Rồng (núi Rồng) với chân Ngọc (núi Ngọc)”. Bây giờ, cầu Hàm Rồng có nhiều trụ bê tông đã thay cho cầu treo, dành chủ yếu cho xe lửa, nó nằm song song với cầu Hoàng Long trên quốc lộ 1. Phần đáy sông nơi đây có thể đã vùi lấp một phần động Hàm Rồng và có thể những bài thơ chạm khắc trên đá của Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Phan Huy Ích,… còn đang ẩn dấu đâu đây? BẢO TÀNG CHIẾN TRANH trên đỉnh non Rồng – một ý nghĩ mạnh mẽ và táo bạo ?. Và cũng trong buổi nói chuyện thơ này, với tính cách táo bạo của người lính, tình yêu thi ca dâng tràn, Nguyễn Duy đã nguyện cầu thay nó bằng BẢO TÀNG THI CA. Những tảng đá, phiến đá lấy từ núi Nhồi như đang còn phả ra hơi nóng tinh khí của nền văn hóa Đông Sơn sẽ được đục khắc thành tượng anh hùng, thi nhân, chạm khắc các bài thơ của thi sĩ xứ Thanh: Lê Thánh Tông, Trịnh Sâm, Lê Quát, Tống Duy Tân,… rộng ra nữa thơ là Thần trên sông Như Nguyệt, Cáo Bình Ngô, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Tản Đà, Xuân Diệu,… Cũng trong tác phẩm Núi Rồng - Sông Mã, hơn 20 năm trước nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Hoàng Tuấn Phổ đã ao ước thế hệ các nhà điêu khắc mai sau hãy tạc hình ảnh của tác giả bài Hò sông Mã một kiệt tác âm nhạc dân gian là anh trai đò - anh cầm mái chèo như cây siêu đao, cưỡi lên mình con long mã vượt qua đỉnh thác chinh phục dòng sông. Ông muốn pho tượng sẽ được đặt trên đỉnh non Rồng nhìn xuống dòng sông đang hất bờm ngựa trắng (Sông Mã hất bờm ngựa trắng / Nước xiết nhanh như bạt mố cầu - Xuân Diệu). Xin hậu thế hãy dành cho anh trai đò sông Mã một vị trí trong BẢO TÀNG THI CA trên đỉnh non Rồng.

     Nguyễn Duy chọn THI CA thay vì GƯƠM SÚNG. Xin cầu mong cho ý nguyện của ông sớm thành hiện thực!

    Về thần thái Nguyễn Duy nhiều người đã phác họa. Với Trịnh Công Sơn, hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng (3) tả Nguyễn Duy lùn, mập, mặt vuông, bàn chân bè, bàn tay chai sạn gân guốc.. toàn những chi tiết chống lại thế giới nội tâm nhà thơ... đúng là ẩn tướng. Ông ví Nguyễn Duy như con ngựa trong tàu lúc nào cũng nghe cái gõ lộp cộp, nó như con ngựa sung sức… Đôi chân đi không biết mỏi, quan sát thấy Duy đãi người bằng tấm lòng nhân hậu học hỏi hay khuyên răn, nhờ cậy hay giúp đỡ, chia xẻ hay cưu mang… đều là chân thành. Sinh hoạt đạm bạc mà vẫn vui vẻ, cái vui vẻ chân thành. Thi sĩ thảo dân, thảo dân thi sĩ là slôgân Chu Văn Sơn quảng cáo về ông. Nhà thơ Văn Đắc lại nói vui, Nguyễn Duy là thảo khấu đời nay theo nghĩa anh nông dân khởi nghĩa bằng thơ. Hôm rồi, tôi gặp nhà văn Từ Nguyên Tĩnh không rõ ý của ông hay mượn lời người khác khi ông hóm hỉnh cười: Hình hài ông Duy chẳng khác cái gốc tre làng Quảng Xá quê ông ấy là mấy, gần gũi nhưng râu ria thì bén nhọn lắm. Khi đọc các bài thơ hạng nặng của Nguyễn Duy lắm lúc ta phát sốt lên bởi những ý tưởng, những kiến giải về thế sự, về chiến tranh / hòa bình, chính nghĩa / phi nghĩa, rồi được và mất. Thực tại đất nước sau chiến tranh nhiều người biết mà không thể nói ra, còn Cái rễ tre làng Quảng Xá - xứ Thanh cứng và nhọn đã thật sự đã làm văn khí một dạo trong nóng ngoài lạnh:

Thời hậu chiến ta vẫn người trong cuộc

xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày

Xứ sở nhân tình

sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu

nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện

ma cụt đầu phục kích nhà quan

(Nhìn từ xa... Tổ quốc)

Và ao ước đơn sơ bình dị của CON và NGƯỜI trong lẽ tồn tại không thể nén mãi trong lòng:

Không thể nói rằng ta bất cần

ta cần sống và cần đủ thứ

cần dinh dưỡng cần khí thở

cần giấc mơ nõn ngọn rau xanh

cần phút lặng thinh mặc niệm những mối tình 

quan họ

những người tình không hôn phối bao giờ

(Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ)

hay lời cảnh tỉnh gây sốc một thời:

xưa mẹ ru ta giấc ngủ ngon lành

để khôn lớn ta hát bài đánh thức

có lẽ nào người lớn cứ ru nhau

ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt

                                       (Đánh thức tiềm lực).

    Sự sắc nhọn đến mức khác thường, tính thức tỉnh làm nên cao độ hấp dẫn của thơ ông trong các chủ đề nóng và tự nó cũng gây ra cho ông không ít những phiêu diêu lần hồi. Nhìn từ xa… Tổ quốc, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ đưa vào tuyển tập Thơ Nguyễn Duy chậm hơn dự kiến. Đánh thức tiềm lực được sáng tác năm 1980 sau hai năm mới hoàn thiện và in lần đầu ở báo Văn Nghệ Đồng Nai 1984 nhưng mãi đến 1986 mới đăng trên báo Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh hưởng của bài thơ không chỉ có vậy. Nguyễn Duy có lần vui chuyện kể, năm 1983 trong lễ kỉ niệm ngày học sinh sinh viên Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, ông cùng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và một số văn nghệ sĩ được mời dự. Tại buổi lễ, Nguyễn Duy đọc bài thơ Đánh thức tiềm lực lần đầu trước đông đảo công chúng. Đám đông người nghe lúc lặng yên khi dào lên như động biển. Cũng tối hôm đó, nhiều người đã ghi âm giọng đọc của ông rồi chế thành băng đĩa đem phát tán. Có anh cán bộ văn hoá ngoài Bắc giọng trọ trẹ mang băng về cho vào đài cassette rồi hồn nhiên mở to để cả cơ quan thưởng thức. Vài năm sau, trong một lần công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, anh ta tìm tới tận chung cư tặng Nguyễn Duy chai rượu làng Quảng Xá. Anh bảo, đi Hà Nội nghe nói rượu quê ông đặc biệt, tôi cho xe dừng ở cầu Bố mua dăm chai coi răng. Lúc chia tay ông, anh ta nói giọng buồn buồn, Đánh thức tiềm lực của ông làm tôi lên bờ xuống ruộng mất gần một năm. Lạ quá, mới quá, thật khó nuốt. Ông chắc không ngờ, cũng vì bài thơ Đánh thức tiềm lực của ông được ghi âm vào băng đĩa dạo ấy mà tôi đã phải nhiều lần phải viết tường trình sự việc xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật trong lễ kỉ niệm, không hề bị ai xui khiến mới thoát. Nguyễn Duy bảo khi đó chỉ còn biết cười trừ với anh bạn yêu thơ mình mà thôi. Nhưng tựu trung lại, tôi vẫn rưng rưng vô hạn cảm xúc và tư tưởng như mặc niệm trước bài thơ sau đây của ông:

       Đá ơi…

Ta mặc niệm trước Ăngko đổ nát

đá cũng tàn hoang huống gì kiếp người

             Đá ơi

xin tạc lại đây lời cầu chúc hòa bình

 

Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh

phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

    Bài thơ này, Nguyễn Duy làm vào ngày cuối cùng quân tình nguyện Việt Nam về nước - 29/8/1989 - Sau khi giúp nhân dân Campuchia thoát nạn diệt chủng, khi đó ông đứng trước khu đền Ăngko đổ nát bởi chiến tranh cùng hoang phế của thời gian. Những câu thơ trong bài thơ Đá ơi!... được đục khắc theo bút tích của tác giả trên một phiến đá. Về chuyện phiến đá, Nguyễn Duy kể, mình đến hiệu khắc đá gần cầu Bố, sát kề Ngã Ba Voi. Ông chủ hiệu bảo đá lấy từ núi Nhồi xứ địa linh nên giá hơi bị đắt. Mình có ý định mang phiến đá đặt trong triển lãm “Thơ Nguyễn Duy” tại Thanh Hoá tháng 3/1998, bên cạnh những cột kèo nồi đất, cối đá chum vại, rổ rá rành mẹt… trên đó la liệt những câu thơ, trang thơ, bài thơ. Phiến đá sẽ có vị trí đặc biệt không những do nội dung bài thơ mà tảng đá, thợ khắc đá cùng tác giả đều gốc quê Thanh. Triển lãm kiểu này, trước và sau này, đã được tổ chức tại Hà Nội và một số nước như Singapo, Mỹ, Đức. Ngày mai vào việc, mình gặp ông Đỗ Hữu Thích, Trưởng ban Tuyên giáo Tinh uỷ để rà soát lại công việc. Ông Thích là chỗ thân tình, bà xã mình là lính ông ấy khi ông ấy còn làm Chủ nhiệm Thư viện tỉnh. Đỗ Hữu Thích tính tình cởi mở dễ gần, hôm đó cứ thấy đi ra đi vào có vẻ căng thẳng, mặt trông phiền muộn bất an thế nào ấy. Thấy vậy mình hỏi thật, ông xem công việc ngày mai có cần thêm bớt gì không, nói cho anh em làm? Như trút được gánh nặng, Đỗ Hữu Thích trầm giọng thật nghiêm trọng, phiến đá, vẫn là chuyện phiến đá có khắc bài thơ “Đá ơi!” của cậu, tớ thấy không ổn. Xong việc, cậu đi ai sẽ là người gánh chịu chỉ trích của công luận. Mới lại, tớ cũng thấy bài thơ có vấn đề, sau này được, bây giờ không được, hay ta để dịp sau trình làng có phải hơn không? Thấy việc khó vượt qua lại có thể gây phiền toái, sáng hôm sau mình cho mặt phiến đá có khắc bài thơ Đá ơi!...  úp vào tường nhà triển lãm. Cũng may, trong cuộc chơi thơ đó, khách xem không biết chuyện, nếu biết họ hiếu kì sẽ làm lôi thôi cho ông Thích. Xong triển lãm, Nguyễn Duy Diệu em trai mình mang phiến đá về đặt ở cạnh chuồng lợn gần bờ ao dưới nhà. Tưởng thế đã yên, một lần xuống chơi, nhà văn Kiều Vượng xin đem về đặt cạnh “Miếu Cây Bàng” trong khuôn viên của trụ sở Văn phòng đại diện báo Văn nghệ khu vực Bắc miền Trung. Kiều Vượng còn cho đặt bên phiến đá bát nhang. Có thể nói, trong nền thơ đương đại, đây là bài thơ khắc đá kêu gọi hoà bình được thờ phụng đầu tiên ở Việt Nam. Dư luận rộ lên một thời, kẻ bất bình người ủng hộ, bạn văn có người khuyên hiện tại vấn đề nhạy cảm chưa nên đặt tảng đá ở đây, nhưng thấy khói hương nghi ngút từ những bát nhang nên đành thôi. Rõ ràng, phiến đá khắc bài thơ Đá ơi! có hành trình long đong số kiếp, khi im lỳ thô tháp tăm tối khổ ải, lúc rạng rỡ khói hương trong thành tâm thờ phụng. Nói đến ý nghĩa bài thơ Đá ơi !, trả lời hai bạn đọc Phạm Hoàng và Đỗ Quyên, Nguyễn Duy viết: “Tôi nói điều này với tư cách một người trong cuộc chiến tranh đi ra đã chết hụt không dưới mười lần… Cho nên bài thơ này đối với tôi là một lời cầu nguyện”. 

       Thì ra một câu thơ, một áng văn cũng như tảng đá gốc cây đã được ông Trời tiền định, nó có thể yên ấm trong tháp ngà, trưng diện nơi xa hoa cung điện hay lẩn khuất bên lối mòn cỏ dại - phiến đá vô tri bỗng trở nên hồn cốt khi có thơ ám vào. Thần thái Nguyễn Duy được ví với gốc tre làng Quảng Xá quê ông là cách nói hài hước có phần láu lỉnh của nhà thơ họ Từ, nhưng lại cho ta liên tưởng tới Tre Việt Nam điểm phát lộ vỉa quặng thơ xứ Thanh hơn 40 năm trước, nó đã gợi lên sự cứng cáp xanh tươi và có chỗ sắc nhọn như rễ tre của Thơ Nguyễn Duy mỗi lần đọc lại.

 

                                                                                                                     Tháng 7 năm 2014

 

  (1).  Tre Việt Nam, bài thơ trong chùm thơ đoạt giải nhất tuần báo Văn nghệ - 1972/1973. Các bài thơ trích dẫn trong bài viết này được lấy từ Thơ Nguyễn Duy - NXB Hội Nhà văn - 2010.

 ( 2).  Núi Rồng - Sông Mã - Hoàng Tuấn Phổ - NXB Văn hoá – 1993

  (3).  Nhà thơ Nguyễn Duy - Collège de Thanh Hoa - Đào Duy Từ - Lam Sơn 80 năm 23 nhân vật nổi tiếng - Lưu Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Ngôn - NXB Thanh Hoá - 2011

 

 

Bài viết được xuất bản trên trang web chính thức của

NXB Hội nhà văn vào ngày: 22/07/2020

Tin khác

NHÀ THƠ TRẦN QUANG QUÝ: KHÔNG AI BỨNG TÔI ĐƯỢC KHỎI CỐ HƯƠNGNHÀ THƠ TRẦN QUANG QUÝ: KHÔNG AI BỨNG TÔI ĐƯỢC KHỎI CỐ HƯƠNG
NHÀ THƠ GIANG NAM: QUÊ HƯƠNG TRONG DÁNG EM CƯỜINHÀ THƠ GIANG NAM: QUÊ HƯƠNG TRONG DÁNG EM CƯỜI
NHÀ VĂN NGUYỄN THÀNH LONG, NGƯỜI TRẦM LẶNGNHÀ VĂN NGUYỄN THÀNH LONG, NGƯỜI TRẦM LẶNG

Tin mới nhất

Điệp khúc xuân dâng người
Điệp khúc xuân dâng người

Có lẽ những câu thơ hay của Văn Diên trong chữ, trong vần gặt hái từ dòng sông Hồng quê mẹ, tạo lên những hạt thơ như hạt phù sa lấp lánh long lanh, lại như tiếng chuông chùa để lại dư âm trong lòng tôi và trong lòng bạn đọc...

Sách mới

Điệp khúc xuân dâng người

viết bởi: Lê Hồng Thiện

Điệp khúc xuân dâng người
Bài toán khó tâp 1, 2

viết bởi: CAO NGỌC THẮNG

Bài toán khó tâp 1, 2
Về miền thinh không

viết bởi: Nguyễn Quang Thiều

Về miền thinh không